Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Bí quyết thi đậu THPT Quốc gia Môn văn

- 0 / 0
Nguồn: https://ebooknhanh.com
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 10h:05' 20-11-2025
Dung lượng: 35.4 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 10h:05' 20-11-2025
Dung lượng: 35.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NGUYÊN ĐÌNH CH IÊN
(C ao h ọ c T riế t, Đại h ọ c V ăn k h oa S ài Gòn)
quyêt
THI ĐẬU THPT QUỐC GIA
MÔN VẢN
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
16 Hàng Chuối - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Điện thoại: Biên tập - Chế bản: (04) 39714896;
Quản lý xuất bản: (04) 39728806; Tổng biên tập: (04) 39715011
Fax: (04) 39729436
C h ịu t r á c h n h iệ m x u ấ t b ả n :
G iám đốc - T ổ n g biên tập: T S . PH ẠM T H Ị TRÂ M
B iên tập:
B Ù I TH Ư TRA N G
C h ế bả n:
NHÀ SÁ CH H Ồ N G ÂN
T rìn h bày bìa:
NHÀ SÁ CH H Ồ N G ÂN
Đối tác liên kết xuất bả n:
NHÀ SÁ CH HỒNG ÂN
20C Nguyễn T h ị M inh K h ai - Q1 - T P . Hồ C hí M inh
SÁCH LIÊN KẾT
BÍ Q lYẾr THI ĐẬIITHPT Qllỏc GIA MÔA VẢN
Mã số: 2L - 17ĐH2016
In 1.000 cuốn, khổ 17 X 24cm tại Công ti cổ phần Văn hóa Văn Lang.
Địa chỉ: Sô" 6 Nguyễn Trung Trực - P5 - Q. Bình Thạnh - TP. Hồ Chí Minh
Số xuâ"! bản: 299 - 2016/CXB,IPH/06-24/ĐHQGHN, ngày 27/01/2016.
Quyết định xuất bản sô": 96 LK-XH/QĐ - NXBĐHQGHN, ngày 28/01/2016.
In xong và nộp lưu chiểu quý I năm 2016.
Các em h ọc sin h thăn m ến!
Nhằm chuẩn bị cho các em học sinh tham dự vào kì thi THPT Quôc gia.
Chúng tôi biên soạn cuốn sách B í q u y ết t h ỉ đ ậ u T H P T Q u ốc g i a - m ô n Văn.
Nội dung cuốn sách bám sát vào chương trình giáo dục phổ thông của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 và lớp 12 (bộ chuẩn và
bộ nâng cao).
Sách gồm ba phần chính:
P h ầ n th ứ n h ấ t: Nghị luận văn học (đây là phần chủ yếu)
P h ầ n th ứ h ai: Nghị luận xã hội.
P h ầ n th ứ b a: Cấu trúc đề thi Đại học theo hướng mới của Bộ Giáo dục
và Đào tạo năm 2014.
P h ầ n th ứ tư: Cấu trúc đề thi THPT Quôc gia theo hướng mới của Bộ
Giáo dục và Đào tạo năm 2015.
Đặc biệt trong phần thứ nhất, chúng tôi hướng dẫn ôn tập những bài văn
theo trình tự thời gian:
- Văn học thời kì 1930 - 1945 (theo chương trình ngữ văn lớp 11 với nội dung
văn học mang xu thê lâng mạn - hiện thực phê phán - hiện thực Cách mạng).
- V ăn h ọ c th ờ i kì 1945 - 1975 (theo chương trình ngữ văn lớp 12 với
nội dung văn học mang xu thê hiện thực Cách mạng).
- V ăn h ọ c th ờ i kì 1975 đến h ế t th ế kỉ XX (văn học thời kì đổi mới).
Trong phần này, các bài ôn tập đều có cấu trúc của một đề tuyển sinh:
- Câu hỏi giáo khoa nhằm tái hiện kiến thức cơ bản.
- Đề văn nghị luận, ơ loại câu hỏi này, chúng tôi soạn hai phần:
+ P hần đầu là “những kiến thức cần nắm vững” để phân tích một đoạn
thơ, một bài thơ hay một tác phẩm, một nhân vật văn học. Bên cạnh đó,
chúng tôi còn gợi ý bổ sung thêm một số kiến thức ở các tác phẩm khác có
liên quan gần gũi với tác phẩm cần phân tích...
+ Phần sau là hướng dẫn xây dựng một bài văn trên cơ sở bộ đề thi của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, tác giả biên soạn thành những bài hướng dẫn
“VĂN” nhằm cung cấp cho các em học sinh những kiến thức cơ bản và
phương pháp làm từng kiểu bài do đề thi yêu cầu.
Hi vọng cuô'n sách sẽ góp phần giúp các em học sinh chuẩn bị tôt kiến
thức để đạt kết quả mong muốn trong kì thi THPT Quốc gia sắp tới.
Dù chúng tôi đã rất cố gắng để cuốn sách đạt chất lượng tốt nhất, nhưng
chắc sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Mong được quý bạn đọc, quý
thầy (cô), các bậc phụ huynh và các em học sinh góp ý kiến để tác giả có thể
hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau.
Mọi ý kiến đóng góp xin liên hệ:
Nhà sách Hồng  n: 20C Nguyễn Thị Minh Khai - Quận 1 - TP HCM
Email: nhasachhongan@hotmail.com
Chân thành cảm ơn.
Tóc g i ả
N g u y ễn Đ ìn h C h iế n
NGHỊ LUẬN VẢN HỌC
VĂN HOC THỜI KÌ 1930-1945
I . ] VĂN HỌC CÁCH MẠNG - NHỮNG BÀI THƠ
CỦA TÁC GIẢ HỔ CHÍ MINH
trong tập thơ “Nhật kí trong tù”
Đề tuyển sinh: Anh (chị) iàm rõ hai câu sau đây:
Câu 1: Trình bày hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nội dung Tập thơ
“N h ậ t k í tr o n g tù ” của tá c giả Hồ Chí Minh.
Câu 2: Hãy vận dụng thơ văn tiêu biểu trong Tập thơ “N h ậ t k í tro n g
tù ” củ a tá c giả Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ tâm lòng yêu
thương con người sâu sắc của chính tá c giả._____________________
HƯỚNG DẨN
Câu 1 : Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nội dung Tập thơ “N h ậ t k í tron g tù ”.
1. Hoàn cảnh ra đời.
Tháng tám năm 1942 tác giả Nguyễn Ái Quôh đổi tên là Hồ Chí Minh để
sang Trung Quôh với tư cách đại biểu Việt Nam trong phong trào độc lập Đồng
minh nhằm xin viện trợ của thế giới, tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Suốt mười lăm ngày đi bộ băng rừng đến Túc Vinh (Quảng Tây - Trung Quốc).
Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch nghi ngờ làm gián điệp và bắt giam.
Những ngày tháng trong nhà tù, gần mười ba nhà tù của mười ba huyện thuộc
tỉnh Quảng Tây, tác giả đã chứng kiến những cảnh tượng đau lòng bức xúc đối với
tù nhân và thấy được một xã hội bất công thối nát cùng những sự việc của thế giới
bên ngoài, tác giả hiểu rất rõ để viết lên những trang nhật kí bằng thơ được gọi là
“Ngục trung nhật kí” gồm 134 bài, viết băng chữ hán với thể thơ thất ngôn tứ
tuyệt, sáng tác từ tháng tám năm 1942 đến tháng chín nàm 1943. Sau đó tập
“Ngục trung nhật kỉ” được gọi “Nhật kí trong tù” là một văn kiện lịch sử quý báu,
một tác phẩm văn chương được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.
2. Ý nghĩa - nội dung củ a tập thơ:
Tập thơ Nhật kí trong tù nêu bật hai ý chính;
ý 1: T ố c á o th ự c t r ạ n g x ã h ộ i b ấ t c ô n g cù n g c h ế đ ộ n h à tù d ã m a n
hóc lột, c h à đ ạ p n h ă n p h ẩ m co n người.
