Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Bí mật thành Pari

- 0 / 0
Nguồn: https://ebooknhanh.com
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 10h:16' 20-11-2025
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 10h:16' 20-11-2025
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
BÍ MẬT THÀNH PARIS (TẬP
1)
Nguyên tác: Les Mystères de Paris (1842–43)
—★—
Tác giả: Eugène Sue
Dịch giả: Nguyễn Xuân Dương & Lâm Phúc Giáp &
Hoàng Tiến Hành & Lưu Đức Hiên & Cao Hữu Nhu
NXB Hội nhà văn & Phúc Minh – 2020
Nguồn: VCTVEGROUP
Chuyển text: Blue Rose & Caruri
LỜI GIỚI THIỆU
Từ tháng 6 năm 1842 đến tháng 10 năm 1843, người dân
và giới trí thức Paris hồi hộp ngóng chờ tờ báo Le Journal
des débats mỗi ngày để đón đọc phần mới nhất trong bộ
tiểu thuyết Bí mật thành Paris của nhà văn Eugène Sue.
Câu chuyện phiêu lưu hồi hộp, li kỳ của Rodolphe – một
Đại công tước có trái tim nhân hậu và nghĩa hiệp – đã thu
hút sự quan tâm của tất cả các tầng lớp xã hội tại Paris lúc
bấy giờ. Lấy cảm hứng từ nguyên mẫu ngoài đời thực –
Eugène François Vidocq, từ một tội phạm khét tiếng, sau
đó hoàn lương trở thành cảnh sát đặc nhiệm tài ba, Eugène
Sue đã xây dựng nhân vật Rodolphe như “một vị thám tử”
cải trang, thâm nhập vào các khu ổ chuột của Paris để ngăn
ngừa tội ác và thực thi công lý.
Bộ tiểu thuyết đã dẫn dắt người đọc đi vào những ngõ
hẻm của từng khu phố, qua những lối đi hôi hám tối tăm, để
đến với những căn nhà tồi tàn, những quán rượu nhớp
nhúa, nơi tá túc của những con người cùng khổ và giới lưu
manh tại Paris…
“Bí mật thành Paris là một trong những tác phẩm đáng
kinh ngạc nhất của văn chương Pháp thế kỷ XIX. Thậm chí,
nhiều độc giả bị cuốn theo các tình tiết trong câu chuyện,
đã gửi cho tác giả phần kết thúc tác phẩm do chính họ nghĩ
ra, tạo nên sự 'tương tác' giữa tác giả và người đọc.”
(Philippe Dulac).
Gần hai thế kỷ qua, Bí mật thành Paris vẫn tiếp tục được
tái bản và dịch ra hàng chục thứ tiếng khác nhau, kèm theo
đó là những phiên bản tranh minh họa đầy tính nghệ thuật.
Chính tác phẩm này đã góp phần tạo cảm hứng cho Victor
Hugo sáng tác Những người khốn khổ – một kiệt tác văn
học kinh điển.
Và với ấn bản mới lần này, không chỉ hiệu đính, Phuc
Minh Books còn bổ sung một số tranh minh họa khắc kẽm,
từng được sử dụng trong phiên bản Les Mystères de Paris
(Bí mật thành Paris), do NXB J. Rouff xuất bản năm 1885,
nhằm giúp độc giả có cái nhìn chân thực nhất về con người
và xã hội Paris thế kỷ XIX.
PHẦN I
CHƯƠNG I
QUÁN LIỀU Ổ BỢM
13 tháng Chạp năm 1838, trời mưa lạnh. Một người vạm
vỡ mặc áo khoác ngắn đã cũ, đi qua cầu Change, vào sâu
trong khu Nội Thành của Cung Tư Pháp đến nhà thờ Đức
Bà.
Khu Tòa Án, khu được quản lý và canh phòng nghiêm
ngặt, vẫn là chỗ ẩn nấp, hò hẹn của bọn lưu manh Paris – kỳ
lạ thật – hay do định mệnh thì đúng hơn – một sự thu hút
không cưỡng nổi luôn luôn lôi cuốn bọn tội phạm tụ tập
quanh tòa án – một nơi chuyên xét xử, tống giam, tù đày
hoặc đưa chúng lên máy chém.
Đêm đó, hun hút gió thổi vào các ngõ hẻm của khu phố,
ánh sáng nhợt nhạt, chập chờn của những chiếc đèn cây,
run rẩy trong gió bấc, hắt xuống những rãnh nước đen sì
chảy trên nền đường lát đá lầy lội.
Nhà một dãy xám xịt, thỉnh thoảng trổ một vài cửa sổ,
khung cửa mọt rỗng, phần lớn đều không có kính. Các lối đi
hôi hám, tối tăm, dẫn đến những cầu thang tối tăm, hôi
hám hơn, lại còn dốc đứng, phải vịn vào sợi thừng cột chắc
vào đinh sắt đóng trên tường mới trèo lên được.
Tầng trệt của một vài ngôi nhà là quán bán than, bán
lòng, bán thịt loại kém chất lượng. Mặc dù hàng họ chẳng
đáng mấy, mặt trước những quán tối tăm đó đều có chấn
song sắt vì người bán hàng vẫn sợ các tay bợm liều mạng
quanh đấy.
Đến phố Hàng Đậu, giữa Nội Thành, nhân vật nói trên
bước chậm hẳn lại, y thấy mình đang đi trên mảnh đất làm
ăn quen thuộc.
Trời tối như mực, mưa như trút, gió đập mạnh vào tường.
Đồng hồ Cung Tư Pháp văng vẳng điểm mười giờ khuya.
Nhiều phụ nữ nấp dưới những vòm cửa tối om, sâu hun hút
như hang động, khe khẽ hát một vài điệp khúc dân ca. Một
người trong bọn họ, ý chừng có quen biết người chúng ta
vừa nói tới, nên bị y đột ngột dừng lại, nắm lấy tay.
– Chào “Chọc Tiết”. – Người này có tiền án, lúc ngồi tù
đã mang biệt hiệu như vậy.
– Mày đấy ư, Sơn Ca? Khao tao một chầu rượu ngay đi,
nếu không muốn tao riềng cho một trận.
– Tôi không có tiền. – Cô gái run sợ trả lời. Cả khu này, ai
cũng khiếp y.
– Nếu cô em rỗng túi thì mụ Quỷ Cái chủ quán ngại gì
mà chẳng cho ký nợ.
– Trời ơi! Tôi còn nợ mụ tiền thuê bộ quần áo đang mặc
đây này!
– Mày lại văn với tao rồi! – Từ trong bóng tối, Chọc Tiết
quát to và bất thình lình cho cô gái một quả đấm thật mạnh
khiến cô thét lên đau đớn.
– Không phải chỉ thế thôi đâu, con ạ. – Vừa nói xong, y
đã chửi thề và quát to. – Ái chà chà! Mày dám lấy kéo làm
xước da tao hả? – Rồi y hung hăng rượt theo cô gái trong
ngõ tối.
– Đừng đụng đến tao, nếu không tao sẽ lấy cái kéo này
móc mắt mày. – Cô gái nói giọng quả quyết. – Tao không
làm gì mày, sao mày lại đánh tao?
– Tao sẽ cho mày biết tay. – Y vừa nói vừa sấn lại trong
bóng đêm. – A, tao tóm được mày rồi, mày sẽ phải ăn đòn. –
Y vừa nói vừa dùng bàn tay hộ pháp của mình bóp mạnh cổ
tay thanh mảnh của cô gái.
– Chính mày sẽ nếm đòn. – Một giọng đàn ông cắt
ngang.
– Thằng nào đấy? Có phải thằng Cánh Tay Đỏ không?
Trả lời đi và đừng siết chặt tay tao thế! Tao đi vào ngõ nhà
mày, vậy thì chắc là mày chứ còn ai nữa!
– Đếch phải!
– Được, đã không cùng cánh thì cho nhau tí tiết. – Chọc
Tiết quát to. – Ơ! Cái giò bé nhỏ tao nắm đây là của đứa nào
đấy?
– Nó cũng giống cái này này!
Ngay lúc đó Chọc Tiết cảm thấy một bàn tay thon nhỏ
nhưng rắn như thép nguội siết chặt cổ họng mình.
Nấp ở cuối con hẻm, Sơn Ca đã kịp bước vội lên mấy bậc
thang, dừng lại và nói to với vị cứu tinh không quen biết:
– Ôi! Cảm ơn ông đã bênh vực cháu. Thằng này đánh
cháu vì cháu không có tiền cho y uống rượu. Cháu đã đánh
lại, nhưng cái kéo nhỏ của cháu thì làm được trò trống gì!
