Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Bức xúc không làm ta vô can

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 09h:26' 27-04-2025
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 09h:26' 27-04-2025
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tặng An Chi Mai
LỜI NÓI ĐẦU
Descartes, triết gia Pháp thế kỷ 17, nổi tiếng với lời khẳng định: “Tôi tư duy do đó tôi tồn
tại”. Đương nhiên tư duy và suy nghĩ đơn thuần là hai việc khác nhau. Trong một ngày
chúng ta thật sự tư duy, động não, suy nghĩ tập trung bao nhiêu giờ hay thậm chí bao
nhiêu phút? Cái gì kích thích chúng ta tư duy? Đó có thể là một cuốn sách, như Bức xúc
không làm ta vô can - tuyển tập các bài viết của tác giả Đặng Hoàng Giang - chẳng hạn.
Các bài trong cuốn sách được chia thành ba chương. Chương I có chủ đề về quan hệ giữa
cá nhân và đám đông trong xã hội hiện đại. Chương II bàn về một số vấn đề phát triển như
môi trường, công lý và phân biệt giàu nghèo. Các bài trong Chương III bàn tới một số hiện
tượng xã hội và trào lưu văn hóa đương đại. Với lăng kính đa chiều, tư duy tự do phản biện,
cách tiếp cận vững chắc của một nhà chuyên môn, tác giả đã mổ xẻ xuyên qua các lớp lang
văn hóa, xã hội, đời thường mà hầu hết tất cả chúng ta đều biết để tìm đến thực chất, ý
nghĩa đích thực của hiện tượng. Đây thật sự là tác phẩm của một nhà phê bình xã hội (như
chúng ta hiểu về cụm từ “nhà phê bình nghệ thuật”, “nhà phê bình văn học”) mà hiện nay
Việt Nam còn thiếu. Và khi xã hội đang trong vòng xoáy của một sự chuyển dịch dồn dập,
lộn xộn như tại Việt Nam thì rất cần những cá nhân có công cụ sắc bén để giúp giải mã
những trào lưu xã hội và hiện tượng văn hóa đang xuất hiện hằng ngày quanh chúng ta. Tôi
đặc biệt tâm đắc với lựa chọn chủ đề của Chương I về tâm lý đám đông, một chủ đề đến nay
vẫn chưa được mổ xẻ kịp thời và đủ sâu và trúng tại Việt Nam.
Tuy nhiên tác giả không chỉ dừng lại ở sự quan sát tỉnh táo và diễn giải lạnh lùng của
một nhà khoa học thuần túy. Các bài trong tuyển tập còn toát ra lòng nhân ái của một
người dấn thân với số phận mọi người và mỗi người, đặc biệt những tầng lớp, những con
người kém may mắn, thua thiệt trong xã hội.
Tôi không hoàn toàn chia sẻ quan điểm và phân tích của tác giả Đặng Hoàng Giang đối
với mọi đề tài trong cuốn sách. Nếu như tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm trong bài
Ngó Mỹ, dòm Nhật, hóng Do Thái: lựa chọn nào cho ta?, bài Văn hóa không phải là lý do
khiến quốc gia thất bại, hay bài Những người khốn khổ ở Tiên Lãng chẳng hạn, thì trái lại
tôi khó thông với lời nhắn nhủ “để công chúng là người quyết định cuối cùng số phận của
các sản phẩm văn hóa và nghệ thuật” trong bài Sự trỗi dậy của tư duy phong kiến và bảo
thủ. Vì theo cách tiếp cận của tác giả trong nhiều bài khác, số đông “công chúng” có thể bị
chi phối, định hướng bởi những tổ chức đặt lợi ích thương mại lên trên hết, khai thác sự
thèm khát hào nhoáng, danh vọng của một bộ phận đáng kể trong công chúng, từ đó không
thật sự làm chủ lựa chọn của mình.
Phải chăng độc giả cuốn sách này chỉ bó hẹp trong giới học thuật và hoạt động xã hội
chuyên nghiệp? Tôi không nghĩ như vậy và kêu gọi mọi người, bất kể già trẻ, nam nữ, dù
thuộc tầng lớp hoặc nghề nghiệp nào, cũng hãy đến với cuốn sách. Không hề khô khan,
không hề nhàm chán, cuốn sách kết hợp một cách sống động và hấp dẫn hơi thở của cuộc
sống với tia sáng của học thuật. Và tôi hết sức thích thú với cách tác giả lồng ghép khéo léo
sự hóm hỉnh và châm biếm sắc sảo nhưng tinh tế(1) vào việc phê bình xã hội của mình,
khiến tác phẩm đến được với nhiều độc giả hơn.
TÔN NỮ THỊ NINH
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage :
https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI ĐỨNG MỘT MÌNH
Vẻ đẹp của người chạy marathon về chót
Họ phá phách vô phương hướng và vô nghĩa
Lại chuyện bia, thịt chó và ấn đền Trần
“Sống chung với lũ” và chủ nghĩa anh hùng thường nhật
Người nghèo không có lỗi
Bức xúc không làm ta vô can
Cơ thể giả, khát vọng thật
Bi kịch của sự hào nhoáng
Vẻ đẹp của người đứng một mình
HỌ PHÁ PHÁCH VÔ PHƯƠNG HƯỚNG
VÀ VÔ NGHĨA
Vì sao những người dân Đồng Nai vốn bình thường hiền lành, thân ái với nhau, lại trong
tích tắc trở nên khác hẳn, hăm hở lao vào núi bia đổ, lễ mễ khuân ra mấy bịch, rồi háo hức
quay lại làm đợt nữa. Điều gì làm cho những thanh niên Nghệ An, cuối tuần vừa đi chơi với
bạn gái, bỗng hăng lên lao vào “đánh hôi” kẻ trộm chó như đi trẩy hội. Lý do nào khiến
những công nhân xây dựng ở Thái Nguyên, hằng ngày chăm chỉ mang cặp lồng cơm đi làm,
bỗng trở nên hung hãn và đập phá chính ngay công việc đem lại miếng cơm manh áo cho
mình? Sẽ hời hợt nếu ta chỉ đưa ra những bình luận chung chung về sự suy đồi của đạo đức,
về sự xuống cấp của xã hội, về niềm tin bị đánh mất, về người Việt thiếu văn hóa, vân vân và
vân vân. Để có thể hiểu được những hiện tượng này và truy tìm nguyên nhân, chúng ta cần
phải nhìn sâu hơn vào tâm lý đám đông và xem nó vận hành như thế nào.