- Thưc trang xã hỏi bất công thôi nát: ''Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội. Trong
tù đánh bạc được công k h a i”. {“Đánh bạc” - Hồ Chí Minh)
- Chà đap ĩên nhân phẩm con người: “Con người coi rẻ hơn con lợn. Chỉ tại
người không có chủ quyền”. {“Đám binh khiêng lợn cùng đ i” - Hồ Chí Minh)
- Khủng bô' đàn áp phu nữ và trẻ thơ: “Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi. Phải
theo mẹ đến ở nhà p h a ”. {“Cháu bé trong nhà lao Tân Dương” - Hồ Chí Minh)
Y 2: N h à t h ơ th ế h iệ n bứ c c h â n d u n g tự h ọ a về n g ư ời c h iê n s ĩ cộ n g
s ả n H ồ C h í M inh với m ộ t tâ m h ồ n lớn, d ũ n g k h í lớn, t r í tu ệ lớ n d ư ợ c t h ể
h iệ n q u a n h ữ n g h ìn h ả n h sa u :
Hình ảnh 1: Một nhà ái quôc yêu nước: “Canh bốn, canh năm vừa chợp mát Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”. {“Không ngủ được” - Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 2: Một người chiến sĩ với nghị lực phi thường; “Thân thể ở trong lao.
Tinh thần ở ngoài lao. Muốn nên sự nghiệp lớn. Tinh thần càng p h ải cao”. {“Đề T ìf'
- Hồ Chí Minh).
Hình ảnh 3: Một người chiến sĩ với niềm tin tưởng lạc quan cách mạng:
“Hơi ấm bao la toàn vũ trụ. Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”. {“G iải đi sớm"
- Hồ Chí Minh)
Hinh ảnh 4: Một tấm lòng yêu thương con người sâu sắc: “Cô em xóm núi xay
ngô tối, Xay hết lò than dã rực hồng". (“Chiều tối"- Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 5: Một tâm hồn nhạy cảm trước mọi trạng thái của thiên nhiên: “Người
ngắm trăng soi ngoài cửa sổ. Trăng nhòm khe cỉta ngắm nhà th đ '. (“Ngắm trăng" Hồ Chí Minh).
Câu 2: Tấm lòng yêu thương con người sâu sắc củ a chính tá c giả trong
tập thơ “N h ậ t k í tr o n g tù ”.
Nhắc đến tập thơ nhật kí của tác giả Hồ Chí Minh, người đọc thấy rõ thực
trạng xã hội bâ't công của chế độ nhà tù dã man dưới chính quyền Tưởng Giới
Thạch đôi với phạm nhân, đồng thời toát lên một tấm lòng yêu thương con
người sâu sắc của chính tác giả với những tháng ngày trong nhà tù. Tác giả là
một nhà thơ, một người chiến sĩ trước hoàn cảnh đọa đày cơ cực, khủng bố, đàn
áp từ thân thế đến tinh thần nhưng Người vẫn không quên trước nỗi đau của
đồng loại là thể hiện tình cảm nhân đạo sâu sắc trong tâm hồn tác giả.
MINH HỌA
Hình ảnh 1: Trên đoạn đường chuyển lao giữa đất khách quê người, bóng
đêm bắt đầu bao trùm, nhưng tác giả đã quên đi nỗi đau của riêng mình để
hướng về cuộc sôhg người dân lao động miền núi cùng đồng cảm, chia sẻ, tin yêu
trước cuộc sông của họ, sẽ tô't đẹp, được ghi lại bằng những vần thơ thấm đẫm
tình người với hình ảnh: “Cô em xóm núi xay ngô tối. Xay hết lò than đ ã rực
hồng". {“Chiều tối” - Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 2: Những ngày tháng trong nhà lao, nhưng tác giả luôn luôn chia
sẻ, đồng cảm trước công việc cực nhọc gian khổ của người phu làm đường để viết
lên những vần thơ bày tỏ tình thương cùng sự quý mến của tác giả với hình ảnh:
“Giải nắng dầm mưa chảng nghỉ ngơi. Phu đường vất vả lắm ai ơi!”. {“Phu làm
đường” - Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 3: Tác giả cũng lo lắng, chia sẻ cuộc sống của những người nông dân
Trung Quốc khi mất mùa đại hạn với lời thơ: “Nghe nói Xuân này trời đại hạn.
Mười phân thu hoạch chỉ vài phân ”. {“Long An - Đồng Chính” —Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 4: Khi người nông dân Trung Quôc được mùa, tác giả vui trước
cuộc sông no đủ của họ với lời thơ: “K hắp chốn nông dân cười hán hở. Đồng quê
vang dậy tiếng ca vui”. {“Cảnh đồng nội” - Hồ Chí Minh)
Nhận x é t chung: Những vần thơ trong Tập nhật kí vừa được minh họa qua
nét bút của Hồ Chí Minh, gợi cho người đọc tìm thấy dù trong hoàn cảnh cơ cực,
tù đày nhưng tác giả như quên đi nỗi đau của riêng mình để cùng thương cảm,
xót xa, kê cả chia vui trước cuộc sống của người dân Trung Quô'c bằng những vần
thơ thấm đẫm tình người là thế hiện tình cảm nhân đạo sâu sắc trong tâm hồn
người chiến sĩ Hồ Chí Minh. Đúng như lời nhận định của nhà phê bình Hoài
Thanh; “Tập thơ N hật kí trong tù là tiếng nói chứa chan tình nhân đạo”.
Đề tuyển sinh: Anh (chị) trình bày ngắn gọn bài thơ “C h iề u t ố i” (Mộ)
của tác giả Hồ Chí Minh trích trong tập thơ “N h ậ t k í tron g tù ”
là thi phẩm vừa thể hiện màu sắc cổ điển và hiện đại.
S ! ững kiến th ứ c cầ n nắm :
1. Ca dao có viết: “Chim bay về núi tối rồỉl”. (Ca dao)
2. Thi hào Nguyễn Du có nói: “Chũn hôm thoi thót về rừng”. (Nguyễn Du)
3. Bà Huyện Thanh Quan trong bài “Chiều hôm nhớ n hà” có viết; “Ngàn m ai gió
cuốn chim bay m ỏi” và “Kè chốn chương đài, người lữ thứ. B iết ai m à tỏ nỗi
hàn ôn”. (Bà Huyện Thanh Quan)
4. Bà Huyện Thanh Quan trong bài “Qua Đèo Ngang” có viết: “Dừng chân đứng
lại trời non nước. Một m ảnh tình riêng ta với ta”. (Bà Huyện Thanh Quan)
5. Nhà thơ Thôi Hiệu (Trung Quôh) trong bài thơ “Hoàng Hạc L âu ” có viết:
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị - Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Nhà
thơ Tản Đà có dịch: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn - Trên sông khói
sóng cho buồn lòng a i”.
HƯỚNG DẪN
1. Nét đẹp cổ điển trong bài thơ “C h iều t ố i” của tá c giả Hồ Chí Minh.
Thể hiện qua hai câu thơ đầu:
“Chim mỏi về rừng tim chốn ngủ.
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng khôn g”.
(Chiều tố i- Hổ Chí Minh)
v ề thế loại thơ: Đây là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, ảnh hưởng phong cách
của Đường Thi (Trung Quôh).
v ề h ìn h ả nh thơ: Hình ảnh cánh chim chiều mỏi mệt, áng mây chiều cô
đơn, lẻ loi là vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của không gian mà các thi nhân
xưa thường mượn cảnh đẹp ấy đê nói lên bước đi của thời gian như trong ca dao
có viết: “Chim bay về núi tối rồi”] thi hào Nguyễn Du có viết: “Chim hôm thoi
thót về rừng"] Bà Huyện Thanh Quan trong “Chiều hôm nhớ n h à” có viết: “Ngàn
mai gió cuốn chim bay m ỏi” hay nhà thơ Lý Bạch (Trung Quốc) cũng viết:
“Chúng điểu cao p h i tận. Cô vân độc khứ nhàn”. Như vậy, bài thơ “Chiều tôi”
qua bút pháp của tác giả Hồ Chí Minh cũng nói lên cánh chim chiều “quyện
điểu ” và áng mây lẻ loi “có văn” để miêu tả chiều đã về là ảnh hưởng phong
cách cố điển của thơ xưa.