Bây giờ cháu đã thoát nạn, kệ xác y thôi, ông ạ. Mà ông
phải coi chừng đấy. Y là Chọc Tiết, không phải tay vừa đâu.
Ông không nghe cháu nói sao? Cháu đã bảo là tay Chọc
Tiết đấy!
Người lạ mặt đáp:
– Là dân chơi thì sợ gì chứ!
Rồi tất cả lại im lặng.
Sau đó vài giây lại có tiếng đánh nhau huỳnh huỵch.
– À, mày muốn tao khử mày sao? – Tên côn đồ vừa thét
lên, vừa cố sức vùng ra khỏi đối thủ mà y thấy khỏe ghê
gớm. – Được! Mày sẽ phải trả nợ cho con bé kia và cả cho
mày nữa. – Y nghiến răng nói thêm.
– Đúng! Tao sẽ trả bằng những quả đấm này.
Chọc Tiết hổn hển:
– Nếu mày không buông tay ra, tao sẽ đập nát mặt mày.
– Mặt tao ấy à? Cứ thử xem nào, anh bạn!
– Vậy thì hãy đến dưới cây đèn kia.
– Được, đến đây sẽ biết tay nhau thôi. – Người lạ mặt trả
lời, tay vẫn siết chặt cổ y.
Ông ta đẩy lùi Chọc Tiết đến tận đầu ngõ, và lăn mạnh y
ra giữa đường, dưới ánh sáng yếu ớt của cây đèn. Chọc Tiết
loạng choạng, nhưng vừa đứng vững y đã điên cuồng lao
vào người khách lạ có thân hình mảnh dẻ, khó tin là ông ta
có sức mạnh khác thường như vừa thấy.
Mặc dù có thân hình hộ pháp và giỏi ẩu đả vào bậc nhất,
Chọc Tiết cũng phải thừa nhận đã gặp phải đối thủ trên tài.
Người khách lạ dùng chân ngáng rất hiểm, quật ngã y hai
lần liền. Hình như không nhận thấy sự vượt trội của đối
phương, Chọc Tiết gầm lên, lại giận dữ lao vào.
Lập tức người bảo vệ Sơn Ca thay đổi cách đánh, ông ta
giáng mạnh xuống đầu gã Chọc Tiết những cú đấm như
mưa, nặng như búa bổ, những mánh võ mà ngay đến cả
Jack Turner, võ sĩ giỏi nhất London cũng phải bái phục,
khác hẳn lối tỉ thí thông thường khiến y lảo đảo. Đến lần đo
ván thứ ba này, Chọc Tiết gục xuống như một con bò trên
vỉa hè, rên rỉ.
– Thôi! Tao xin thua.
Liều đứng xem cuộc ẩu đả từ trên thềm nhà Cánh Tay
Đỏ, Sơn Ca can ngăn:
– Y đã chịu nhún, đừng giết y, hãy tha cho y. – Rồi Sơn Ca
ngạc nhiên hỏi thêm. – Nhưng ông là ai vậy? Trừ lão Thầy
Đồ, thì từ phố Saint-Éloi đến nhà thờ Đức Bà chưa ai địch
nổi Chọc Tiết. Ôi! Cháu rất cảm ơn ông, không có ông thì
chắc y đã đánh chết cháu rồi.
Người khách lạ không trả lời nhưng lại chú ý đến giọng
nói dịu dàng, thánh thót của Sơn Ca, ông ta cố gắng nhìn rõ
mặt cô gái nhưng đành chịu vì trời rất tối mà ánh sáng cây
đèn lại quá yếu.
Sau mấy phút nằm bất động, Chọc Tiết cựa quậy chân
tay rồi ngồi dậy.
– Hãy coi chừng! – Cô gái vẫn nấp trong lối đi, vừa la to,
vừa kéo tay người bảo vệ mình. – Coi chừng y trả thù đấy!
– Hãy yên tâm, cô bé ạ! Nếu y còn muốn ăn đòn, ta sẽ
cho y xơi đủ.
Nghe những lời đó, Chọc Tiết nói với người khách lạ:
– Tôi đã bị đánh nhừ tử, hôm nay thế là đủ, lần khác gặp
lại, ta sẽ tính chuyện với nhau.
– Mày chưa vừa ý sao? Mày còn phàn nàn gì nữa? –
Người khách lạ quát to, giọng hăm dọa. – Tao đánh trộm
mày à?
– Không, không đâu! Tôi không phàn nàn gì, ông thật
đáng mặt đại ca. – Tên côn đồ khá thô lỗ nhưng lại tỏ ra tôn
trọng đối thủ như tất cả đồng bọn cảm thấy khuất phục
trước vũ lực. – Ông đã cho tôi một trận ra trò, ngoài lão
Thầy Đồ khỏe như vâm, chưa đứa nào dám khoe hạ nổi tôi
đâu đấy.
– Sao nữa?
– Sao à? Tôi đã tìm được tay trùm thổ, thế thôi! Nhưng
sớm muộn gì thì ông cũng sẽ gặp người trên tài. Nếu không
có ai, còn có Chúa, như bọn “áo chùng thâm”linh mục hay
nói. Có điều bây giờ ông đã hạ được Chọc Tiết, chắc chắn
ông có thể tung hoành trong thành phố. Tất cả bọn gái làm
tiền sẽ quỳ dưới chân ông, Quỷ Đực và Quỷ Cái chẳng đứa
nào dám từ chối không cho ông ghi sổ nợ. Nhưng chà chà!
Ông là ai vậy? Ông nói tiếng lóng như người trong hội. Nếu
ông là “dân đập hộp”dân trộm cướp thì tôi đếch chơi đâu.
Tôi đã đâm một gã đàn ông, đúng như thế, vì khi đã nóng
mắt, tôi chỉ còn thấy máu. Nhưng tôi đã phải trả giá bằng
mười lăm năm khổ sai. Mãn hạn, tôi chẳng còn nợ nần gì
bọn “tọc mạch”quan tòa và không bao giờ tôi đập hộp nữa,
ông cứ hỏi con Sơn Ca mà xem.
– Đúng đấy, ông đây không phải là dân đập hộp.
– Vậy thì hãy cùng đi “mổ” rồi anh sẽ biết tôi là ai. –
Người lạ mặt nói. – Đi nào! Xí xóa mọi chuyện nhé!
– Thật đáng mặt đại ca, ông là đại ca của tôi, tôi chịu
đấy! Tay quyền của ông sao mạnh gớm! Nhất là trận mưa
đấm cuối cùng. Cực kỳ mạnh mẽ! Cứ như búa máy. Hẳn là
miếng võ mới. Ông phải truyền nghề cho tôi đấy.
– Tôi sẽ làm lại khi anh muốn.
– Không phải với tôi! Không phải với tôi! Tôi vẫn còn nảy
đom đóm mắt đây này. Nhưng ông quen biết Cánh Tay Đỏ
à? Ông đi vào ngõ nhà hắn mà.
– Cánh Tay Đỏ! – Người lạ mặt ngạc nhiên vì câu hỏi ấy. –
Tôi không hiểu anh muốn nói gì, hẳn là chỉ có mình Cánh
Tay Đỏ trong nhà này sao?
– Đúng vậy. Cánh Tay Đỏ có lý do để không ưa có hàng
xóm. – Chọc Tiết vừa nói vừa mỉm cười ranh mãnh.
– Thôi được, mặc nó, – người khách lạ như không muốn
nói tiếp chuyện đó nữa – tôi chẳng biết Cánh Tay Đỏ hay
Cánh Tay Đen nào cả. Trời mưa, tôi vào ngõ này một lát để
tránh mưa. Anh ăn hiếp cô bé đáng thương này, tôi đã trừng
phạt anh, có thế thôi.
Chọc Tiết vẫn nói:
– Đúng thế! Vả lại công việc của ông chẳng liên quan gì
đến tôi, tất cả những ai cần đến Cánh Tay Đỏ chẳng bao giờ
nói thật. Thôi, đếch nói nữa. – Rồi y quay sang Sơn Ca. –
Thật tình mày là gái ngoan, tao thụi mày một quả, mày trả
lại tao một nhát kéo, đúng luật chơi thôi. Nhưng được cái
tốt là mày không đổ thêm dầu vào lửa. Thôi, đi nhậu với bọn
này đi, ông đây sẽ bao mà! Nếu như thế, ông anh ơi, – y
quay sang người lạ mặt – đáng lẽ cho đi “nốc”, chúng ta đi
“mổ” ở nhà mụ Quỷ Cái, chủ quán Thỏ Trắng, một ổ bợm
đấy.
– Được! Tôi sẽ bao bữa tối, đến chứ Sơn Ca?