Một đám đông có những yếu tố đặc biệt. Thứ nhất, trong đám đông, các thành viên của
nó vô danh. Khác với lúc đứng riêng rẽ một mình, cái vô danh trong đám đông đem lại cho
người ta một sự an toàn và cảm giác được bảo vệ nhất định. Thứ hai, đám đông gây phấn
khích. Những người đã từng ở trong một sân vận động khổng lồ đều biết cảm giác đó khác
với cảm giác có được khi xem trận bóng trước màn hình ti vi. Số đông cộng hưởng và tạo ra
một năng lượng đặc biệt, một sự hưng phấn có sức lây lan lớn. Lúc đó, cô gái nhút nhát
nhất cũng có thể văng tục ngon ơ và cho ngón tay vào mồm, cùng huýt sáo la ó trọng tài.
Đám đông cũng đem lại cho các cá nhân trong nó một cảm giác về quyền lực. Trong
đám đông, những người vốn thấp cổ bé họng bỗng có cảm giác mình mạnh mẽ. Chúng ta
hẳn còn nhớ một người đàn ông Đồng Nai vừa bê bia vừa trừng mắt quát người tài xế xe tải:
“Báo công an đi, ông thách đấy!”
Và cuối cùng, đám đông rùng rùng chuyển động và trăm người như một cùng làm một
hành vi nào đấy, khi họ được một sự kiện bất ngờ châm ngòi. Giả sử như hàng trăm thùng
bia ở Đồng Nai kia được xếp ngay ngắn ven đường, thì dù chỉ có một người trông coi thôi,
chắc cũng không ai nghĩ tới chuyện xông vào lấy. Bia đổ tung tóe ra đường tạo ra một tình
huống lạ, một điều bất thường, kết hợp với sự vô danh, phấn chấn lây lan, cảm giác quyền
lực và an toàn, làm giảm đáng kể ý thức trách nhiệm của mỗi người về hành vi của mình,
biến một bà mẹ mẫu mực thành một người hớt hải gom bia mặc dù trong nhà không có ai
uống, để tới lúc tỉnh cơn say mới hối hận về hành động của mình. Trong đám đông, con
người dễ đánh mất bản thân.
Tuy nhiên, chen chúc nhau để lượm mấy lon bia trên mặt đường, hay để bẻ mấy cành
hoa trong một hội chợ vẫn khác xa với việc xông vào đánh đấm tới chết một kẻ trộm chó,
hay châm lửa đốt rụi hàng chục cái xe máy. Điều gì khiến đám đông trở thành một sức
mạnh phá hủy - nhiều khi phá hủy chính môi trường sống của bản thân họ? Những sự kiện
trên có điểm gì chung với những lần các cổ động viên bóng đá ở Anh bỗng nhiên hỗn chiến
và giật tung ghế của sân vận động, với làn sóng đập phá và hôi của ở London năm 2011 làm
toàn thế giới kinh ngạc, hay với sáu ngày bạo lực và cướp bóc ở Los Angeles năm 1992 làm
53 người tử vong?
Điểm chung của Nghệ An 2014 (thanh niên nông thôn), Samsung Thái Nguyên 2014
(công nhân xây dựng), London 2011 (thanh niên nhập cư) và Los Angeles 1992 (thanh
niên da đen) là: đám đông này là đám đông của những người ngoài lề, những người thấp bé
trong xã hội, thu nhập thấp hoặc thất nghiệp, và không có cơ hội. Họ mang sẵn trong mình
một sự cáu kỉnh và chán nản. Họ bực bội với bản thân, với cuộc đời mình, với những thứ
xung quanh. Khi họ nhập vào một đám đông, như Gustave Le Bon nhận xét trong Tâm lý
học đám đông (bản dịch tiếng Việt của Nhà xuất bản Tri thức năm 2006), họ đánh mất tính
cá nhân, tính độc lập, khả năng đánh giá và phán xét đạo đức, họ bị cuốn vào ảnh hưởng
phi lý của tập thể xung quanh. Do đó, đám đông có thể làm những hành động phá hủy và
bạo lực mà mỗi cá nhân, nếu đứng riêng biệt, sẽ không bao giờ nghĩ là họ có thể làm. Chỉ
cần một sự kiện nhỏ xảy ra: một công nhân bị bảo vệ đánh vào đầu, một con chó bị trộm.