về tâm trạ n g củ a tác g iả : Các thi nhân xưa thường mượn hình ảnh thiên
nhiên để bày tỏ nỗi lòng như bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh
Quan, nhà thơ nhìn cảnh Đèo Ngang lúc chiều về, lại nói lên nỗi niềm cô đơn
của tác giả qua lời thơ cuôì “Một mảnh tình riêng ta với ta” hay trong bài thơ
“Chiều hôm nhớ n h à” chính tác giả đã tỏ bày nỗi lòng của mình qua câu thơ
cuôi: “Biết ai m à tỏ nỗi hàn ôn”. Nhìn lại bài thơ “Chiều tối” của tác giả Hồ Chí
Minh cũng mang một tâm trạng như thế tiêu biểu qua cánh chim chiều mỏi mệt
sau một ngày vất vả kiếm mồi gợi cho người đọc hiểu được, cảm nhận được, cánh
chim mỏi ấy mang hình ảnh người chiến sĩ, một người tù trên đoạn đường
chuyển lao sau một ngày mệt nhọc và hình ảnh áng mây chiều lẻ loi, trôi lơ lửng
giữa bầu trời gợi cho chúng ta hình dung hình ảnh người chiến sĩ, người tù trên
đường chuyển lao vẫn cô đơn, lẻ loi giữa đất khách đó là phong cách của tác giả,
ảnh hưởng của thơ xưa, mượn cảnh để bày tỏ tình cảm, nỗi lòng của thi nhân là
nét đẹp cổ điển trong hồn thơ “Chiều tối”.
2. Nét đẹp hiện dại trong bài thơ ''Chiều tối” của tác giả Hồ Chí Minh.
Thể hiện qua hai câu thơ cuô'i:
“Cô em xóm núi xay ngô tối.
Xay hết lò than đ ã rực hồng”
(Chiều tố i- Hổ Chí Minh).
Về h ìn h tượng thơ: Xuất hiện vẻ đẹp con người là nhân vật trung tâm cho
toàn bài thơ, tiêu biểu là hình ảnh người thiếu nữ miền núi tràn đầy sức sôhg
đang xay ngô với hai cánh tay đều đặn, đây là một nét mới trong hồn thơ
“Chiều tối” là vẻ đẹp hiện đại của tác phẩm.
8
về h ìn h ả n h th ơ : Hình ảnh bếp lửa hồng rực đỏ, xua tan bóng đêm tăm tôl
lạnh lẽo của núi rừng để hướng về ánh sáng về sự sống là nét mới là vẻ đẹp
hiện đại trong tác phẩm.
v ề tă m tr ạ n g c ủ a t á c g iả : Tâm trạng của tác giả trong hồn thơ “Chiều tối”
không mang niềm u hoài bế tắc như trong thơ xưa tiêu biểu là bài thơ “Qua Đèo
Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan có viết: “Dừng chân đứng lại trời non nước.
Một mảnh tình riêng ta với ta”. Nhưng bài thơ “Chiều tối” của tác giả Hồ Chí
Minh, hình ảnh bếp lửa hồng, lò than đã rực hồng là nói lên niềm lạc quan, tin
yêu của con người ở một ngày mai tươi sáng, đặc biệt từ “hồng” ở cuôl bài thơ,
hàm ẩn cho người đọc hiểu rằng, tâm hồn người chiến sĩ, người tù trên đường
chuyến lao lúc ây vẫn hi vọng một ngày mai tươi đẹp, tiếp tục cuộc đấu tranh,
giải phóng cho dân tộc là nét đẹp hiện đại trong hồn thơ “Chiều tối”.
3.
Nhận x é t chung: Bài thơ “Chiều tối” là sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc
cổ điển và hiện đại, tạo nên một bức tranh chiều thật sống động, giàu sức biểu
cảm, toát lên niềm tin yêu cuộc sông con người và niềm hi vọng, lạc quan một
ngày mai tươi sáng trong tâm hồn nhà thơ là giá trị, sức sông cho tác phẩm.
Để tuyển sinh: Anh (chị) làm rõ hai câu sau đây:
Câu 1: Ghi lại bài thơ “L a i T â n ” của tá c giả Hồ Chí Minh trích trong
tập thơ “N h ậ t k í tro n g tù ” và nêu rõ chủ đề của tá c phẩm.
Câu 2: Anh (chị) có nhận x é t gì về bài thơ “L a i T ă n ” củ a tá c giả Hồ
Chí Minh trích trong tập thơ “N h ậ t k i tr o n g tù?”.
HƯỚNG DẪN
Câu 1: B ài thơ L a i T â n của tá c giả Hồ Chí Minh trích trong tập thơ
“N h ậ t k í tr o n g t ù ” như sau:
“Ban trưởng nhà lao chuyên đán h bạc
Giải người cảnh trưởng kiếm ăn quanh
Chong đèn huyện trưởng lo công việc
Trời đất L ai Tân vẫn thái bình.”
(Nam Trân dịch - Sách Văn học 11)
C hủ đ ề b à i t h ơ L a i T â n : Tác giả viết lên nhằm tô' cáo những kẻ đại diện
cho bộ máy thông trị của xã hội Trung Quô'c dưới chính quyền Tưởng Giới Thạch
lúc bấy giờ tham nhũng và thôi nát.
Câu 2: Nhận x é t vể bài thơ “L a i T ă n ” của tá c giả Hồ Chí Minh trích
trong tập thơ “N h ậ t k í tr o n g tù ”:
1. Nhận x é t ba câu thơ dầu:
“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc
Giải người cảnh trưởng kiếm ăn quanh
Chong đèn huyện trưởng lo công việc”
(Trích Lai Tân - Hổ Chí Minh)
Tác giả dựng cảnh làm việc của những kẻ đại diện bộ máy thống trị của xã hội
Trung Quốc dưới chính quyền Tưởng Giới Thạch lúc bấy giờ là bất công, thối nát.
Xót xa thay, những kẻ đại diện cho pháp luật, chính quyền, cho phép nước mà hoạt
động hoàn toàn đi ngược lại pháp luật, vi phạm pháp luật, điển hình như Ban
trưởng, Cảnh trưởng, Huyện trưởng đều là những kẻ có chức, có quyền đại diện cho
dân, cho cán cân công lí, cho sự nghiêm minh của luật pháp nhưng chức vụ và việc
làm của họ hoàn toàn đôl lập đi ngược lại chức năng và nhiệm vụ của chính mình,
tiêu biểu là Ban trưởng, người quản lí trại giam, kẻ thực thi pháp luật đối với tội
phạm nhưng lại là kẻ chuyên đánh bạc, nghiện cờ bạc, chứng tỏ Ban trưởng là tay
cờ bạc chuyên nghiệp thì còn gì là kẻ thực thi cho pháp luật, chứng tỏ hắn đã vi
phạm pháp luật còn nặng hơn, tính chất sự việc còn nghiêm trọng hơn càng thấy rõ
sự bất công, thối nát của chế độ nhà tù dưới chính quyền Tưởng Giới Thạch lúc bấy
giờ. Chúng ta còn nhớ bài thơ “Đánh bạc” của tác giả Hồ Chí Minh trích trong tập
thơ “Nhật kí trong tù” cũng nói lên sự thối nát bất công như thế qua lời thơ: “Đánh
bạc ớ ngoài quan bắt tội. Trong tù đánh bạc được công kh ai”. Tiếp đến là cảnh
trưởng, một tên cảnh sát trưởng có nhiệm vụ chuyến giải phạm nhân, thực thi
pháp luật đem lại trật tự xã hội nhưng mỉa mai thay, lúc giải người, hắn đã dở
trò ma mãnh với tiếng gọi “kiếm ăn quanh” nhằm phơi bày bộ mặt bỉ ổi của kẻ
ăn hôl lộ đế vun đắp cho cuộc sông vật chất riêng tư của hắn, thì hỏi rằng, hành
động bỉ ổi của hắn là thực thi luật pháp hay luật rừng và kẻ thi hành luật pháp
như tên cảnh trưởng thật là vô liêm sỉ. Rồi đến huyện trưởng chong đèn io công
việc mà lo việc gì đây? Có thể chong đèn hút thuôc phiện hay làm những việc
bâ't chính, phi pháp để vòi vĩnh phạm nhân, thật là đê tiện, mỉa mai cho kẻ đại
diện chính quyền mà người đời thường gọi là “quan chi phụ mẫu”, là tâ"m gương
sáng của dân vì dân mà lo cho dân như cha mẹ nhưng lại là kẻ vi phạm luật
pháp trắng trợn, chúng đã ung dung, ngang nhiên chạy theo vật chất đế vòi
vĩnh là hành động bất chính, càng thấy rõ bộ máy thông trị của xã hội Trung
Quô'c lúc bấy giờ thật đồi bại, thôi nát.