– Ôi! Cháu đói lắm, nhưng cứ thấy ẩu đả là cháu đã nôn
nao chẳng thiết ăn uống gì nữa.
– Không sao! Không sao! Cứ ăn, sẽ thấy ngon miệng thôi.
Quán Thỏ Trắng nấu tốt chứ! – Chọc Tiết nói.
Cả ba người vui vẻ đi về phía quán ăn.
Trong khi người lạ mặt đánh nhau với Chọc Tiết thì một
người bán than, to như hộ pháp, nấp trong một ngõ khác,
hồi hộp theo dõi nhưng không vào hỗ trợ bên nào cả. Khi
thấy ba người đi về phía quán ăn, người ấy liền đi theo.
Chọc Tiết và cô gái bước vào trước, người lạ mặt theo
sau, lúc đó người bán than tiến lại gần và nói thầm bằng
tiếng Anh, vừa lễ phép, vừa như nhắc nhở:
– Xin Đức ông cẩn thận cho.
Người lạ mặt nhún vai và bước đi.
Người bán than không rời cửa quán, dỏng tai nghe
ngóng, chốc chốc lại nhìn qua lỗ hổng khoét ở mặt kính cửa
sổ quét bột trắng.
CHƯƠNG II
MỤ QUỶ CÁI
Quán Thỏ Trắng ở giữa phố Hàng Đậu, chiếm tầng trệt
của một ngôi nhà cao to, mặt trước có hai cửa sổ kiểu lá
sách sậpcửa máy chém. Trên vòm cửa ra vào tối om treo
lủng lẳng một đèn lồng dài có hàng chữ đỏ trên mặt kính
rạn nứt: Có nơi nghỉ trọ đêm.
Ba người bước vào trong quán.
Đấy là một căn phòng rộng, thấp, trần ám khói với
những rầm đen nhuốm ánh sáng nhờ nhờ của một cây đèn
dầu. Tường trát vữa quét vôi, đầy những hình vẽ tục tĩu,
những câu tiếng lóng. Nền đất nện ẩm ướt nhớp nháp bùn
trải rơm vun thay thảm. Quầy của mụ chủ quán đặt bên
phải cửa ra vào, ngay dưới cây đèn.
Mỗi bên cửa căn phòng có sáu chiếc bàn kèm ghế, một
đầu gắn chặt vào tường. Cuối phòng có cửa thông xuống
bếp; bên phải gần quầy hàng có một lối đi vào những phòng
trọ ổ chuột giá ba xu một tối. Vài nét về mụ chủ quán và
khách hàng của mụ:
Mụ tên là Ponisse, làm nghề chứa trọ, bán quán và cho
những người khốn khổ đầy rẫy trong các ngõ hẻm thuê
quần áo.
Mụ khoảng bốn mươi tuổi, cao lớn, đẫy đà, có ria mép,
giọng ồm ồm như giọng đàn ông, cánh tay to, bàn tay rộng
chứng tỏ một sức khỏe khác thường. Mụ đội mũ trùm, vấn
khăn mỏ quạ màu vàng đỏ, quàng một khăn san lông thỏ
vắt chéo xuống ngực và thắt ra sau lưng. Chiếc váy bằng
len xanh không che kín đôi giày đen cháy lẹm nhiều chỗ vì
mụ hay gác lên bếp lò. Nước da mụ đỏ gay do uống nhiều
rượu mạnh.
Mặt quầy hàng bọc kẽm bày những chiếc bình đai sắt có
quai và nhiều cốc bằng thiếc. Trên một chiếc giá gắn vào
tường có nhiều bình thủy tinh vụng về tạo hình Hoàng đế
toàn thân. Trong bình đựng các loại rượu xanh đỏ đã pha
chế thường được gắn nhãn Tình yêu tuyệt vời, Nguồn an
ủi…
Một con mèo đen, to, mắt vàng ngồi cạnh mụ chủ quán
trông như một tà thần.
Một nghịch cảnh khó tưởng, nếu không nhận biết tâm
hồn con người là một cái gì không dễ thâm nhập, đó là một
cành thông lộc thánh mua ở nhà thờ vào ngày lễ Phục sinh,
đặt sau chiếc vỏ đồng hồ treo tường cũ kĩ.
Hai người mặt mày hung ác, râu ria lởm chởm, quần áo
rách bươm, không thiết gì đến rượu, nhớn nhác thì thầm.
Một trong hai tên, xanh xao, mặt tái mét đội mũ có chỏm
kiểu Hy Lạp sụp xuống tận mí mắt, cố giấu bằng được bàn
tay trái.
Ở bàn phía xa, một gã khoảng mười sáu tuổi, mặt non
choẹt, hốc hác, bủng beo, da thiết bì, mắt lờ đờ, tóc đen
trùm kín gáy, loại thiếu niên sớm trác táng đang rít một tẩu
thuốc ngắn. Lưng dựa vào tường, hai tay thủ trong áo
khoác, chân duỗi thẳng trên ghế, nó chỉ rời chiếc tẩu khi tu
chai rượu mạnh đặt trước mặt.
Những khách quen khác của quán rượu, nam cũng như
nữ đều có chung bộ mặt hoặc dữ tợn hoặc lì lợm. Khi vui thì
thô bỉ, tục tĩu, lúc lặng thì ủ rũ. Đây là tất cả khách của
quán rượu khi bọn ba người Chọc Tiết, Sơn Ca và người lạ
mặt bước vào.
Không thể không giới thiệu kĩ ba nhân vật quan trọng
nổi bật trong thiên truyện này.
Chọc Tiết cao to như hộ pháp có bộ tóc vàng nhạt gần
như trắng, lông mày rậm, chòm râu quai nón hung hung dữ
tợn. Nắng gió, đói khát, công việc khổ sai nặng nhọc đã
khiến nước da y sạm lại xanh bủng, nhợt nhạt, đúng là màu
da đặc biệt của bọn tù. Mặc dù mang cái tên khủng khiếp
“Chọc Tiết”, đặc điểm của con người này là táo bạo, lỗ
mãng chứ không hung ác, tuy cái trán dô ra khác thường
cho thấy trội lên tính cách khát khao tình dục, giết chóc.
Y mặc áo khoác xanh cũ kĩ, quần bằng nhung thô, trước
đây màu xanh, bây giờ phủ một lớp bùn dày nên không
phân biệt được màu gì nữa.
Dị thường và kỳ lạ, Sơn Ca thuộc tầng lớp những người
trong trắng chân thực giữa lúc sa ngã vẫn giữ được bản
chất. Ở những con người như thế, dường như thói hư tật xấu
trở nên bất lực, không thể xóa được các dấu ấn cao quý mà
Thượng đế đã đặc ân phú cho họ.
Sơn Ca mới ngoài mười sáu tuổi, vầng trán trắng trẻo,
thanh khiết, gương mặt trái xoan đều đặn, lông mi dài hơi
cong chia nửa đôi mắt xanh và to. Tuổi dậy thì khiến đôi má
tròn hồng hào thêm mịn màng, miệng nhỏ, đỏ thắm, mũi
dọc dừa thanh tú, má có lúm đồng tiền tạo nét dịu dàng,
duyên dáng. Hai bím tóc màu tro sáng rũ xuống đến giữa
má được tết thành lọn vắt sau dái tai trắng hồng và thắt
bằng chiếc khăn tay lớn vải xanh trông như đuôi sóc.
Một chuỗi hạt san hô ôm lấy cái cổ đẹp trắng nõn nà,
chiếc váy vải tơ pha len quá rộng cho thấy một thân hình
thanh mảnh, mềm mại, thon thả. Chiếc khăn quàng da cam
cũ viền rua xanh lục thắt chéo xuống ngực. Giọng nói
duyên dáng của cô khiến người bảo vệ cô sững sờ. Quả thế,
giọng nói dịu dàng, ngân vang, êm ái ấy có sức lôi cuốn
mạnh nên đám người mạt hạng gồm những tên gian ác và
những phụ nữ lạc loài cùng cảnh, thường nài cô hát, lắng
nghe đắm đuối và gọi cô bằng cái tên đáng yêu: Sơn Ca.
Sơn Ca còn một biệt hiệu khác nữa, có lẽ vì những nét
ngây thơ trong trắng mà bọn người ấy gọi cô là Fleur-deMarie, theo tiếng lóng của chúng có nghĩa là Trinh Nữ.