Thực chất, sự hung hãn của người nghèo, của những người ở đáy xã hội, tới từ cảm giác
bất lực, ngoài lề, không làm chủ được cuộc đời mình. Họ thấy mình như kẻ lạ trên chính đất
nước của mình, bị bỏ rơi, bị lãng quên. Họ thấy mình kém cỏi, vô giá trị. Cũng vì thế, khi đã
ngấm cái say của một đám đông nổi loạn thì họ hân hoan như đang tham dự một cuộc vui
điên dại. Một tờ báo đã rất chính xác khi chạy tít cho vụ Nghệ An “Đánh trộm chó đông như
đi hội”. Ai xem những video quay cảnh bạo loạn ở nhà máy Samsung hẳn cũng nhận ra
không khí vui vẻ, phấn khích, các bình luận xôn xao, tiếng huýt sáo, reo hò, tiếng cười sảng
khoái, như ở một buổi biểu diễn văn nghệ quần chúng mà ai cũng được tham gia góp vui. Ít
nhất, trong khoảnh khắc đó, họ có cảm giác mình là người thắng, người mạnh, rằng cuộc
sống thú vị, sôi động, làm họ quên đi cái mòn mỏi hằng ngày của mình. Đám đông cho họ
một bản sắc, cho họ một nơi để thuộc về.
Đám đông “mới” của ngày nay khác đám đông “cũ” của năm 1945. Đám đông cũ, qua
quá trình được “vận động” tham gia cách mạng, đã phát triển cho mình một ý thức hệ. Sau
30 năm kinh tế thị trường, công nhân và người nghèo bây giờ đã mất đi ý thức về bản thân
như một giai cấp. Họ đơn giản bị kẹt trong cái bẫy nghèo truyền xuống từ thế hệ trước để
lại. Họ là sản phẩm của văn hóa nghèo khổ, những người, mà như Oscar Lewis đã định
nghĩa trong Văn hóa của nghèo khổ năm 1998, “có rất ít ý thức về lịch sử. Họ là những
người bên lề, chỉ biết tới những vật lộn của bản thân, chỉ biết được hoàn cảnh của địa
phương họ, thế giới hẹp của họ, cách sống riêng của họ. Thông thường, họ không có kiến
thức, tầm nhìn hay ý thức hệ để nhận ra điểm tương đồng giữa những vấn đề của họ và vấn
đề của những người giống họ trên thế giới. Nói một cách khác, họ không có ý thức giai cấp,
mặc dù họ rất nhạy cảm với sự phân biệt về đẳng cấp.” Chúng ta, những người đã quen với
các đại tự sự cách mạng, ngạc nhiên nhận ra rằng những đám đông nổi loạn bây giờ không
có quan điểm xã hội hay thông điệp chính trị gì. Những công nhân đập phá ở Thái Nguyên
không đưa ra một đòi hỏi cụ thể gì cho doanh nghiệp hay công đoàn; những người dân
đánh trộm chó ở Nghệ An không có yêu cầu gì với công an hay chính quyền địa phương.
Họ phá phách một cách vô phương hướng và vô nghĩa. Chính vì vậy, sự hung hãn bùng
phát thường bất ngờ với các nhà bình luận xã hội và các nhà chức trách, lúc đó họ mới bối
rối đi tìm lý do và lời giải thích.
Lời giải thích đơn giản nhất có lẽ đến từ Martin Luther King: “Không có gì nguy hiểm
hơn là xây dựng một xã hội mà trong đó một nhóm lớn có cảm giác họ không được can dự,
rằng họ không có gì để mất. Nếu người ta có quyền lợi trong xã hội, người ta sẽ bảo vệ xã
hội, nhưng nếu không, họ sẽ vô thức muốn phá hủy nó.”
Chúng ta hãy dành cho đám đông những người nghèo đô thị, những thanh niên nông
thôn, những công nhân ở các khu công nghiệp, một phần tử tế của miếng bánh, một cảm
giác xã hội là của họ, phục vụ họ. Một cảm giác thực sự chứ không phải chỉ trên các khẩu
hiệu và văn kiện.
Nếu không, họ sẽ không để cho những người khác yên.
Tháng Giêng 2014
LẠI CHUYỆN BIA, THỊT CHÓ VÀ ẤN
ĐỀN TRẦN
Từ bao giờ người Việt có thói quen lấy khoái cảm từ việc tự xỉ vả bản thân? Mấy hôm nay,
người ta chuyền tay nhau các con số 3 tỉ lít bia, 5 triệu con chó, và 500.000 ấn đền Trần
được tiêu thụ trong một năm như những minh chứng hùng hồn cho sự bệ rạc và xuống dốc
của người Việt. Chúng ta đang tự mô tả mình như một cộng đồng chỉ quẩn quanh dọc ba
cạnh của hình tam giác mà ba đỉnh là quán bia, đền chùa và quán thịt chó (trong đó cạnh
nối quán bia và quán thịt chó là được lưu thông nhiều nhất).
Tôi muốn kêu gọi: chúng ta hãy bình tĩnh. Chúng ta có thể không thông minh như
người Do Thái, không chăm chỉ như người Nhật Bản, hay không xinh đẹp như (đàn ông) Ả
Rập, nhưng chúng ta đâu có đến nỗi nào. Đề nghị tất cả ngồi xuống, chúng ta sẽ lần lượt
làm rõ từng chuyện.
3 TỈ LÍT BIA
Theo con số của các nhà sản xuất bia thì người Việt tiêu thụ 3 tỉ lít bia một năm, hay
bình quân 33 lít trên một đầu người. Vậy là mỗi tuần, mỗi người uống chừng 0,6 lít bia. Tôi
không cho rằng đây là con số gây sốc. Tất nhiên, có người có thể lý luận là phải bỏ ra ngoài
phép tính này trẻ em, người già, phụ nữ, vân vân. Nhưng kể cả như vậy, suy ra, mỗi người
đàn ông Việt cũng chỉ uống cỡ 1,2 lít bia, hay là hơn hai cốc vại một chút, một tuần. Một
con số khiêm tốn. Bạn không tin ư? Xin thưa, tửu lượng này tương đương với mức độ của Ý
(là những người mà ta biết là ngoài bia ra còn uống khá nhiều rượu vang). Mà Ý lại chỉ
bằng một nửa Brazil. Mà Brazil lại chỉ bằng hai phần ba Úc. Nói cách khác, người Úc uống
bia nhiều gấp 3 lần người Việt.