2. Nhận x é t lời thơ cuôi: (câu 4)
Lời thơ cuôl: “Trời đất L ai Tân vẫn thái bìn h”. Với giọng thơ châm biếm,
thâm thúy nhằm đã kích, lên án bộ máy thôhg trị thôi nát dưới chính quyền
Tưởng Giới Thạch như một tiếng thở dài của tác giả, phơi bày một xã hội mà
những kẻ cầm quyền, đại diện cho luật pháp, lại tự do ngang nhiên vi phạm
pháp luật mà chúng vẫn bình thản, an nhiên, vô sự, vẫn ung dung hưởng lạc
trên nỗi đau khổ của nhân dân như không có chuyện gì xảy ra, nhăm lên án một
chính quyền bất công, thôi nát, một “xã hội đại loạn” đúng như lời người xưa
từng nói: “Thượng bất chánh, hạ tắc loạn”, trên dưới đều loạn. Thật là mỉa mai.
10
3.
Nhận xét chung: Lai Tân với ngòi bút sắc bén của tác giả Hồ Chí Minh, tác
giả đã khắc họa bức tranh trào phúng đặc sắc không chỉ đả kích một vài viên quan
cá biệt, cụ thế mà ngòi bút của tác giả, đã viết lên nhằm lên án cả một bộ máy
thống trị thối nát dưới thời chính quyền Tưởng Giới Thạch. Với nghệ thuật châm
biếm độc đáo, sắc sảo của tác giả, bài thơ cho ta thấy rõ, con người chiến sĩ trong
con người tù đã dũng cảm, dám đứng lên đấu tranh bằng ngòi bút đanh thép đế
phơi bày bộ mặt thống trị của chính quyền Tưởng Giới Thạch trong nhà tù cũng
như ngoài xã hội. Chứng tỏ tác giả Hồ Chí Minh là một chiến sĩ, một người nghệ sĩ
chân chính đã viết lên những vần thơ thép nhưng thấm đẫm một chất tình. Đúng
như lời bày tỏ của tác giả: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em
là một chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
TỪ ẤY
Tố Hưu
Để tuyển sinh: Anh (chị) làm rõ hai câu sau đây:
Câu 1: Viết lại dầy đủ bài thơ '"Từ ấy" của nhà thơ Tô Hữu và nêu lên
hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nội dung cùng chủ đề của tác phẩm.
Câu 2: Anh (chị) giải thích tựa đề “T ừ ấ y ” trong bài thơ cùng tên của nhà
thơ Tô Hữu.
HƯỚNG DẨN
Câu 1: B ài thơ “T ừ ấy" qua nét bút của Tô Hữu;
T ừ ấy
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim ...
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Đ ể tình trang trải với trăm nơi
D ể hồn tôi với bao hồn k h ổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối dời.
Tôi đ ã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi p h a
L à anh của vạn dầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ ...
(Trích Tập thơ "Từ ẩy”)
11
1. Hoàn cảnh sáng tác:
Tháng chín năm 1938 người thanh niên trẻ Tô Hữu được kết nạp vào Đảng
Cộng sản Việt Nam. Đây là niềm vinh dự rất lớn cho nhà thơ cũng là niềm sung
sướng tràn ngập tâm hồn người thanh niên trẻ khi tìm được lôl ra, lí tưởng sông
cho cuộc đời mình. Niềm sung sướng ấy, Tô' Hữu đã viết lên bài thơ “Từ ấy". Bài
thơ trích trong tập thơ “Từ ấy" (1937-1946). Đây là tập thơ đầu tay của Tố Hữu.
2. Ý nghĩa nội dung;
Bài thơ “Từ ấy" có hai ý chính:
Ý 1: Bôn câu đầu: “Từ ấy ... rộn tiếng chim".
Ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thắp sáng trong tâm hồn người
thanh niên trẻ một lí tưởng sô'ng đẹp.
Ý 2: Hai khổ thơ còn lại: “Tôi buộc ... cù bất cù bơ".
Hai khố thơ còn lại nói lên tình yêu giai câ'p, những con người cùng khổ sẽ
cùng nhà thơ kết hợp lại, tạo thành một sức mạnh để đâu tranh giải phóng cuộc
đời mình và giải phóng dân tộc.
C hủ đ ề : “Từ ấy”, bài thơ đầu tay của Tố Hữu, toát lên một ánh sáng mới,
ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thắp sáng trong tâm hồn người thanh
niên một lí tưởng sống đẹp. Sông phải biết cống hiến, dân thân cùng đứng lên
đấu tranh giành lại cuộc đời giành lại tự do độc lập cho dân tộc.
Câu 2: Giải thích tựa đề “Tù' âý”:
Vào những năm 1937-1938, đất nước ta vẫn chìm trong bóng đêm, nhân dân lầm
than đói khổ. Chính thời điểm này, người thanh niên trẻ Tố Hữư đã tìm được lối ra
cho cuộc đời mình. Đó là giây phút, nhà thơ đón nhận ánh sáng của chii nghĩa Mác
- Lênin. Ánh sáng ấy soi rọi vào tâm hồn người thanh niên trẻ một nhận thức mới,
một cái nhìn mới và niềm vinh dự, sung sướng là cuối mùa thu, tháng chín năm
1938, Tố Hữu được kết nạp Đảng, trở thành người Đảng viên trẻ của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Hai tiếng “Từ ấy” đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời thơ Tố
Hữu, khi đón nhận một lí tưởng sống đẹp từ ánh sáng cách mạng và sẵn sàng đem
sức trẻ, tuổi thanh xuân để cống hiến cho đời cho cách mạng để cuộc sống có ý
nghĩa. Tựa đề “Từ ấy” của bài thơ xuất phát từ những suy nghĩ trên.
Để tuyển sinh: Anh (chị) phân tích bài thơ “T ừ ấ y ” củ a nhà thơ Tô
Hữu trích tron g tập thơ cùng tên của chính tá c giả dể thấy
đưỢc tâm trạ n g diễn biến của người thanh niên trẻ khi đón
nhận ánh sáng Mác - Lênin.
iSỈững kiến
thức c ầ n nắm :
1. Nhà văn Pháp Aragông bày tỏ: “Đảng cho tôi sáng mắt sáng lòng”
12
2. Tô" Hữu bày tỏ nỗi lòng khi chưa tìm được lối ra với lời thơ: “Băn khoăn đi
kiêm lẽ yên đời”. (Tô" Hữu)
3. Triết gia người Áo - Nayrac có nói: “Niềm vui là hương thơm của cuộc đời,
làm thay đổi cả máu huyết và trí tuệ". (Nayrac)
4. Tô Hữu bày tỏ: “Lòng tôi sung sướng vô cùng kh i đón nhận ánh sáng của chủ
nghĩa Mác - L êìiin ”. (Tô Hữu)
5. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có viết: “Khi chúng ta cầm tay mọi người. Đất
nước vẹn tròn to lớn”. (“Đất Nước” - Nguyễn Khoa Điềm)
6. Nhà thơ Xuân Quỳnh từng nói: “Làm sao được tan ra... Giữa biển lớn tỉnh
yêu”. (“Sóng” - Xuân Quỳnh)
7. Nhà thơ Chế Lan Viên bày tỏ: “Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp. Một
mái nhà yên rũ bóng xuống tâm hồn”, (trích “Người đi tim hình của Nước” Chế Lan Viên)
HƯỚNG DẨN
I. PHẦN GIỚI THIỆU
“Đảng cho tôi sáng mắt sáng lòng”
(Aragỏng - Pháp)
Lời bày tỏ của nhà vàn Pháp Aragông toát lên một lí tưởng sống đẹp, đưa chúng ta
nhớ về bài thơ “Từ ấy" của Tố Hũu tríbh trong tập thơ cùng tên của tác giả, thế hiện
một quan niệm sống đẹp khi nhà thơ đón nhận ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Cần phân tích bài thơ đê làm rõ tâm trạng diễn biến của người thanh niên trẻ
Tô Hữu khi đón nhận ánh sáng Mác - Lênin.