Rodolphe
Người bênh vực Sơn Ca chừng ba mươi đến ba mươi sáu
tuổi. Bề ngoài của Rodolphe (ta gọi ông là Rodolphe) tập
trung nhiều nét tương phản kỳ lạ. Ông đẹp, có thể nói là
quá đẹp đối với một người đàn ông. Nước da ông tai tái một
cách thanh nhã, đôi mắt màu xanh sáng viền quầng xanh
nhạt, ít khi mở to, dáng đi uể oải, ánh nhìn lơ đãng; nụ cười
châm biếm của một người dường như chán đời vì thể chất
nếu không suy yếu thì ít ra cũng ảnh hưởng cuộc sống giàu
sang thừa thãi, ăn không ngồi rồi, thế nhưng, với bàn tay
thanh nhã, trắng trẻo, Rodolphe vừa quật ngã một tên côn
đồ to khỏe nhất, đáng gờm nhất trong khu phố.
Một vài nếp nhăn trên trán chứng tỏ Rodolphe là người
hay suy nghĩ sâu xa, trầm tư mặc tưởng, thế nhưng vành
môi cương nghị, phong thái uy nghi, quả quyết lại nói lên
con người hành động, có sức mạnh và gan dạ, vượt hẳn
người thường. Ánh mắt ông thường chứa đựng một nét u
sầu và lòng trắc ẩn hào hiệp, lòng thương xót thiết tha hiện
lên nét mặt phúc hậu. Trái lại có những lúc ánh mắt đó trở
nên nghiêm khắc, dữ tợn, khinh khi, tàn nhẫn khiến người
ta khó tin rằng ở con người đó có thể có những xúc cảm dịu
dàng.
Trong lúc giao đấu với Chọc Tiết, Rodolphe không tỏ ra
giận dữ, thù hằn. Tin vào sức mình, vào tài nghệ của mình,
Rodolphe chỉ có sự khinh khi, giễu cợt khi quật ngã y. Để
hoàn chỉnh chân dung Rodolphe, ta phải nói đến màu tóc
hạt dẻ sáng đồng màu với đôi mày cong cong cao quý và
hàng ria mảnh, mượt mà, cái cằm hơi dô, cạo nhẵn. Riêng
lời ăn tiếng nói của Rodolphe giống hệt đám khách trong
quán. Một chiếc cà vạt đen thắt chểnh mảng quanh cái cổ
thon, thanh nhã, đẹp như tượng, buông lơi xuống cổ áo
choàng xanh có màu trắng nhờ nhờ cũ kĩ. Hai hàng đinh
đóng dưới đôi giày thô.
Tóm lại, nhìn bề ngoài, trừ đôi bàn tay thanh nhã khác
thường, khó mà phân biệt được Rodolphe với lũ khách trong
quán, trong khi dáng vẻ quả quyết của ông lại biểu hiện
lòng gan dạ, tỉnh táo khiến khoảng cách giữa họ rất lớn.
Bước vào quán, Chọc Tiết đặt bàn tay rộng, lông lá lên
vai Rodolphe và nói to:
– Tất cả hãy chào đại ca của tao đi! Các mày ạ! Người
anh em này vừa quật ngã tao. Đó là lời khuyến cáo đối với
những ai vẫn có ý định muốn bị gãy sườn hoặc muốn bị đập
vỡ sọ. Kể cả Thầy Đồ, lần này lão sẽ gặp kẻ trên tài… Tao
xin đảm bảo và cược thế đấy!
Nghe câu nói đó, từ mụ chủ quán đến mọi người trong
quán, tất cả đều nhìn người đánh ngã Chọc Tiết bằng con
mắt kính nể, sợ sệt. Một số kéo lùi những chiếc cốc, chiếc
bình ở đầu bàn, vội vàng như muốn dành chỗ ngồi cho
Rodolphe. Một số khác đến gần Chọc Tiết khẽ thì thào để
hỏi những chi tiết về người lạ mặt đã gia nhập thế giới của
họ một cách vẻ vang như vậy.
Mụ chủ quán mỉm nụ cười duyên dáng nhất chào
Rodolphe, một sự kiện thật khác thường, quá sức tưởng
tượng, hoang đường đối với lịch sử quán Thỏ Trắng. Mụ rời
quầy đến bàn Rodolphe xem ông muốn cho những người
cùng đi dùng món gì. Nên nhớ rằng ngay cả Thầy Đồ, tuy
khét tiếng gian ác, đã từng khiến Chọc Tiết phải run sợ
cũng không được mụ quan tâm đối đãi như vậy.
Một trong hai người khách mặt mày hung ác mà ta đã
biết (người xanh xao, luôn che giấu bàn tay trái và kéo sụp
chiếc mũ Hy Lạp xuống trán) cúi xuống bên cạnh mụ chủ
quán hỏi bằng giọng khàn khàn khi mụ đang lau kĩ chiếc
bàn mà Rodolphe ngồi:
– Hôm nay Thầy Đồ có đến không?
– Không.
– Thế hôm qua?
– Lão có đến.
– Với con ghệ mới à?
– Ái chà, mày coi tao là “cớm” à, mày tưởng rằng nghe
mày phỉnh thì tao sẽ bán khách hàng của tao ư? – Mụ đốp
chát trả lời.
– Chiều nay tôi hẹn gặp Thầy Đồ, chúng tôi có việc làm
ăn với nhau.
– Công với việc! Chắc lại một vụ đánh quả đặc biệt của
chúng mày chứ gì, quân giết người!
– Giết người! – Tên côn đồ đay lại, giận dữ. – Chính bọn
giết người nuôi sống mụ đấy.
– Ái chà, có để tao yên không nào? – Mụ chủ quán quát
to, lăm lăm giơ cao chiếc bình trên đầu gã.
Tên kia lẩm bẩm lùi về chỗ ngồi.
Sơn Ca bước theo Chọc Tiết vào trong quán, gật đầu
chào gã thiếu niên có bộ mặt ủ rũ.
Chọc Tiết nói lớn với gã này:
– Ê, Cá Trê, mày vẫn nốc rượu đều đấy chứ?
– Vẫn! Tôi thà nhịn đói, chân không giày còn hơn là thiếu
rượu đổ cổ họng, thuốc nhồi tẩu. – Gã thiếu niên the thé trả
lời và vẫn không thay đổi tư thế, phun khói thuốc lá mù mịt.
– Chào mẹ Ponisse. – Sơn Ca lên tiếng.
– Chào Sơn Ca. – Mụ chủ quán chào lại và đến gần để
xem xét bộ quần áo mà mụ cho cô bé đáng thương thuê.
Sau đó, mụ nói với giọng hài lòng, cục cằn. – Tốt! Cho mày
thuê quần áo cũng khoái, mày sạch như con mèo con. Vì
vậy tao không muốn cho cái bọn phải gió như con Thợ Tiện
và con Đầu Lâu thuê chiếc khăn quàng đẹp màu da cam
này đây. Cũng chính tao đã bảo ban mày từ ngày mày ra tù
là phải thật thà. Cả thành phố này, nói thật, không ai sánh
được với mày.
Sơn Ca cúi đầu không mảy may kiêu hãnh trước những
lời khen của mụ.
– Này! – Rodolphe nói. – Bà cũng có cành lộc thánh ư? –
Vừa hỏi ông vừa chỉ nhánh cây thiêng liêng đặt sau chiếc
đồng hồ.
– Sao kia? Thế cứ phải sống như những kẻ vô đạo à? –
Mụ khờ khạo trả lời. Rồi quay lại với Sơn Ca:
– Sơn Ca, con hát cho chúng ta nghe một vài bài chứ?
– Sau bữa ăn đã, mẹ Ponisse ạ.
– Thưa ông, tôi có thể dọn hầu ông món gì? – Mụ hỏi để
lấy lòng Rodolphe, mong được che chở lúc cần.
– Bà hỏi Chọc Tiết ấy. Anh ta ăn, tôi trả tiền.
– Tốt thôi! – Mụ nói và quay sang tên côn đồ. – Mày
muốn ăn gì, thằng nỡm?
– Hai lít vang mười hai xu, một món thập cẩm* và ba
khoanh bánh mì thật mềm, thêm một bát thập cẩm nữa.
Các thức ăn thừa, khi dọn bàn, đầu bếp nhà giàu lấy
đem bán cho các hàng cơm đầu ghế.
– Tao thấy lúc nào mày cũng là thằng phàm ăn, mày luôn
thích món thập cẩm.
– Này Sơn Ca, – Chọc Tiết hỏi – bây giờ cô em có thấy
đói không?
– Cháu muốn ăn gì, ngoài món thập cẩm? – Rodolphe
hỏi.
– Ồ không, cơn đói của cháu qua rồi.
– Nhưng mày hãy nhìn ông anh tao! – Vừa cười lớn, Chọc
Tiết vừa chỉ Rodolphe. – Mày không dám liếc nhìn ông ấy
nữa sao?