Quán quân thế giới là những người Tiệp Khắc anh em, năm 2012 họ tiêu thụ 160 lít bia
mỗi người, thêm bớt mấy cốc không thành vấn đề. Lại có một số người lý luận là thể tích
của người châu Âu to hơn nên họ có thể uống nhiều hơn trước khi bị lú lẫn. Nhưng ngược
lại, ta phải nhớ là ở xứ lạnh không ra mồ hôi như Tiệp Khắc thì 160 lít của họ sẽ gần với
180-200 lít hơn, còn 33 lít ở ta thì thực ra chỉ còn 20 lít vì mùa hè nó túa ra theo lỗ chân
lông hết, vả lại bia hơi vỉa hè thì làm sao mà đo được lượng cồn với Pilsner Urquell. Có thể
tranh luận nhiều hơn, nhưng tóm lại, chúng ta không có gì phải băn khoăn ở đây.
5 TRIỆU CON CHÓ
Bây giờ sang chuyện 5 triệu con chó bị đưa lên bàn ăn hằng năm ở Việt Nam (theo
nguồn tin của tờ báo Anh The Guardian). Vấn đề này cần phân tích công phu hơn một
chút. Người ta ăn chó ở Cameroon, Ghana, Nigeria, và không những ở những nước “lạc
hậu” này, mà còn ở Canada (với điều kiện con chó phải bị giết trước sự có mặt của một
thanh tra liên bang), Thái Lan, Nhật Bản, và tất nhiên, ở Hàn Quốc. Chúng ta hãy dừng lại
ở đất nước này. Mỗi năm người Hàn xếp lên đĩa khoảng 8.500 tấn thịt chó. Giả định rằng
mỗi con chó nặng trên dưới 10 kg, số lượng thịt này sẽ tương đương với khoảng 850.000
con chó. Công nhận là chưa thấm tháp gì, nhưng ta phải lưu ý dân số Hàn Quốc chỉ có 50
triệu. Như vậy, nếu dân số tương đương với Việt Nam, lượng chó đi vào bếp ở Hàn Quốc sẽ
là hơn 1,5 triệu con. Vẫn còn thấp hơn nhiều so với con số 5 triệu của ta.
Nhưng, và bây giờ các bạn hãy bám chắc vào mép bàn hay thành ghế để khỏi ngã: mỗi
năm, người ta dùng thêm 93.600 tấn, tức là hơn 9 triệu chú cẩu nữa, để sản xuất ra một
loại nước lên men tên là Gaesoju, nôm na là rượu chó, mà người Hàn Quốc thề là rất tốt
cho sức khỏe, đặc biệt để “điều hòa tiêu hóa”, và nhất là “sau phẫu thuật”. Vị chi tổng cộng
là 11 triệu con chó, cho cả ăn lẫn uống. Không rõ vì sao người Hàn lại bị phẫu thuật nhiều
như vậy.
500.000 ẤN ĐỀN TRẦN
Khác với bên trên, trong chuyện ấn đền Trần thì chúng ta không có điều kiện làm các so
sánh quốc tế với độ tin cậy cao. Tuy nhiên con số nửa triệu là khá ấn tượng, cộng với các
loại ấn của các đền khác nhau trong cả nước, cũng như các lễ lạt chùa chiền khác nữa thì về
mặt thống kê có thể nói trung bình gia đình nào cũng có người đầu năm đến nhang khói
nhờ thánh thần phù hộ. Câu hỏi được nhiều người đặt ra ở đây là vì sao bây giờ người Việt
lại nhờ cậy tới thần linh nhiều như vậy.
Theo các nhà xã hội học, người ta càng có nhu cầu bám vào các thế lực siêu nhiên khi
cuộc sống của người ta càng bấp bênh, bất an, ngoài vòng kiểm soát. Nói một cách khác, khi
xã hội không có thượng tôn pháp luật, không đem lại cho người dân an sinh, cảm giác an
toàn, chắc chắn, được che chở, bảo vệ, thì người ta phải nương tới cửa thánh thần.
Chẳng ngoài vòng kiểm soát hay sao nếu như bạn không chắc là miếng đất có sổ đỏ của
bạn, hay cái đầm cá bạn vẫn canh tác hàng chục năm nay, tới sáng mai liệu có còn thuộc về
bạn, hay đã nằm trong dự án của một đại gia nào đó rồi. Rõ là bạn muốn khấn bái để các
thánh giúp bạn không bị trượt chân ngã đúng lúc đang ở trong đồn công an, đập gáy vào
dùi cui mà thiệt mạng chứ. Để các thần trao cho đứa bé sơ sinh trong gia đình bạn sức đề
kháng chống cự lại với vắc xin bệnh viện được bảo quản đúng quy trình chứ. Để bà Chúa
Thượng ngàn cho năm nay mưa thuận gió hòa để cái đập thủy điện lơ lửng bên trên đầu
bạn không xả lũ đúng quy trình chứ.
Những cái “quy trình” mà lúc nào cũng đúng, nó cứ lừng lững tiến như xe lu, cán bẹp
mọi thân phận không may dính phải nó, người ta biết nhờ vào ai mà tránh nếu như không
vái tứ phương.