II. PHẦN TRỌNG
(C ao h ọ c T riế t, Đại h ọ c V ăn k h oa S ài Gòn)
quyêt
THI ĐẬU THPT QUỐC GIA
MÔN VẢN
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
16 Hàng Chuối - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Điện thoại: Biên tập - Chế bản: (04) 39714896;
Quản lý xuất bản: (04) 39728806; Tổng biên tập: (04) 39715011
Fax: (04) 39729436
C h ịu t r á c h n h iệ m x u ấ t b ả n :
G iám đốc - T ổ n g biên tập: T S . PH ẠM T H Ị TRÂ M
B iên tập:
B Ù I TH Ư TRA N G
C h ế bả n:
NHÀ SÁ CH H Ồ N G ÂN
T rìn h bày bìa:
NHÀ SÁ CH H Ồ N G ÂN
Đối tác liên kết xuất bả n:
NHÀ SÁ CH HỒNG ÂN
20C Nguyễn T h ị M inh K h ai - Q1 - T P . Hồ C hí M inh
SÁCH LIÊN KẾT
BÍ Q lYẾr THI ĐẬIITHPT Qllỏc GIA MÔA VẢN
Mã số: 2L - 17ĐH2016
In 1.000 cuốn, khổ 17 X 24cm tại Công ti cổ phần Văn hóa Văn Lang.
Địa chỉ: Sô" 6 Nguyễn Trung Trực - P5 - Q. Bình Thạnh - TP. Hồ Chí Minh
Số xuâ"! bản: 299 - 2016/CXB,IPH/06-24/ĐHQGHN, ngày 27/01/2016.
Quyết định xuất bản sô": 96 LK-XH/QĐ - NXBĐHQGHN, ngày 28/01/2016.
In xong và nộp lưu chiểu quý I năm 2016.
Các em h ọc sin h thăn m ến!
Nhằm chuẩn bị cho các em học sinh tham dự vào kì thi THPT Quôc gia.
Chúng tôi biên soạn cuốn sách B í q u y ết t h ỉ đ ậ u T H P T Q u ốc g i a - m ô n Văn.
Nội dung cuốn sách bám sát vào chương trình giáo dục phổ thông của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 và lớp 12 (bộ chuẩn và
bộ nâng cao).
Sách gồm ba phần chính:
P h ầ n th ứ n h ấ t: Nghị luận văn học (đây là phần chủ yếu)
P h ầ n th ứ h ai: Nghị luận xã hội.
P h ầ n th ứ b a: Cấu trúc đề thi Đại học theo hướng mới của Bộ Giáo dục
và Đào tạo năm 2014.
P h ầ n th ứ tư: Cấu trúc đề thi THPT Quôc gia theo hướng mới của Bộ
Giáo dục và Đào tạo năm 2015.
Đặc biệt trong phần thứ nhất, chúng tôi hướng dẫn ôn tập những bài văn
theo trình tự thời gian:
- Văn học thời kì 1930 - 1945 (theo chương trình ngữ văn lớp 11 với nội dung
văn học mang xu thê lâng mạn - hiện thực phê phán - hiện thực Cách mạng).
- V ăn h ọ c th ờ i kì 1945 - 1975 (theo chương trình ngữ văn lớp 12 với
nội dung văn học mang xu thê hiện thực Cách mạng).
- V ăn h ọ c th ờ i kì 1975 đến h ế t th ế kỉ XX (văn học thời kì đổi mới).
Trong phần này, các bài ôn tập đều có cấu trúc của một đề tuyển sinh:
- Câu hỏi giáo khoa nhằm tái hiện kiến thức cơ bản.
- Đề văn nghị luận, ơ loại câu hỏi này, chúng tôi soạn hai phần:
+ P hần đầu là “những kiến thức cần nắm vững” để phân tích một đoạn
thơ, một bài thơ hay một tác phẩm, một nhân vật văn học. Bên cạnh đó,
chúng tôi còn gợi ý bổ sung thêm một số kiến thức ở các tác phẩm khác có
liên quan gần gũi với tác phẩm cần phân tích...
+ Phần sau là hướng dẫn xây dựng một bài văn trên cơ sở bộ đề thi của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, tác giả biên soạn thành những bài hướng dẫn
“VĂN” nhằm cung cấp cho các em học sinh những kiến thức cơ bản và
phương pháp làm từng kiểu bài do đề thi yêu cầu.
Hi vọng cuô'n sách sẽ góp phần giúp các em học sinh chuẩn bị tôt kiến
thức để đạt kết quả mong muốn trong kì thi THPT Quốc gia sắp tới.
Dù chúng tôi đã rất cố gắng để cuốn sách đạt chất lượng tốt nhất, nhưng
chắc sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Mong được quý bạn đọc, quý
thầy (cô), các bậc phụ huynh và các em học sinh góp ý kiến để tác giả có thể
hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau.
Mọi ý kiến đóng góp xin liên hệ:
Nhà sách Hồng  n: 20C Nguyễn Thị Minh Khai - Quận 1 - TP HCM
Email: nhasachhongan@hotmail.com
Chân thành cảm ơn.
Tóc g i ả
N g u y ễn Đ ìn h C h iế n
NGHỊ LUẬN VẢN HỌC
VĂN HOC THỜI KÌ 1930-1945
I . ] VĂN HỌC CÁCH MẠNG - NHỮNG BÀI THƠ
CỦA TÁC GIẢ HỔ CHÍ MINH
trong tập thơ “Nhật kí trong tù”
Đề tuyển sinh: Anh (chị) iàm rõ hai câu sau đây:
Câu 1: Trình bày hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nội dung Tập thơ
“N h ậ t k í tr o n g tù ” của tá c giả Hồ Chí Minh.
Câu 2: Hãy vận dụng thơ văn tiêu biểu trong Tập thơ “N h ậ t k í tro n g
tù ” củ a tá c giả Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ tâm lòng yêu
thương con người sâu sắc của chính tá c giả._____________________
HƯỚNG DẨN
Câu 1 : Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nội dung Tập thơ “N h ậ t k í tron g tù ”.
1. Hoàn cảnh ra đời.
Tháng tám năm 1942 tác giả Nguyễn Ái Quôh đổi tên là Hồ Chí Minh để
sang Trung Quôh với tư cách đại biểu Việt Nam trong phong trào độc lập Đồng
minh nhằm xin viện trợ của thế giới, tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Suốt mười lăm ngày đi bộ băng rừng đến Túc Vinh (Quảng Tây - Trung Quốc).
Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch nghi ngờ làm gián điệp và bắt giam.
Những ngày tháng trong nhà tù, gần mười ba nhà tù của mười ba huyện thuộc
tỉnh Quảng Tây, tác giả đã chứng kiến những cảnh tượng đau lòng bức xúc đối với
tù nhân và thấy được một xã hội bất công thối nát cùng những sự việc của thế giới
bên ngoài, tác giả hiểu rất rõ để viết lên những trang nhật kí bằng thơ được gọi là
“Ngục trung nhật kí” gồm 134 bài, viết băng chữ hán với thể thơ thất ngôn tứ
tuyệt, sáng tác từ tháng tám năm 1942 đến tháng chín nàm 1943. Sau đó tập
“Ngục trung nhật kỉ” được gọi “Nhật kí trong tù” là một văn kiện lịch sử quý báu,
một tác phẩm văn chương được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.
2. Ý nghĩa - nội dung củ a tập thơ:
Tập thơ Nhật kí trong tù nêu bật hai ý chính;
ý 1: T ố c á o th ự c t r ạ n g x ã h ộ i b ấ t c ô n g cù n g c h ế đ ộ n h à tù d ã m a n
hóc lột, c h à đ ạ p n h ă n p h ẩ m co n người.