Chọc Tiết, Rodolphe và Sơn Ca
Sơn Ca đỏ mặt, lim dim mắt không trả lời. Một lúc sau,
mụ chủ quán thân hành đến bày lên bàn một bình rượu
vang,
1)
Nguyên tác: Les Mystères de Paris (1842–43)
—★—
Tác giả: Eugène Sue
Dịch giả: Nguyễn Xuân Dương & Lâm Phúc Giáp &
Hoàng Tiến Hành & Lưu Đức Hiên & Cao Hữu Nhu
NXB Hội nhà văn & Phúc Minh – 2020
Nguồn: VCTVEGROUP
Chuyển text: Blue Rose & Caruri
LỜI GIỚI THIỆU
Từ tháng 6 năm 1842 đến tháng 10 năm 1843, người dân
và giới trí thức Paris hồi hộp ngóng chờ tờ báo Le Journal
des débats mỗi ngày để đón đọc phần mới nhất trong bộ
tiểu thuyết Bí mật thành Paris của nhà văn Eugène Sue.
Câu chuyện phiêu lưu hồi hộp, li kỳ của Rodolphe – một
Đại công tước có trái tim nhân hậu và nghĩa hiệp – đã thu
hút sự quan tâm của tất cả các tầng lớp xã hội tại Paris lúc
bấy giờ. Lấy cảm hứng từ nguyên mẫu ngoài đời thực –
Eugène François Vidocq, từ một tội phạm khét tiếng, sau
đó hoàn lương trở thành cảnh sát đặc nhiệm tài ba, Eugène
Sue đã xây dựng nhân vật Rodolphe như “một vị thám tử”
cải trang, thâm nhập vào các khu ổ chuột của Paris để ngăn
ngừa tội ác và thực thi công lý.
Bộ tiểu thuyết đã dẫn dắt người đọc đi vào những ngõ
hẻm của từng khu phố, qua những lối đi hôi hám tối tăm, để
đến với những căn nhà tồi tàn, những quán rượu nhớp
nhúa, nơi tá túc của những con người cùng khổ và giới lưu
manh tại Paris…
“Bí mật thành Paris là một trong những tác phẩm đáng
kinh ngạc nhất của văn chương Pháp thế kỷ XIX. Thậm chí,
nhiều độc giả bị cuốn theo các tình tiết trong câu chuyện,
đã gửi cho tác giả phần kết thúc tác phẩm do chính họ nghĩ
ra, tạo nên sự 'tương tác' giữa tác giả và người đọc.”
(Philippe Dulac).
Gần hai thế kỷ qua, Bí mật thành Paris vẫn tiếp tục được
tái bản và dịch ra hàng chục thứ tiếng khác nhau, kèm theo
đó là những phiên bản tranh minh họa đầy tính nghệ thuật.
Chính tác phẩm này đã góp phần tạo cảm hứng cho Victor
Hugo sáng tác Những người khốn khổ – một kiệt tác văn
học kinh điển.
Và với ấn bản mới lần này, không chỉ hiệu đính, Phuc
Minh Books còn bổ sung một số tranh minh họa khắc kẽm,
từng được sử dụng trong phiên bản Les Mystères de Paris
(Bí mật thành Paris), do NXB J. Rouff xuất bản năm 1885,
nhằm giúp độc giả có cái nhìn chân thực nhất về con người
và xã hội Paris thế kỷ XIX.
PHẦN I
CHƯƠNG I
QUÁN LIỀU Ổ BỢM
13 tháng Chạp năm 1838, trời mưa lạnh. Một người vạm
vỡ mặc áo khoác ngắn đã cũ, đi qua cầu Change, vào sâu
trong khu Nội Thành của Cung Tư Pháp đến nhà thờ Đức
Bà.
Khu Tòa Án, khu được quản lý và canh phòng nghiêm
ngặt, vẫn là chỗ ẩn nấp, hò hẹn của bọn lưu manh Paris – kỳ
lạ thật – hay do định mệnh thì đúng hơn – một sự thu hút
không cưỡng nổi luôn luôn lôi cuốn bọn tội phạm tụ tập
quanh tòa án – một nơi chuyên xét xử, tống giam, tù đày
hoặc đưa chúng lên máy chém.
Đêm đó, hun hút gió thổi vào các ngõ hẻm của khu phố,
ánh sáng nhợt nhạt, chập chờn của những chiếc đèn cây,
run rẩy trong gió bấc, hắt xuống những rãnh nước đen sì
chảy trên nền đường lát đá lầy lội.
Nhà một dãy xám xịt, thỉnh thoảng trổ một vài cửa sổ,
khung cửa mọt rỗng, phần lớn đều không có kính. Các lối đi
hôi hám, tối tăm, dẫn đến những cầu thang tối tăm, hôi
hám hơn, lại còn dốc đứng, phải vịn vào sợi thừng cột chắc
vào đinh sắt đóng trên tường mới trèo lên được.
Tầng trệt của một vài ngôi nhà là quán bán than, bán
lòng, bán thịt loại kém chất lượng. Mặc dù hàng họ chẳng
đáng mấy, mặt trước những quán tối tăm đó đều có chấn
song sắt vì người bán hàng vẫn sợ các tay bợm liều mạng
quanh đấy.
Đến phố Hàng Đậu, giữa Nội Thành, nhân vật nói trên
bước chậm hẳn lại, y thấy mình đang đi trên mảnh đất làm
ăn quen thuộc.
Trời tối như mực, mưa như trút, gió đập mạnh vào tường.
Đồng hồ Cung Tư Pháp văng vẳng điểm mười giờ khuya.
Nhiều phụ nữ nấp dưới những vòm cửa tối om, sâu hun hút
như hang động, khe khẽ hát một vài điệp khúc dân ca. Một
người trong bọn họ, ý chừng có quen biết người chúng ta
vừa nói tới, nên bị y đột ngột dừng lại, nắm lấy tay.
– Chào “Chọc Tiết”. – Người này có tiền án, lúc ngồi tù
đã mang biệt hiệu như vậy.
– Mày đấy ư, Sơn Ca? Khao tao một chầu rượu ngay đi,
nếu không muốn tao riềng cho một trận.
– Tôi không có tiền. – Cô gái run sợ trả lời. Cả khu này, ai
cũng khiếp y.
– Nếu cô em rỗng túi thì mụ Quỷ Cái chủ quán ngại gì
mà chẳng cho ký nợ.
– Trời ơi! Tôi còn nợ mụ tiền thuê bộ quần áo đang mặc
đây này!
– Mày lại văn với tao rồi! – Từ trong bóng tối, Chọc Tiết
quát to và bất thình lình cho cô gái một quả đấm thật mạnh
khiến cô thét lên đau đớn.
– Không phải chỉ thế thôi đâu, con ạ. – Vừa nói xong, y
đã chửi thề và quát to. – Ái chà chà! Mày dám lấy kéo làm
xước da tao hả? – Rồi y hung hăng rượt theo cô gái trong
ngõ tối.
– Đừng đụng đến tao, nếu không tao sẽ lấy cái kéo này
móc mắt mày. – Cô gái nói giọng quả quyết. – Tao không
làm gì mày, sao mày lại đánh tao?
– Tao sẽ cho mày biết tay. – Y vừa nói vừa sấn lại trong
bóng đêm. – A, tao tóm được mày rồi, mày sẽ phải ăn đòn. –
Y vừa nói vừa dùng bàn tay hộ pháp của mình bóp mạnh cổ
tay thanh mảnh của cô gái.
– Chính mày sẽ nếm đòn. – Một giọng đàn ông cắt
ngang.
– Thằng nào đấy? Có phải thằng Cánh Tay Đỏ không?
Trả lời đi và đừng siết chặt tay tao thế! Tao đi vào ngõ nhà
mày, vậy thì chắc là mày chứ còn ai nữa!
– Đếch phải!
– Được, đã không cùng cánh thì cho nhau tí tiết. – Chọc
Tiết quát to. – Ơ! Cái giò bé nhỏ tao nắm đây là của đứa nào
đấy?
– Nó cũng giống cái này này!
Ngay lúc đó Chọc Tiết cảm thấy một bàn tay thon nhỏ
nhưng rắn như thép nguội siết chặt cổ họng mình.
Nấp ở cuối con hẻm, Sơn Ca đã kịp bước vội lên mấy bậc
thang, dừng lại và nói to với vị cứu tinh không quen biết:
– Ôi! Cảm ơn ông đã bênh vực cháu. Thằng này đánh
cháu vì cháu không có tiền cho y uống rượu. Cháu đã đánh
lại, nhưng cái kéo nhỏ của cháu thì làm được trò trống gì!
Bây giờ cháu đã thoát nạn, kệ xác y thôi, ông ạ. Mà ông
phải coi chừng đấy. Y là Chọc Tiết, không phải tay vừa đâu.