Nhưng còn một cái bấp bênh cuối cùng nữa, đó là không rõ các thánh thần có còn tai
mà nghe tiếng cầu khẩn của dân hay không. Đằng trước hàng chục nghìn dân đen nhốn
nháo, quần áo nhếch nhác, chen chúc nhau trước cửa đền Trần là mấy hàng quan chức,
trang nghiêm trong những bộ com lê đen trịnh trọng, như đang ở một cuộc họp trung
ương. Họ trò chuyện và hứa hẹn gì với đức Thánh Trần, sẽ chẳng ai biết được. Nhưng gì thì
gì, ở chỗ linh thiêng này cũng như nơi trần tục, quan phải xong thì mới tới lượt dân.
Cho nên các bạn ơi, đừng có chê bai hay chế nhạo người dân mà tội nghiệp họ. Cuối
cùng, chỉ còn mỗi quán thịt chó và quán bia là những nơi mà người dân có thể vui vẻ bên
nhau và trú ẩn chốc lát trước một cuộc sống đầy bất trắc.
Tháng Hai 2014
“SỐNG CHUNG VỚI LŨ” VÀ CHỦ
NGHĨA ANH HÙNG THƯỜNG NHẬT
Câu chuyện của một người bạn tôi, ta tạm gọi là Hồng, trưởng bộ môn ở một trường đại học
lớn, chắc hẳn cũng xảy ra trong vô vàn cơ quan và công ty nhà nước khác. Hằng năm, chị
và các đồng nghiệp đều được “nhắc khéo” khi sắp tới ngày giỗ bà thân sinh của ông hiệu
trưởng, và vào hôm đó, lãnh đạo các khoa và các bộ môn lại nghỉ việc, cùng nhau thuê một
chuyến xe về quê ông hiệu trưởng. Trung bình mỗi người đi ăn giỗ để vào phong bì một
triệu, một khoản thu nhập xinh xắn mà không vất vả cho ông hiệu trưởng.
Những người về dự giỗ hôm đó có thực sự muốn chia sẻ với ông hiệu trưởng một ngày
đáng nhớ, xúc động, trong không khí ấm cúng, với 300 người “gần gũi” của gia đình? Chắc
chắn không. Ngược lại, ai cũng hiểu rằng đây là một kỹ thuật làm tiền thô thiển. Nhưng
người ta tuân theo nó vì “ai cũng làm vậy cả”. Ma chay hiếu hỉ, rồi Trung thu, Tết, sinh
nhật, ốm đau, mỗi lần là một dịp phong bì. Không ai muốn bị đánh giá là không trung
thành, là phá bĩnh. Đây chỉ là một vài trong số vô vàn tiểu tiết người ta làm để mong có
được một cuộc sống yên ổn.
Tôi hình dung, trên chuyến xe hôm đó, người ta bông lơn pha trò, giống như các chuyến
dã ngoại khác của trường, nhưng thỉnh thoảng vẫn thấy le lói sự lố bịch của tình huống. Lúc
bước xuống xe, có thể người ta không khỏi cảm thấy một chút cay đắng, nhưng rồi gạt
nhanh nó đi. Khi lần lượt bắt tay ông hiệu trưởng, thông điệp mà mỗi người phát ra sau nụ
cười là: “Ông thấy chưa, tôi cư xử đúng như ông muốn nhé. Tôi tuân theo luật chơi đấy,
nên ông hãy để yên cho tôi sống, và có món gì thì đừng có mà quên tôi.”
Điều chúng ta nhìn thấy ở đây là quyền lực độc tôn, quyền lực của một bộ máy mà ông
hiệu trưởng là đại diện trực tiếp, bao trùm lên những người dưới ông như một vỏ bọc khổng
lồ. Trong thâm tâm, người ta có thể lên án, nhưng bên ngoài họ im lặng, và làm những điều
mà hệ thống yêu cầu. Họ sống trong một sự dối trá.
Người Việt mô tả tình huống này bằng một câu nói tài tình “Sống chung với lũ”. Đây là
một câu cửa miệng - không chỉ những người dưới quyền ông hiệu trưởng dùng câu này, mà
bản thân ông ấy và cả những vị bên trên ông cũng thế. Qua câu này, người ta muốn thể
hiện, với người nghe và với bản thân, rằng họ là người đàng hoàng, tuy họ phải sống cùng
cái xấu, nhưng họ khác nó, họ không phải cái xấu.
Tất nhiên, không ai muốn tự thú nhận sự khúm núm mất tự trọng của mình, và bên kia
cũng hiểu vậy, nên cả hai tìm ra những hình thức trang trí cho mục đích thực chất đằng
sau. Trá hình dưới những dịp lễ Tết, sinh nhật, ốm đau, hiếu hỉ, mục đích thực chất là để
một bên luôn tái khẳng định quyền lực, và bên kia luôn tái khẳng định sự phục tùng, trong
khi vẫn tự nhủ với nhau và với bản thân rằng nhân phẩm của họ vẫn nguyên vẹn.
Nhưng “sống chung với lũ” chỉ là một sự tự ru ngủ. Bởi khi người ta chấp nhận sống
chung với cái dối trá, thậm chí cố gắng trục lợi từ nó, thì như Václav Havel, cố tổng thống
Tiệp Khắc, viết trong tiểu luận mang tên Quyền lực của những người không quyền lực,
“người ta xác nhận cái hệ thống, đáp ứng nó, làm ra nó. Người ta chính là cái hệ thống đó.”