- Thưc trang xã hỏi bất công thôi nát: ''Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội. Trong
tù đánh bạc được công k h a i”. {“Đánh bạc” - Hồ Chí Minh)
- Chà đap ĩên nhân phẩm con người: “Con người coi rẻ hơn con lợn. Chỉ tại
người không có chủ quyền”. {“Đám binh khiêng lợn cùng đ i” - Hồ Chí Minh)
- Khủng bô' đàn áp phu nữ và trẻ thơ: “Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi. Phải
theo mẹ đến ở nhà p h a ”. {“Cháu bé trong nhà lao Tân Dương” - Hồ Chí Minh)
Y 2: N h à t h ơ th ế h iệ n bứ c c h â n d u n g tự h ọ a về n g ư ời c h iê n s ĩ cộ n g
s ả n H ồ C h í M inh với m ộ t tâ m h ồ n lớn, d ũ n g k h í lớn, t r í tu ệ lớ n d ư ợ c t h ể
h iệ n q u a n h ữ n g h ìn h ả n h sa u :
Hình ảnh 1: Một nhà ái quôc yêu nước: “Canh bốn, canh năm vừa chợp mát Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”. {“Không ngủ được” - Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 2: Một người chiến sĩ với nghị lực phi thường; “Thân thể ở trong lao.
Tinh thần ở ngoài lao. Muốn nên sự nghiệp lớn. Tinh thần càng p h ải cao”. {“Đề T ìf'
- Hồ Chí Minh).
Hình ảnh 3: Một người chiến sĩ với niềm tin tưởng lạc quan cách mạng:
“Hơi ấm bao la toàn vũ trụ. Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”. {“G iải đi sớm"
- Hồ Chí Minh)
Hinh ảnh 4: Một tấm lòng yêu thương con người sâu sắc: “Cô em xóm núi xay
ngô tối, Xay hết lò than dã rực hồng". (“Chiều tối"- Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 5: Một tâm hồn nhạy cảm trước mọi trạng thái của thiên nhiên: “Người
ngắm trăng soi ngoài cửa sổ. Trăng nhòm khe cỉta ngắm nhà th đ '. (“Ngắm trăng" Hồ Chí Minh).
Câu 2: Tấm lòng yêu thương con người sâu sắc củ a chính tá c giả trong
tập thơ “N h ậ t k í tr o n g tù ”.
Nhắc đến tập thơ nhật kí của tác giả Hồ Chí Minh, người đọc thấy rõ thực
trạng xã hội bâ't công của chế độ nhà tù dã man dưới chính quyền Tưởng Giới
Thạch đôi với phạm nhân, đồng thời toát lên một tấm lòng yêu thương con
người sâu sắc của chính tác giả với những tháng ngày trong nhà tù. Tác giả là
một nhà thơ, một người chiến sĩ trước hoàn cảnh đọa đày cơ cực, khủng bố, đàn
áp từ thân thế đến tinh thần nhưng Người vẫn không quên trước nỗi đau của
đồng loại là thể hiện tình cảm nhân đạo sâu sắc trong tâm hồn tác giả.
MINH HỌA
Hình ảnh 1: Trên đoạn đường chuyển lao giữa đất khách quê người, bóng
đêm bắt đầu bao trùm, nhưng tác giả đã quên đi nỗi đau của riêng mình để
hướng về cuộc sôhg người dân lao động miền núi cùng đồng cảm, chia sẻ, tin yêu
trước cuộc sông của họ, sẽ tô't đẹp, được ghi lại bằng những vần thơ thấm đẫm
tình người với hình ảnh: “Cô em xóm núi xay ngô tối. Xay hết lò than đ ã rực
hồng". {“Chiều tối” - Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 2: Những ngày tháng trong nhà lao, nhưng tác giả luôn luôn chia
sẻ, đồng cảm trước công việc cực nhọc gian khổ của người phu làm đường để viết
lên những vần thơ bày tỏ tình thương cùng sự quý mến của tác giả với hình ảnh:
“Giải nắng dầm mưa chảng nghỉ ngơi. Phu đường vất vả lắm ai ơi!”. {“Phu làm
đường” - Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 3: Tác giả cũng lo lắng, chia sẻ cuộc sống của những người nông dân
Trung Quốc khi mất mùa đại hạn với lời thơ: “Nghe nói Xuân này trời đại hạn.
Mười phân thu hoạch chỉ vài phân ”. {“Long An - Đồng Chính” —Hồ Chí Minh)
Hình ảnh 4: Khi người nông dân Trung Quôc được mùa, tác giả vui trước
cuộc sông no đủ của họ với lời thơ: “K hắp chốn nông dân cười hán hở. Đồng quê
vang dậy tiếng ca vui”. {“Cảnh đồng nội” - Hồ Chí Minh)
Nhận x é t chung: Những vần thơ trong Tập nhật kí vừa được minh họa qua
nét bút của Hồ Chí Minh, gợi cho người đọc tìm thấy dù trong hoàn cảnh cơ cực,
tù đày nhưng tác giả như quên đi nỗi đau của riêng mình để cùng thương cảm,
xót xa, kê cả chia vui trước cuộc sống của người dân Trung Quô'c bằng những vần
thơ thấm đẫm tình người là thế hiện tình cảm nhân đạo sâu sắc trong tâm hồn
người chiến sĩ Hồ Chí Minh. Đúng như lời nhận định của nhà phê bình Hoài
Thanh; “Tập thơ N hật kí trong tù là tiếng nói chứa chan tình nhân đạo”.
Đề tuyển sinh: Anh (chị) trình bày ngắn gọn bài thơ “C h iề u t ố i” (Mộ)
của tác giả Hồ Chí Minh trích trong tập thơ “N h ậ t k í tron g tù ”
là thi phẩm vừa thể hiện màu sắc cổ điển và hiện đại.
S ! ững kiến th ứ c cầ n nắm :
1. Ca dao có viết: “Chim bay về núi tối rồỉl”. (Ca dao)
2. Thi hào Nguyễn Du có nói: “Chũn hôm thoi thót về rừng”. (Nguyễn Du)
3. Bà Huyện Thanh Quan trong bài “Chiều hôm nhớ n hà” có viết; “Ngàn m ai gió
cuốn chim bay m ỏi” và “Kè chốn chương đài, người lữ thứ. B iết ai m à tỏ nỗi
hàn ôn”. (Bà Huyện Thanh Quan)
4. Bà Huyện Thanh Quan trong bài “Qua Đèo Ngang” có viết: “Dừng chân đứng
lại trời non nước. Một m ảnh tình riêng ta với ta”. (Bà Huyện Thanh Quan)
5. Nhà thơ Thôi Hiệu (Trung Quôh) trong bài thơ “Hoàng Hạc L âu ” có viết:
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị - Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Nhà
thơ Tản Đà có dịch: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn - Trên sông khói
sóng cho buồn lòng a i”.
HƯỚNG DẪN
1. Nét đẹp cổ điển trong bài thơ “C h iều t ố i” của tá c giả Hồ Chí Minh.
Thể hiện qua hai câu thơ đầu:
“Chim mỏi về rừng tim chốn ngủ.
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng khôn g”.
(Chiều tố i- Hổ Chí Minh)
v ề thế loại thơ: Đây là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, ảnh hưởng phong cách
của Đường Thi (Trung Quôh).
v ề h ìn h ả nh thơ: Hình ảnh cánh chim chiều mỏi mệt, áng mây chiều cô
đơn, lẻ loi là vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của không gian mà các thi nhân
xưa thường mượn cảnh đẹp ấy đê nói lên bước đi của thời gian như trong ca dao
có viết: “Chim bay về núi tối rồi”] thi hào Nguyễn Du có viết: “Chim hôm thoi
thót về rừng"] Bà Huyện Thanh Quan trong “Chiều hôm nhớ n h à” có viết: “Ngàn
mai gió cuốn chim bay m ỏi” hay nhà thơ Lý Bạch (Trung Quốc) cũng viết:
“Chúng điểu cao p h i tận. Cô vân độc khứ nhàn”. Như vậy, bài thơ “Chiều tôi”
qua bút pháp của tác giả Hồ Chí Minh cũng nói lên cánh chim chiều “quyện
điểu ” và áng mây lẻ loi “có văn” để miêu tả chiều đã về là ảnh hưởng phong
cách cố điển của thơ xưa.
về tâm trạ n g củ a tác g iả : Các thi nhân xưa thường mượn hình ảnh thiên
nhiên để bày tỏ nỗi lòng như bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh
Quan, nhà thơ nhìn cảnh Đèo Ngang lúc chiều về, lại nói lên nỗi niềm cô đơn
của tác giả qua lời thơ cuôì “Một mảnh tình riêng ta với ta” hay trong bài thơ
“Chiều hôm nhớ n h à” chính tác giả đã tỏ bày nỗi lòng của mình qua câu thơ
cuôi: “Biết ai m à tỏ nỗi hàn ôn”. Nhìn lại bài thơ “Chiều tối” của tác giả Hồ Chí
Minh cũng mang một tâm trạng như thế tiêu biểu qua cánh chim chiều mỏi mệt
sau một ngày vất vả kiếm mồi gợi cho người đọc hiểu được, cảm nhận được, cánh
chim mỏi ấy mang hình ảnh người chiến sĩ, một người tù trên đoạn đường
chuyển lao sau một ngày mệt nhọc và hình ảnh áng mây chiều lẻ loi, trôi lơ lửng
giữa bầu trời gợi cho chúng ta hình dung hình ảnh người chiến sĩ, người tù trên
đường chuyển lao vẫn cô đơn, lẻ loi giữa đất khách đó là phong cách của tác giả,
ảnh hưởng của thơ xưa, mượn cảnh để bày tỏ tình cảm, nỗi lòng của thi nhân là
nét đẹp cổ điển trong hồn thơ “Chiều tối”.