Ông không nghe cháu nói sao? Cháu đã bảo là tay Chọc
Tiết đấy!
Người lạ mặt đáp:
– Là dân chơi thì sợ gì chứ!
Rồi tất cả lại im lặng.
Sau đó vài giây lại có tiếng đánh nhau huỳnh huỵch.
– À, mày muốn tao khử mày sao? – Tên côn đồ vừa thét
lên, vừa cố sức vùng ra khỏi đối thủ mà y thấy khỏe ghê
gớm. – Được! Mày sẽ phải trả nợ cho con bé kia và cả cho
mày nữa. – Y nghiến răng nói thêm.
– Đúng! Tao sẽ trả bằng những quả đấm này.
Chọc Tiết hổn hển:
– Nếu mày không buông tay ra, tao sẽ đập nát mặt mày.
– Mặt tao ấy à? Cứ thử xem nào, anh bạn!
– Vậy thì hãy đến dưới cây đèn kia.
– Được, đến đây sẽ biết tay nhau thôi. – Người lạ mặt trả
lời, tay vẫn siết chặt cổ y.
Ông ta đẩy lùi Chọc Tiết đến tận đầu ngõ, và lăn mạnh y
ra giữa đường, dưới ánh sáng yếu ớt của cây đèn. Chọc Tiết
loạng choạng, nhưng vừa đứng vững y đã điên cuồng lao
vào người khách lạ có thân hình mảnh dẻ, khó tin là ông ta
có sức mạnh khác thường như vừa thấy.
Mặc dù có thân hình hộ pháp và giỏi ẩu đả vào bậc nhất,
Chọc Tiết cũng phải thừa nhận đã gặp phải đối thủ trên tài.
Người khách lạ dùng chân ngáng rất hiểm, quật ngã y hai
lần liền. Hình như không nhận thấy sự vượt trội của đối
phương, Chọc Tiết gầm lên, lại giận dữ lao vào.
Lập tức người bảo vệ Sơn Ca thay đổi cách đánh, ông ta
giáng mạnh xuống đầu gã Chọc Tiết những cú đấm như
mưa, nặng như búa bổ, những mánh võ mà ngay đến cả
Jack Turner, võ sĩ giỏi nhất London cũng phải bái phục,
khác hẳn lối tỉ thí thông thường khiến y lảo đảo. Đến lần đo
ván thứ ba này, Chọc Tiết gục xuống như một con bò trên
vỉa hè, rên rỉ.
– Thôi! Tao xin thua.
Liều đứng xem cuộc ẩu đả từ trên thềm nhà Cánh Tay
Đỏ, Sơn Ca can ngăn:
– Y đã chịu nhún, đừng giết y, hãy tha cho y. – Rồi Sơn Ca
ngạc nhiên hỏi thêm. – Nhưng ông là ai vậy? Trừ lão Thầy
Đồ, thì từ phố Saint-Éloi đến nhà thờ Đức Bà chưa ai địch
nổi Chọc Tiết. Ôi! Cháu rất cảm ơn ông, không có ông thì
chắc y đã đánh chết cháu rồi.
Người khách lạ không trả lời nhưng lại chú ý đến giọng
nói dịu dàng, thánh thót của Sơn Ca, ông ta cố gắng nhìn rõ
mặt cô gái nhưng đành chịu vì trời rất tối mà ánh sáng cây
đèn lại quá yếu.
Sau mấy phút nằm bất động, Chọc Tiết cựa quậy chân
tay rồi ngồi dậy.
– Hãy coi chừng! – Cô gái vẫn nấp trong lối đi, vừa la to,
vừa kéo tay người bảo vệ mình. – Coi chừng y trả thù đấy!
– Hãy yên tâm, cô bé ạ! Nếu y còn muốn ăn đòn, ta sẽ
cho y xơi đủ.
Nghe những lời đó, Chọc Tiết nói với người khách lạ:
– Tôi đã bị đánh nhừ tử, hôm nay thế là đủ, lần khác gặp
lại, ta sẽ tính chuyện với nhau.
– Mày chưa vừa ý sao? Mày còn phàn nàn gì nữa? –
Người khách lạ quát to, giọng hăm dọa. – Tao đánh trộm
mày à?
– Không, không đâu! Tôi không phàn nàn gì, ông thật
đáng mặt đại ca. – Tên côn đồ khá thô lỗ nhưng lại tỏ ra tôn
trọng đối thủ như tất cả đồng bọn cảm thấy khuất phục
trước vũ lực. – Ông đã cho tôi một trận ra trò, ngoài lão
Thầy Đồ khỏe như vâm, chưa đứa nào dám khoe hạ nổi tôi
đâu đấy.
– Sao nữa?
– Sao à? Tôi đã tìm được tay trùm thổ, thế thôi! Nhưng
sớm muộn gì thì ông cũng sẽ gặp người trên tài. Nếu không
có ai, còn có Chúa, như bọn “áo chùng thâm”linh mục hay
nói. Có điều bây giờ ông đã hạ được Chọc Tiết, chắc chắn
ông có thể tung hoành trong thành phố. Tất cả bọn gái làm
tiền sẽ quỳ dưới chân ông, Quỷ Đực và Quỷ Cái chẳng đứa
nào dám từ chối không cho ông ghi sổ nợ. Nhưng chà chà!
Ông là ai vậy? Ông nói tiếng lóng như người trong hội. Nếu
ông là “dân đập hộp”dân trộm cướp thì tôi đếch chơi đâu.
Tôi đã đâm một gã đàn ông, đúng như thế, vì khi đã nóng
mắt, tôi chỉ còn thấy máu. Nhưng tôi đã phải trả giá bằng
mười lăm năm khổ sai. Mãn hạn, tôi chẳng còn nợ nần gì
bọn “tọc mạch”quan tòa và không bao giờ tôi đập hộp nữa,
ông cứ hỏi con Sơn Ca mà xem.
– Đúng đấy, ông đây không phải là dân đập hộp.
– Vậy thì hãy cùng đi “mổ” rồi anh sẽ biết tôi là ai. –
Người lạ mặt nói. – Đi nào! Xí xóa mọi chuyện nhé!
– Thật đáng mặt đại ca, ông là đại ca của tôi, tôi chịu
đấy! Tay quyền của ông sao mạnh gớm! Nhất là trận mưa
đấm cuối cùng. Cực kỳ mạnh mẽ! Cứ như búa máy. Hẳn là
miếng võ mới. Ông phải truyền nghề cho tôi đấy.
– Tôi sẽ làm lại khi anh muốn.
– Không phải với tôi! Không phải với tôi! Tôi vẫn còn nảy
đom đóm mắt đây này. Nhưng ông quen biết Cánh Tay Đỏ
à? Ông đi vào ngõ nhà hắn mà.
– Cánh Tay Đỏ! – Người lạ mặt ngạc nhiên vì câu hỏi ấy. –
Tôi không hiểu anh muốn nói gì, hẳn là chỉ có mình Cánh
Tay Đỏ trong nhà này sao?
– Đúng vậy. Cánh Tay Đỏ có lý do để không ưa có hàng
xóm. – Chọc Tiết vừa nói vừa mỉm cười ranh mãnh.
– Thôi được, mặc nó, – người khách lạ như không muốn
nói tiếp chuyện đó nữa – tôi chẳng biết Cánh Tay Đỏ hay
Cánh Tay Đen nào cả. Trời mưa, tôi vào ngõ này một lát để
tránh mưa. Anh ăn hiếp cô bé đáng thương này, tôi đã trừng
phạt anh, có thế thôi.
Chọc Tiết vẫn nói:
– Đúng thế! Vả lại công việc của ông chẳng liên quan gì
đến tôi, tất cả những ai cần đến Cánh Tay Đỏ chẳng bao giờ
nói thật. Thôi, đếch nói nữa. – Rồi y quay sang Sơn Ca. –
Thật tình mày là gái ngoan, tao thụi mày một quả, mày trả
lại tao một nhát kéo, đúng luật chơi thôi. Nhưng được cái
tốt là mày không đổ thêm dầu vào lửa. Thôi, đi nhậu với bọn
này đi, ông đây sẽ bao mà! Nếu như thế, ông anh ơi, – y
quay sang người lạ mặt – đáng lẽ cho đi “nốc”, chúng ta đi
“mổ” ở nhà mụ Quỷ Cái, chủ quán Thỏ Trắng, một ổ bợm
đấy.
– Được! Tôi sẽ bao bữa tối, đến chứ Sơn Ca?
– Ôi! Cháu đói lắm, nhưng cứ thấy ẩu đả là cháu đã nôn
nao chẳng thiết ăn uống gì nữa.