Và khi có người cầm phong bì xuất hiện trước cửa nhà Hồng và đồng nghiệp để nhờ cậy,
họ sẽ phải phản ứng thế nào? Nếu từ chối những vị khách này thì chẳng phải họ tự thú
nhận những hành động họ làm với ông hiệu trưởng là đáng chê trách, đáng xấu hổ, là
không chấp nhận được? Hơn nữa, không ai chỉ có thể cho mãi mà không nhận. Cho nên,
họ phải coi đây là một hành động bình thường. Khi người ta chậc lưỡi nhận phong bì từ
những người có ít quyền lực hơn mình, họ đã khép kín vòng tròn. Để ngủ ngon, họ phải tin
vào tính chính danh của các hành động của mình. Điều này, Václav Havel viết tiếp trong
tiểu luận nói trên, “cho phép người ta đánh lừa lương tâm và che đậy trước thế giới và trước
bản thân chỗ đứng thực của họ, cái cuộc sống thê thảm của họ. Nó là tấm voan để con người
có thể giấu đi sự tồn tại thảm hại, sự tầm thường hóa, sự thích nghi của mình. Nó là một lời
thanh minh mà ai cũng sử dụng, từ một nhân viên sợ mất việc tới một lãnh đạo cao cấp
bám lấy quyền lực. Chức năng của nó là khiến người ta, những nạn nhân lẫn những trụ cột
của hệ thống, ảo tưởng rằng hệ thống đang tồn tại hài hòa với trật tự của con người.”
Chuyến xe dự giỗ kia là một nhắc nhở cho mọi người về cái trật tự đó, nhắc nhở họ đang
sống ở đâu, họ phải hành xử thế nào, nếu như họ không muốn bị loại ra ngoài, bị hắt hủi.
Hành xử đó cũng phải được thể hiện ở vô vàn chỗ khác: trong lớp học, trong các hội đồng
nghiệm thu đề tài, khi viết các bài báo, khi họp bộ môn, khi xét thưởng và bổ nhiệm, ở các
buổi văn nghệ và liên hoan... Cái vòng tròn khép kín kia chính là hệ mao mạch đưa cái giả
dối thẩm thấu đến chân tơ kẽ tóc vũ trụ của Hồng và các đồng nghiệp của cô.
Và lúc đó, ai sẽ là người lên tiếng khi có bất công xảy ra? Ai sẽ phát biểu khi một giảng
viên bị trù úm, một luận án bị hủy bỏ bất thường, một ghế trưởng khoa được mua bán
ngang nhiên, một công trình đạo văn trắng trợn? Khi đã thận trọng, tính toán qua từng
chuyến xe buýt, từng cái phong bì, để xây dựng và chăm chút cho sự an toàn của cái cuộc
đời con con của mình, người ta có còn dám để lương tâm lên tiếng khi nó muốn lên tiếng?
“Đây là một thời kỳ mà cái xấu được thưởng công, và những điều tốt bị trừng phạt.
Những kẻ hung hãn được ngợi ca, còn người yếu mềm bị chà đạp. Trong thế giới điên đảo
này, phần lớn mọi người bối rối. Sợ hãi làm họ mất phương hướng, mong muốn tự vệ làm
họ mù lòa.” Những dòng trên là những gì nhà tâm lý học Eva Folgemann viết trong cuốn
Lương tâm và can đảm về thời kỳ Phát xít Đức, và vẫn còn nguyên tính thời sự.
Nhưng không phải tất cả mọi người đều như vậy - thời đó cũng thế mà bây giờ cũng vậy.
“Một số ít người vẫn giữ được con đường của mình. Một số ít vẫn dùng la bàn đạo đức riêng
để định hướng.” Folgemann viết tiếp. Hồng và một vài người nữa trong trường đã không
lên xe đi dự giỗ.
Giống như những người tố cáo một bệnh viện nhân bản xét nghiệm máu hay tráo thủy
tinh thể, hay lên tiếng khi thấy lãnh đạo một trường nội trú cắt xén học bổng của học sinh,
trong khi những người khác xung quanh im lặng, ở đây có một số cá nhân quyết định bước
ra ngoài hệ thống, không tham gia “cuộc chơi”, và chấp nhận các thiệt thòi mà quyết định
đó có thể đem lại. Giáo sư Philip Zimbardo gọi đó là những hành động anh hùng và những
cá nhân đó là những “anh hùng thường nhật”. Trái với hình dung lãng mạn của chúng ta,
anh hùng không chỉ là những siêu nhân xả thân cứu cả cộng đồng hay quốc gia trong một
cuộc chiến tranh. Nhà điền kinh và hoạt động xã hội Mỹ, Arthur Ashe, viết, “chủ nghĩa anh
hùng thực sự thường không rực rỡ và không kịch tính.” Những “anh hùng thường nhật” là
những người giữ được “la bàn đạo đức” của mình trong một tình huống, có thể rất nhỏ, của
cuộc sống. Theo Zimbardo, chủ nghĩa anh hùng khác với các hoạt động nhân đạo từ thiện,
tuy cả hai đều phục vụ những người khác. Nó đòi hỏi một thái độ chấp nhận hy sinh lớn
hơn. Để không thỏa hiệp các nguyên tắc của mình, những anh hùng thường phải chấp nhận
các tổn thất lớn nhỏ: đánh đổi tiện nghi vật chất, bị cô lập, hắt hủi về mặt xã hội, hay bị
khủng bố, gây áp lực về tinh thần.