2. Nét đẹp hiện dại trong bài thơ ''Chiều tối” của tác giả Hồ Chí Minh.
Thể hiện qua hai câu thơ cuô'i:
“Cô em xóm núi xay ngô tối.
Xay hết lò than đ ã rực hồng”
(Chiều tố i- Hổ Chí Minh).
Về h ìn h tượng thơ: Xuất hiện vẻ đẹp con người là nhân vật trung tâm cho
toàn bài thơ, tiêu biểu là hình ảnh người thiếu nữ miền núi tràn đầy sức sôhg
đang xay ngô với hai cánh tay đều đặn, đây là một nét mới trong hồn thơ
“Chiều tối” là vẻ đẹp hiện đại của tác phẩm.
8
về h ìn h ả n h th ơ : Hình ảnh bếp lửa hồng rực đỏ, xua tan bóng đêm tăm tôl
lạnh lẽo của núi rừng để hướng về ánh sáng về sự sống là nét mới là vẻ đẹp
hiện đại trong tác phẩm.
v ề tă m tr ạ n g c ủ a t á c g iả : Tâm trạng của tác giả trong hồn thơ “Chiều tối”
không mang niềm u hoài bế tắc như trong thơ xưa tiêu biểu là bài thơ “Qua Đèo
Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan có viết: “Dừng chân đứng lại trời non nước.
Một mảnh tình riêng ta với ta”. Nhưng bài thơ “Chiều tối” của tác giả Hồ Chí
Minh, hình ảnh bếp lửa hồng, lò than đã rực hồng là nói lên niềm lạc quan, tin
yêu của con người ở một ngày mai tươi sáng, đặc biệt từ “hồng” ở cuôl bài thơ,
hàm ẩn cho người đọc hiểu rằng, tâm hồn người chiến sĩ, người tù trên đường
chuyến lao lúc ây vẫn hi vọng một ngày mai tươi đẹp, tiếp tục cuộc đấu tranh,
giải phóng cho dân tộc là nét đẹp hiện đại trong hồn thơ “Chiều tối”.
3.
Nhận x é t chung: Bài thơ “Chiều tối” là sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc
cổ điển và hiện đại, tạo nên một bức tranh chiều thật sống động, giàu sức biểu
cảm, toát lên niềm tin yêu cuộc sông con người và niềm hi vọng, lạc quan một
ngày mai tươi sáng trong tâm hồn nhà thơ là giá trị, sức sông cho tác phẩm.
Để tuyển sinh: Anh (chị) làm rõ hai câu sau đây:
Câu 1: Ghi lại bài thơ “L a i T â n ” của tá c giả Hồ Chí Minh trích trong
tập thơ “N h ậ t k í tro n g tù ” và nêu rõ chủ đề của tá c phẩm.
Câu 2: Anh (chị) có nhận x é t gì về bài thơ “L a i T ă n ” củ a tá c giả Hồ
Chí Minh trích trong tập thơ “N h ậ t k i tr o n g tù?”.
HƯỚNG DẪN
Câu 1: B ài thơ L a i T â n của tá c giả Hồ Chí Minh trích trong tập thơ
“N h ậ t k í tr o n g t ù ” như sau:
“Ban trưởng nhà lao chuyên đán h bạc
Giải người cảnh trưởng kiếm ăn quanh
Chong đèn huyện trưởng lo công việc
Trời đất L ai Tân vẫn thái bình.”
(Nam Trân dịch - Sách Văn học 11)
C hủ đ ề b à i t h ơ L a i T â n : Tác giả viết lên nhằm tô' cáo những kẻ đại diện
cho bộ máy thông trị của xã hội Trung Quô'c dưới chính quyền Tưởng Giới Thạch
lúc bấy giờ tham nhũng và thôi nát.
Câu 2: Nhận x é t vể bài thơ “L a i T ă n ” của tá c giả Hồ Chí Minh trích
trong tập thơ “N h ậ t k í tr o n g tù ”:
1. Nhận x é t ba câu thơ dầu:
“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc
Giải người cảnh trưởng kiếm ăn quanh
Chong đèn huyện trưởng lo công việc”
(Trích Lai Tân - Hổ Chí Minh)
Tác giả dựng cảnh làm việc của những kẻ đại diện bộ máy thống trị của xã hội
Trung Quốc dưới chính quyền Tưởng Giới Thạch lúc bấy giờ là bất công, thối nát.
Xót xa thay, những kẻ đại diện cho pháp luật, chính quyền, cho phép nước mà hoạt
động hoàn toàn đi ngược lại pháp luật, vi phạm pháp luật, điển hình như Ban
trưởng, Cảnh trưởng, Huyện trưởng đều là những kẻ có chức, có quyền đại diện cho
dân, cho cán cân công lí, cho sự nghiêm minh của luật pháp nhưng chức vụ và việc
làm của họ hoàn toàn đôl lập đi ngược lại chức năng và nhiệm vụ của chính mình,
tiêu biểu là Ban trưởng, người quản lí trại giam, kẻ thực thi pháp luật đối với tội
phạm nhưng lại là kẻ chuyên đánh bạc, nghiện cờ bạc, chứng tỏ Ban trưởng là tay
cờ bạc chuyên nghiệp thì còn gì là kẻ thực thi cho pháp luật, chứng tỏ hắn đã vi
phạm pháp luật còn nặng hơn, tính chất sự việc còn nghiêm trọng hơn càng thấy rõ
sự bất công, thối nát của chế độ nhà tù dưới chính quyền Tưởng Giới Thạch lúc bấy
giờ. Chúng ta còn nhớ bài thơ “Đánh bạc” của tác giả Hồ Chí Minh trích trong tập
thơ “Nhật kí trong tù” cũng nói lên sự thối nát bất công như thế qua lời thơ: “Đánh
bạc ớ ngoài quan bắt tội. Trong tù đánh bạc được công kh ai”. Tiếp đến là cảnh
trưởng, một tên cảnh sát trưởng có nhiệm vụ chuyến giải phạm nhân, thực thi
pháp luật đem lại trật tự xã hội nhưng mỉa mai thay, lúc giải người, hắn đã dở
trò ma mãnh với tiếng gọi “kiếm ăn quanh” nhằm phơi bày bộ mặt bỉ ổi của kẻ
ăn hôl lộ đế vun đắp cho cuộc sông vật chất riêng tư của hắn, thì hỏi rằng, hành
động bỉ ổi của hắn là thực thi luật pháp hay luật rừng và kẻ thi hành luật pháp
như tên cảnh trưởng thật là vô liêm sỉ. Rồi đến huyện trưởng chong đèn io công
việc mà lo việc gì đây? Có thể chong đèn hút thuôc phiện hay làm những việc
bâ't chính, phi pháp để vòi vĩnh phạm nhân, thật là đê tiện, mỉa mai cho kẻ đại
diện chính quyền mà người đời thường gọi là “quan chi phụ mẫu”, là tâ"m gương
sáng của dân vì dân mà lo cho dân như cha mẹ nhưng lại là kẻ vi phạm luật
pháp trắng trợn, chúng đã ung dung, ngang nhiên chạy theo vật chất đế vòi
vĩnh là hành động bất chính, càng thấy rõ bộ máy thông trị của xã hội Trung
Quô'c lúc bấy giờ thật đồi bại, thôi nát.