– Không sao! Không sao! Cứ ăn, sẽ thấy ngon miệng thôi.
Quán Thỏ Trắng nấu tốt chứ! – Chọc Tiết nói.
Cả ba người vui vẻ đi về phía quán ăn.
Trong khi người lạ mặt đánh nhau với Chọc Tiết thì một
người bán than, to như hộ pháp, nấp trong một ngõ khác,
hồi hộp theo dõi nhưng không vào hỗ trợ bên nào cả. Khi
thấy ba người đi về phía quán ăn, người ấy liền đi theo.
Chọc Tiết và cô gái bước vào trước, người lạ mặt theo
sau, lúc đó người bán than tiến lại gần và nói thầm bằng
tiếng Anh, vừa lễ phép, vừa như nhắc nhở:
– Xin Đức ông cẩn thận cho.
Người lạ mặt nhún vai và bước đi.
Người bán than không rời cửa quán, dỏng tai nghe
ngóng, chốc chốc lại nhìn qua lỗ hổng khoét ở mặt kính cửa
sổ quét bột trắng.
CHƯƠNG II
MỤ QUỶ CÁI
Quán Thỏ Trắng ở giữa phố Hàng Đậu, chiếm tầng trệt
của một ngôi nhà cao to, mặt trước có hai cửa sổ kiểu lá
sách sậpcửa máy chém. Trên vòm cửa ra vào tối om treo
lủng lẳng một đèn lồng dài có hàng chữ đỏ trên mặt kính
rạn nứt: Có nơi nghỉ trọ đêm.
Ba người bước vào trong quán.
Đấy là một căn phòng rộng, thấp, trần ám khói với
những rầm đen nhuốm ánh sáng nhờ nhờ của một cây đèn
dầu. Tường trát vữa quét vôi, đầy những hình vẽ tục tĩu,
những câu tiếng lóng. Nền đất nện ẩm ướt nhớp nháp bùn
trải rơm vun thay thảm. Quầy của mụ chủ quán đặt bên
phải cửa ra vào, ngay dưới cây đèn.
Mỗi bên cửa căn phòng có sáu chiếc bàn kèm ghế, một
đầu gắn chặt vào tường. Cuối phòng có cửa thông xuống
bếp; bên phải gần quầy hàng có một lối đi vào những phòng
trọ ổ chuột giá ba xu một tối. Vài nét về mụ chủ quán và
khách hàng của mụ:
Mụ tên là Ponisse, làm nghề chứa trọ, bán quán và cho
những người khốn khổ đầy rẫy trong các ngõ hẻm thuê
quần áo.
Mụ khoảng bốn mươi tuổi, cao lớn, đẫy đà, có ria mép,
giọng ồm ồm như giọng đàn ông, cánh tay to, bàn tay rộng
chứng tỏ một sức khỏe khác thường. Mụ đội mũ trùm, vấn
khăn mỏ quạ màu vàng đỏ, quàng một khăn san lông thỏ
vắt chéo xuống ngực và thắt ra sau lưng. Chiếc váy bằng
len xanh không che kín đôi giày đen cháy lẹm nhiều chỗ vì
mụ hay gác lên bếp lò. Nước da mụ đỏ gay do uống nhiều
rượu mạnh.
Mặt quầy hàng bọc kẽm bày những chiếc bình đai sắt có
quai và nhiều cốc bằng thiếc. Trên một chiếc giá gắn vào
tường có nhiều bình thủy tinh vụng về tạo hình Hoàng đế
toàn thân. Trong bình đựng các loại rượu xanh đỏ đã pha
chế thường được gắn nhãn Tình yêu tuyệt vời, Nguồn an
ủi…
Một con mèo đen, to, mắt vàng ngồi cạnh mụ chủ quán
trông như một tà thần.
Một nghịch cảnh khó tưởng, nếu không nhận biết tâm
hồn con người là một cái gì không dễ thâm nhập, đó là một
cành thông lộc thánh mua ở nhà thờ vào ngày lễ Phục sinh,
đặt sau chiếc vỏ đồng hồ treo tường cũ kĩ.
Hai người mặt mày hung ác, râu ria lởm chởm, quần áo
rách bươm, không thiết gì đến rượu, nhớn nhác thì thầm.
Một trong hai tên, xanh xao, mặt tái mét đội mũ có chỏm
kiểu Hy Lạp sụp xuống tận mí mắt, cố giấu bằng được bàn
tay trái.
Ở bàn phía xa, một gã khoảng mười sáu tuổi, mặt non
choẹt, hốc hác, bủng beo, da thiết bì, mắt lờ đờ, tóc đen
trùm kín gáy, loại thiếu niên sớm trác táng đang rít một tẩu
thuốc ngắn. Lưng dựa vào tường, hai tay thủ trong áo
khoác, chân duỗi thẳng trên ghế, nó chỉ rời chiếc tẩu khi tu
chai rượu mạnh đặt trước mặt.
Những khách quen khác của quán rượu, nam cũng như
nữ đều có chung bộ mặt hoặc dữ tợn hoặc lì lợm. Khi vui thì
thô bỉ, tục tĩu, lúc lặng thì ủ rũ. Đây là tất cả khách của
quán rượu khi bọn ba người Chọc Tiết, Sơn Ca và người lạ
mặt bước vào.
Không thể không giới thiệu kĩ ba nhân vật quan trọng
nổi bật trong thiên truyện này.
Chọc Tiết cao to như hộ pháp có bộ tóc vàng nhạt gần
như trắng, lông mày rậm, chòm râu quai nón hung hung dữ
tợn. Nắng gió, đói khát, công việc khổ sai nặng nhọc đã
khiến nước da y sạm lại xanh bủng, nhợt nhạt, đúng là màu
da đặc biệt của bọn tù. Mặc dù mang cái tên khủng khiếp
“Chọc Tiết”, đặc điểm của con người này là táo bạo, lỗ
mãng chứ không hung ác, tuy cái trán dô ra khác thường
cho thấy trội lên tính cách khát khao tình dục, giết chóc.
Y mặc áo khoác xanh cũ kĩ, quần bằng nhung thô, trước
đây màu xanh, bây giờ phủ một lớp bùn dày nên không
phân biệt được màu gì nữa.
Dị thường và kỳ lạ, Sơn Ca thuộc tầng lớp những người
trong trắng chân thực giữa lúc sa ngã vẫn giữ được bản
chất. Ở những con người như thế, dường như thói hư tật xấu
trở nên bất lực, không thể xóa được các dấu ấn cao quý mà
Thượng đế đã đặc ân phú cho họ.
Sơn Ca mới ngoài mười sáu tuổi, vầng trán trắng trẻo,
thanh khiết, gương mặt trái xoan đều đặn, lông mi dài hơi
cong chia nửa đôi mắt xanh và to. Tuổi dậy thì khiến đôi má
tròn hồng hào thêm mịn màng, miệng nhỏ, đỏ thắm, mũi
dọc dừa thanh tú, má có lúm đồng tiền tạo nét dịu dàng,
duyên dáng. Hai bím tóc màu tro sáng rũ xuống đến giữa
má được tết thành lọn vắt sau dái tai trắng hồng và thắt
bằng chiếc khăn tay lớn vải xanh trông như đuôi sóc.
Một chuỗi hạt san hô ôm lấy cái cổ đẹp trắng nõn nà,
chiếc váy vải tơ pha len quá rộng cho thấy một thân hình
thanh mảnh, mềm mại, thon thả. Chiếc khăn quàng da cam
cũ viền rua xanh lục thắt chéo xuống ngực. Giọng nói
duyên dáng của cô khiến người bảo vệ cô sững sờ. Quả thế,
giọng nói dịu dàng, ngân vang, êm ái ấy có sức lôi cuốn
mạnh nên đám người mạt hạng gồm những tên gian ác và
những phụ nữ lạc loài cùng cảnh, thường nài cô hát, lắng
nghe đắm đuối và gọi cô bằng cái tên đáng yêu: Sơn Ca.
Sơn Ca còn một biệt hiệu khác nữa, có lẽ vì những nét
ngây thơ trong trắng mà bọn người ấy gọi cô là Fleur-deMarie, theo tiếng lóng của chúng có nghĩa là Trinh Nữ.
Rodolphe
Người bênh vực Sơn Ca chừng ba mươi đến ba mươi sáu
tuổi. Bề ngoài của Rodolphe (ta gọi ông là Rodolphe) tập
trung nhiều nét tương phản kỳ lạ. Ông đẹp, có thể nói là
quá đẹp đối với một người đàn ông. Nước da ông tai tái một
cách thanh nhã, đôi mắt màu xanh sáng viền quầng xanh
nhạt, ít khi mở to, dáng đi uể oải, ánh nhìn lơ đãng; nụ cười
châm biếm của một người dường như chán đời vì thể chất
nếu không suy yếu thì ít ra cũng ảnh hưởng cuộc sống giàu
sang thừa thãi, ăn không ngồi rồi, thế nhưng, với bàn tay
thanh nhã, trắng trẻo, Rodolphe vừa quật ngã một tên côn
đồ to khỏe nhất, đáng gờm nhất trong khu phố.