Khái niệm “anh hùng thường nhật” thay đổi cách nhìn của chúng ta. Thay vì hình dung
rằng phẩm chất “anh hùng” được thiên nhiên ban tặng cho một số cá nhân đặc biệt, chúng
ta hiểu rằng nó không phi thường, mà gần gũi hơn rất nhiều. Thứ nữa, khi đặt chữ “anh
hùng” cho một hành động nhỏ như hành động của Hồng, chúng ta cho nó một sự tôn vinh
và khích lệ xứng đáng. Cuối cùng, “anh hùng thường nhật” mang trong nó hàm ý là ai
trong chúng ta cũng có thể làm được điều tốt, thậm chí, thay vì thụ động chờ đợi một siêu
nhân ra tay, ai cũng có nghĩa vụ trở thành anh hùng thường nhật ở một khía cạnh nào đó,
trong một tình huống nào đó. Đó là cách duy nhất để đẩy lùi lũ.
Tháng Bảy 2015
NGƯỜI NGHÈO KHÔNG CÓ LỖI
Hẳn ai cũng từng nhìn thấy hình ảnh này đâu đó ở vùng núi: người dân ngủ lăn lóc bên vệ
đường, xe máy vứt lỏng chỏng bên cạnh. Trước đó, họ đã ra chợ bán đi mấy bó củi hay con
gà, rồi mua rượu uống say túy lúy. Nếu xuống làng của họ, sẽ thấy thêm nhà nào cũng
uống, người nào cũng uống. Đây là những làng mà trợ cấp bao nhiêu cũng hết nhưng
không làm ra được cái gì, tiền hỗ trợ cho trẻ con đi học thì bị người lớn lấy để mua điện
thoại di động, dùng vài tuần rồi vứt lăn lóc. Đến thóc giống được phát cũng “nảy mầm”
thành rượu. Trẻ em thì lớn lên trong hoang dã, không ai đoái hoài. Nhìn những cảnh đó,
khó mà kiềm chế được cảm giác bực bội. Hình dung lãng mạn về người nghèo của chúng ta
vẫn là những bà mẹ tần tảo chợ búa, những người cha gầy gò cặm cụi kéo xe. Nhưng thực tế
trần trụi là ở nhiều nơi, người nghèo sống một cuộc sống vật vờ, thậm chí ốm thì cũng đắp
chiếu nằm đó chứ không thiết đi chữa bệnh.
Thời gian gần đây có thể nhận thấy có một sự sốt ruột từ phía chính quyền và dư luận xã
hội với những người nghèo. “Anh chị mà còn nghèo,” họ lên tiếng, “thì là lỗi tại các anh chị,
chứ còn của ai nữa.” Đầu tháng Ba, trong bài Sống ăn bám trên VnExpress, tác giả Hoàng
Xuân mô tả sự lười biếng, buông xuôi nát rượu ở một làng quê Ninh Thuận, nơi người dân
có “cái vẻ hiền lành gần như trì độn” làm tác giả “chỉ muốn hét to”. Người nghèo quen xin
xỏ, dựa dẫm, được cấp cho con bò thì buộc cọc bỏ đói, có cơ hội thì “đào mỏ” tới cạn kiệt
những họ hàng khá giả hơn. Tâm lý ăn bám, hèn nhược bệnh hoạn, tác giả kết luận, là lý do
khiến nhiều người nghèo vẫn hoàn nghèo. Bài viết nhận được hưởng ứng của khá đông đảo
bạn đọc và được share gần 1000 lần qua Facebook.
Giữa năm ngoái, trang mạng của đảng bộ Điện Biên dẫn ý kiến của nhiều vị lãnh đạo
tỉnh: “Nguyên nhân căn bản cản trở mục tiêu giảm nghèo của địa phương là bệnh lười khá
phổ biến trong tư tưởng người nghèo.” Với những người này, “có nỗ lực tuyên truyền, vận
động, giúp đỡ bao nhiêu thì tất cả cũng trở thành vô nghĩa.” Một phát ngôn khá táo bạo với
một tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo chính thức là 38%.
Đầu năm nay, Đà Nẵng hết kiên nhẫn và tuyên bố “kiên quyết không thực hiện hỗ trợ
chính sách đối với những hộ nghèo nhưng lười lao động”. Đây là địa phương đầu tiên làm
động tác mạnh tay này, và sẽ không ngạc nhiên khi trong thời gian tới quan điểm quản lý
ấy được các địa phương khác noi theo.
Quan điểm “nạn nhân có lỗi” không chỉ có ở Việt Nam. Ở các nước Trung Âu, nhiều
cộng đồng người nhập cư vẫn được coi là “nát rượu” và là “máy đẻ”, lợi dụng lòng hảo tâm
của nhà nước. Dân Di gan thì khỏi nói, bị liệt luôn vào dạng mọi rợ, cộng thêm lưu manh
vặt, tóm lại là vô phương cứu chữa. Ở Mỹ, nhiều người lớn tiếng là đã tới lúc người nghèo
phải tắt ti vi đi và nhấc cái mông béo ú ra khỏi xô pha mà đi tìm việc, thay vì sống triền
miên bằng trợ cấp xã hội.
Thực ra, đây là một quan niệm rơi rớt lại từ tư duy của cách đây hai thế kỷ. Ở London
thời Victoria, tầng lớp giàu có cho rằng nghèo đói là do lười nhác, nghiện ngập, cờ bạc và
chi tiêu vô tội vạ (giống hệt những gì tác giả Hoàng Xuân kể về cái làng ở Ninh Thuận), và
do đó, chính phủ không nên và không cần can thiệp. Samuel Smiles, tác giả có ảnh hưởng
lớn của cuốn Self-Help nổi tiếng, xuất bản năm 1859, còn cảnh cáo là “bất cứ cố gắng nào
của chính quyền nhằm giúp đỡ người nghèo sẽ chỉ làm họ thêm phung phí trong tiêu pha
và không lao động chăm chỉ để cải thiện bản thân”. Ở điểm này, có vẻ ông Samuel Smiles
và chính quyền Đà Nẵng có cùng suy nghĩ.