2. Nhận x é t lời thơ cuôi: (câu 4)
Lời thơ cuôl: “Trời đất L ai Tân vẫn thái bìn h”. Với giọng thơ châm biếm,
thâm thúy nhằm đã kích, lên án bộ máy thôhg trị thôi nát dưới chính quyền
Tưởng Giới Thạch như một tiếng thở dài của tác giả, phơi bày một xã hội mà
những kẻ cầm quyền, đại diện cho luật pháp, lại tự do ngang nhiên vi phạm
pháp luật mà chúng vẫn bình thản, an nhiên, vô sự, vẫn ung dung hưởng lạc
trên nỗi đau khổ của nhân dân như không có chuyện gì xảy ra, nhăm lên án một
chính quyền bất công, thôi nát, một “xã hội đại loạn” đúng như lời người xưa
từng nói: “Thượng bất chánh, hạ tắc loạn”, trên dưới đều loạn. Thật là mỉa mai.
10
3.
Nhận xét chung: Lai Tân với ngòi bút sắc bén của tác giả Hồ Chí Minh, tác
giả đã khắc họa bức tranh trào phúng đặc sắc không chỉ đả kích một vài viên quan
cá biệt, cụ thế mà ngòi bút của tác giả, đã viết lên nhằm lên án cả một bộ máy
thống trị thối nát dưới thời chính quyền Tưởng Giới Thạch. Với nghệ thuật châm
biếm độc đáo, sắc sảo của tác giả, bài thơ cho ta thấy rõ, con người chiến sĩ trong
con người tù đã dũng cảm, dám đứng lên đấu tranh bằng ngòi bút đanh thép đế
phơi bày bộ mặt thống trị của chính quyền Tưởng Giới Thạch trong nhà tù cũng
như ngoài xã hội. Chứng tỏ tác giả Hồ Chí Minh là một chiến sĩ, một người nghệ sĩ
chân chính đã viết lên những vần thơ thép nhưng thấm đẫm một chất tình. Đúng
như lời bày tỏ của tác giả: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em
là một chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
TỪ ẤY
Tố Hưu
Để tuyển sinh: Anh (chị) làm rõ hai câu sau đây:
Câu 1: Viết lại dầy đủ bài thơ '"Từ ấy" của nhà thơ Tô Hữu và nêu lên
hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nội dung cùng chủ đề của tác phẩm.
Câu 2: Anh (chị) giải thích tựa đề “T ừ ấ y ” trong bài thơ cùng tên của nhà
thơ Tô Hữu.
HƯỚNG DẨN
Câu 1: B ài thơ “T ừ ấy" qua nét bút của Tô Hữu;
T ừ ấy
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim ...
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Đ ể tình trang trải với trăm nơi
D ể hồn tôi với bao hồn k h ổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối dời.
Tôi đ ã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi p h a
L à anh của vạn dầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ ...
(Trích Tập thơ "Từ ẩy”)
11
1. Hoàn cảnh sáng tác:
Tháng chín năm 1938 người thanh niên trẻ Tô Hữu được kết nạp vào Đảng
Cộng sản Việt Nam. Đây là niềm vinh dự rất lớn cho nhà thơ cũng là niềm sung
sướng tràn ngập tâm hồn người thanh niên trẻ khi tìm được lôl ra, lí tưởng sông
cho cuộc đời mình. Niềm sung sướng ấy, Tô' Hữu đã viết lên bài thơ “Từ ấy". Bài
thơ trích trong tập thơ “Từ ấy" (1937-1946). Đây là tập thơ đầu tay của Tố Hữu.
2. Ý nghĩa nội dung;
Bài thơ “Từ ấy" có hai ý chính:
Ý 1: Bôn câu đầu: “Từ ấy ... rộn tiếng chim".
Ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thắp sáng trong tâm hồn người
thanh niên trẻ một lí tưởng sô'ng đẹp.
Ý 2: Hai khổ thơ còn lại: “Tôi buộc ... cù bất cù bơ".
Hai khố thơ còn lại nói lên tình yêu giai câ'p, những con người cùng khổ sẽ
cùng nhà thơ kết hợp lại, tạo thành một sức mạnh để đâu tranh giải phóng cuộc
đời mình và giải phóng dân tộc.
C hủ đ ề : “Từ ấy”, bài thơ đầu tay của Tố Hữu, toát lên một ánh sáng mới,
ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thắp sáng trong tâm hồn người thanh
niên một lí tưởng sống đẹp. Sông phải biết cống hiến, dân thân cùng đứng lên
đấu tranh giành lại cuộc đời giành lại tự do độc lập cho dân tộc.
Câu 2: Giải thích tựa đề “Tù' âý”:
Vào những năm 1937-1938, đất nước ta vẫn chìm trong bóng đêm, nhân dân lầm
than đói khổ. Chính thời điểm này, người thanh niên trẻ Tố Hữư đã tìm được lối ra
cho cuộc đời mình. Đó là giây phút, nhà thơ đón nhận ánh sáng của chii nghĩa Mác
- Lênin. Ánh sáng ấy soi rọi vào tâm hồn người thanh niên trẻ một nhận thức mới,
một cái nhìn mới và niềm vinh dự, sung sướng là cuối mùa thu, tháng chín năm
1938, Tố Hữu được kết nạp Đảng, trở thành người Đảng viên trẻ của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Hai tiếng “Từ ấy” đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời thơ Tố
Hữu, khi đón nhận một lí tưởng sống đẹp từ ánh sáng cách mạng và sẵn sàng đem
sức trẻ, tuổi thanh xuân để cống hiến cho đời cho cách mạng để cuộc sống có ý
nghĩa. Tựa đề “Từ ấy” của bài thơ xuất phát từ những suy nghĩ trên.
Để tuyển sinh: Anh (chị) phân tích bài thơ “T ừ ấ y ” củ a nhà thơ Tô
Hữu trích tron g tập thơ cùng tên của chính tá c giả dể thấy
đưỢc tâm trạ n g diễn biến của người thanh niên trẻ khi đón
nhận ánh sáng Mác - Lênin.
iSỈững kiến
thức c ầ n nắm :
1. Nhà văn Pháp Aragông bày tỏ: “Đảng cho tôi sáng mắt sáng lòng”
12
2. Tô" Hữu bày tỏ nỗi lòng khi chưa tìm được lối ra với lời thơ: “Băn khoăn đi
kiêm lẽ yên đời”. (Tô" Hữu)
3. Triết gia người Áo - Nayrac có nói: “Niềm vui là hương thơm của cuộc đời,
làm thay đổi cả máu huyết và trí tuệ". (Nayrac)
4. Tô Hữu bày tỏ: “Lòng tôi sung sướng vô cùng kh i đón nhận ánh sáng của chủ
nghĩa Mác - L êìiin ”. (Tô Hữu)
5. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có viết: “Khi chúng ta cầm tay mọi người. Đất
nước vẹn tròn to lớn”. (“Đất Nước” - Nguyễn Khoa Điềm)
6. Nhà thơ Xuân Quỳnh từng nói: “Làm sao được tan ra... Giữa biển lớn tỉnh
yêu”. (“Sóng” - Xuân Quỳnh)
7. Nhà thơ Chế Lan Viên bày tỏ: “Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp. Một
mái nhà yên rũ bóng xuống tâm hồn”, (trích “Người đi tim hình của Nước” Chế Lan Viên)
HƯỚNG DẨN
I. PHẦN GIỚI THIỆU
“Đảng cho tôi sáng mắt sáng lòng”
(Aragỏng - Pháp)
Lời bày tỏ của nhà vàn Pháp Aragông toát lên một lí tưởng sống đẹp, đưa chúng ta
nhớ về bài thơ “Từ ấy" của Tố Hũu tríbh trong tập thơ cùng tên của tác giả, thế hiện
một quan niệm sống đẹp khi nhà thơ đón nhận ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Cần phân tích bài thơ đê làm rõ tâm trạng diễn biến của người thanh niên trẻ
Tô Hữu khi đón nhận ánh sáng Mác - Lênin.
II. PHẦN TRỌNG
 