Một vài nếp nhăn trên trán chứng tỏ Rodolphe là người
hay suy nghĩ sâu xa, trầm tư mặc tưởng, thế nhưng vành
môi cương nghị, phong thái uy nghi, quả quyết lại nói lên
con người hành động, có sức mạnh và gan dạ, vượt hẳn
người thường. Ánh mắt ông thường chứa đựng một nét u
sầu và lòng trắc ẩn hào hiệp, lòng thương xót thiết tha hiện
lên nét mặt phúc hậu. Trái lại có những lúc ánh mắt đó trở
nên nghiêm khắc, dữ tợn, khinh khi, tàn nhẫn khiến người
ta khó tin rằng ở con người đó có thể có những xúc cảm dịu
dàng.
Trong lúc giao đấu với Chọc Tiết, Rodolphe không tỏ ra
giận dữ, thù hằn. Tin vào sức mình, vào tài nghệ của mình,
Rodolphe chỉ có sự khinh khi, giễu cợt khi quật ngã y. Để
hoàn chỉnh chân dung Rodolphe, ta phải nói đến màu tóc
hạt dẻ sáng đồng màu với đôi mày cong cong cao quý và
hàng ria mảnh, mượt mà, cái cằm hơi dô, cạo nhẵn. Riêng
lời ăn tiếng nói của Rodolphe giống hệt đám khách trong
quán. Một chiếc cà vạt đen thắt chểnh mảng quanh cái cổ
thon, thanh nhã, đẹp như tượng, buông lơi xuống cổ áo
choàng xanh có màu trắng nhờ nhờ cũ kĩ. Hai hàng đinh
đóng dưới đôi giày thô.
Tóm lại, nhìn bề ngoài, trừ đôi bàn tay thanh nhã khác
thường, khó mà phân biệt được Rodolphe với lũ khách trong
quán, trong khi dáng vẻ quả quyết của ông lại biểu hiện
lòng gan dạ, tỉnh táo khiến khoảng cách giữa họ rất lớn.
Bước vào quán, Chọc Tiết đặt bàn tay rộng, lông lá lên
vai Rodolphe và nói to:
– Tất cả hãy chào đại ca của tao đi! Các mày ạ! Người
anh em này vừa quật ngã tao. Đó là lời khuyến cáo đối với
những ai vẫn có ý định muốn bị gãy sườn hoặc muốn bị đập
vỡ sọ. Kể cả Thầy Đồ, lần này lão sẽ gặp kẻ trên tài… Tao
xin đảm bảo và cược thế đấy!
Nghe câu nói đó, từ mụ chủ quán đến mọi người trong
quán, tất cả đều nhìn người đánh ngã Chọc Tiết bằng con
mắt kính nể, sợ sệt. Một số kéo lùi những chiếc cốc, chiếc
bình ở đầu bàn, vội vàng như muốn dành chỗ ngồi cho
Rodolphe. Một số khác đến gần Chọc Tiết khẽ thì thào để
hỏi những chi tiết về người lạ mặt đã gia nhập thế giới của
họ một cách vẻ vang như vậy.
Mụ chủ quán mỉm nụ cười duyên dáng nhất chào
Rodolphe, một sự kiện thật khác thường, quá sức tưởng
tượng, hoang đường đối với lịch sử quán Thỏ Trắng. Mụ rời
quầy đến bàn Rodolphe xem ông muốn cho những người
cùng đi dùng món gì. Nên nhớ rằng ngay cả Thầy Đồ, tuy
khét tiếng gian ác, đã từng khiến Chọc Tiết phải run sợ
cũng không được mụ quan tâm đối đãi như vậy.
Một trong hai người khách mặt mày hung ác mà ta đã
biết (người xanh xao, luôn che giấu bàn tay trái và kéo sụp
chiếc mũ Hy Lạp xuống trán) cúi xuống bên cạnh mụ chủ
quán hỏi bằng giọng khàn khàn khi mụ đang lau kĩ chiếc
bàn mà Rodolphe ngồi:
– Hôm nay Thầy Đồ có đến không?
– Không.
– Thế hôm qua?
– Lão có đến.
– Với con ghệ mới à?
– Ái chà, mày coi tao là “cớm” à, mày tưởng rằng nghe
mày phỉnh thì tao sẽ bán khách hàng của tao ư? – Mụ đốp
chát trả lời.
– Chiều nay tôi hẹn gặp Thầy Đồ, chúng tôi có việc làm
ăn với nhau.
– Công với việc! Chắc lại một vụ đánh quả đặc biệt của
chúng mày chứ gì, quân giết người!
– Giết người! – Tên côn đồ đay lại, giận dữ. – Chính bọn
giết người nuôi sống mụ đấy.
– Ái chà, có để tao yên không nào? – Mụ chủ quán quát
to, lăm lăm giơ cao chiếc bình trên đầu gã.
Tên kia lẩm bẩm lùi về chỗ ngồi.
Sơn Ca bước theo Chọc Tiết vào trong quán, gật đầu
chào gã thiếu niên có bộ mặt ủ rũ.
Chọc Tiết nói lớn với gã này:
– Ê, Cá Trê, mày vẫn nốc rượu đều đấy chứ?
– Vẫn! Tôi thà nhịn đói, chân không giày còn hơn là thiếu
rượu đổ cổ họng, thuốc nhồi tẩu. – Gã thiếu niên the thé trả
lời và vẫn không thay đổi tư thế, phun khói thuốc lá mù mịt.
– Chào mẹ Ponisse. – Sơn Ca lên tiếng.
– Chào Sơn Ca. – Mụ chủ quán chào lại và đến gần để
xem xét bộ quần áo mà mụ cho cô bé đáng thương thuê.
Sau đó, mụ nói với giọng hài lòng, cục cằn. – Tốt! Cho mày
thuê quần áo cũng khoái, mày sạch như con mèo con. Vì
vậy tao không muốn cho cái bọn phải gió như con Thợ Tiện
và con Đầu Lâu thuê chiếc khăn quàng đẹp màu da cam
này đây. Cũng chính tao đã bảo ban mày từ ngày mày ra tù
là phải thật thà. Cả thành phố này, nói thật, không ai sánh
được với mày.
Sơn Ca cúi đầu không mảy may kiêu hãnh trước những
lời khen của mụ.
– Này! – Rodolphe nói. – Bà cũng có cành lộc thánh ư? –
Vừa hỏi ông vừa chỉ nhánh cây thiêng liêng đặt sau chiếc
đồng hồ.
– Sao kia? Thế cứ phải sống như những kẻ vô đạo à? –
Mụ khờ khạo trả lời. Rồi quay lại với Sơn Ca:
– Sơn Ca, con hát cho chúng ta nghe một vài bài chứ?
– Sau bữa ăn đã, mẹ Ponisse ạ.
– Thưa ông, tôi có thể dọn hầu ông món gì? – Mụ hỏi để
lấy lòng Rodolphe, mong được che chở lúc cần.
– Bà hỏi Chọc Tiết ấy. Anh ta ăn, tôi trả tiền.
– Tốt thôi! – Mụ nói và quay sang tên côn đồ. – Mày
muốn ăn gì, thằng nỡm?
– Hai lít vang mười hai xu, một món thập cẩm* và ba
khoanh bánh mì thật mềm, thêm một bát thập cẩm nữa.
Các thức ăn thừa, khi dọn bàn, đầu bếp nhà giàu lấy
đem bán cho các hàng cơm đầu ghế.
– Tao thấy lúc nào mày cũng là thằng phàm ăn, mày luôn
thích món thập cẩm.
– Này Sơn Ca, – Chọc Tiết hỏi – bây giờ cô em có thấy
đói không?
– Cháu muốn ăn gì, ngoài món thập cẩm? – Rodolphe
hỏi.
– Ồ không, cơn đói của cháu qua rồi.
– Nhưng mày hãy nhìn ông anh tao! – Vừa cười lớn, Chọc
Tiết vừa chỉ Rodolphe. – Mày không dám liếc nhìn ông ấy
nữa sao?
Chọc Tiết, Rodolphe và Sơn Ca
Sơn Ca đỏ mặt, lim dim mắt không trả lời. Một lúc sau,
mụ chủ quán thân hành đến bày lên bàn một bình rượu
vang,
 