Suy nghĩ này tuy xuôi tai (và dễ nhận được sự đồng tình từ những người làm từ thiện
mãi rồi nản), nhưng lại nhìn nhầm vấn đề. Điểm chung của người nghèo ở Việt Nam bây
giờ và người bần cùng ở London cách đây 150 năm là: không phải lối sống của họ dẫn họ tới
nghèo đói, mà nghèo đói đã tạo cho họ lối sống như vậy. Nói khác đi, cái nghèo cha truyền
con nối đã biến họ thành những con người có thái độ sống buông xuôi, những người mà
một cán bộ địa phương ở Vân Canh, Bình Định, mô tả một cách rất chính xác là “ngày ngày
cứ ra đường ngồi chống cằm rồi về... uống rượu”.
Người nghèo phải chịu một mức độ stress cao hơn rất nhiều, do bệnh tật, thiếu thốn, đói
kém và rủi ro triền miên đem lại. Một cách tự nhiên, con người phản ứng với tình trạng
stress này bằng hai cách: hoặc giận dữ, hung hăng, hoặc thụ động, buông xuôi; và nhiều khi
họ chạy từ thái cực này sang thái cực khác. Theo các nghiên cứu về thần kinh, trong khi các
cú stress ngắn hạn có tác dụng làm tăng sự tập trung và linh lợi, stress mãn tính gây hại tới
“hồi hải mã” (hippocampus), một phần của não trước đảm nhiệm việc lưu giữ thông tin,
ngôn ngữ, hình thành ký ức dài hạn và khả năng định hướng trong không gian.
Các quan sát lâu năm cũng cho thấy, ở trẻ em lớn lên trong nghèo khổ, vùng tiền não
thùy (prefrontal cortex) - đây là vùng liên quan tới khả năng kiểm soát bản thân và điều
phối cảm xúc - bị ảnh hưởng, tương tự như ở người trầm cảm. Điều này cũng giải thích cho
vẻ mặt “hiền lành gần như trì độn” mà bài báo VnExpress quan sát được.
Các nghiên cứu về hành vi gần đây cũng chỉ ra là sự thiếu thốn và bất an làm giảm thiểu
các tài nguyên liên quan tới nhận thức, hay là công suất não, dẫn tới những hành vi không
hợp lý và các quyết định không hiệu quả. Nă...
LỜI NÓI ĐẦU
Descartes, triết gia Pháp thế kỷ 17, nổi tiếng với lời khẳng định: “Tôi tư duy do đó tôi tồn
tại”. Đương nhiên tư duy và suy nghĩ đơn thuần là hai việc khác nhau. Trong một ngày
chúng ta thật sự tư duy, động não, suy nghĩ tập trung bao nhiêu giờ hay thậm chí bao
nhiêu phút? Cái gì kích thích chúng ta tư duy? Đó có thể là một cuốn sách, như Bức xúc
không làm ta vô can - tuyển tập các bài viết của tác giả Đặng Hoàng Giang - chẳng hạn.
Các bài trong cuốn sách được chia thành ba chương. Chương I có chủ đề về quan hệ giữa
cá nhân và đám đông trong xã hội hiện đại. Chương II bàn về một số vấn đề phát triển như
môi trường, công lý và phân biệt giàu nghèo. Các bài trong Chương III bàn tới một số hiện
tượng xã hội và trào lưu văn hóa đương đại. Với lăng kính đa chiều, tư duy tự do phản biện,
cách tiếp cận vững chắc của một nhà chuyên môn, tác giả đã mổ xẻ xuyên qua các lớp lang
văn hóa, xã hội, đời thường mà hầu hết tất cả chúng ta đều biết để tìm đến thực chất, ý
nghĩa đích thực của hiện tượng. Đây thật sự là tác phẩm của một nhà phê bình xã hội (như
chúng ta hiểu về cụm từ “nhà phê bình nghệ thuật”, “nhà phê bình văn học”) mà hiện nay
Việt Nam còn thiếu. Và khi xã hội đang trong vòng xoáy của một sự chuyển dịch dồn dập,
lộn xộn như tại Việt Nam thì rất cần những cá nhân có công cụ sắc bén để giúp giải mã
những trào lưu xã hội và hiện tượng văn hóa đang xuất hiện hằng ngày quanh chúng ta. Tôi
đặc biệt tâm đắc với lựa chọn chủ đề của Chương I về tâm lý đám đông, một chủ đề đến nay
vẫn chưa được mổ xẻ kịp thời và đủ sâu và trúng tại Việt Nam.
Tuy nhiên tác giả không chỉ dừng lại ở sự quan sát tỉnh táo và diễn giải lạnh lùng của
một nhà khoa học thuần túy. Các bài trong tuyển tập còn toát ra lòng nhân ái của một
người dấn thân với số phận mọi người và mỗi người, đặc biệt những tầng lớp, những con
người kém may mắn, thua thiệt trong xã hội.
Tôi không hoàn toàn chia sẻ quan điểm và phân tích của tác giả Đặng Hoàng Giang đối
với mọi đề tài trong cuốn sách. Nếu như tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm trong bài
Ngó Mỹ, dòm Nhật, hóng Do Thái: lựa chọn nào cho ta?, bài Văn hóa không phải là lý do
khiến quốc gia thất bại, hay bài Những người khốn khổ ở Tiên Lãng chẳng hạn, thì trái lại
tôi khó thông với lời nhắn nhủ “để công chúng là người quyết định cuối cùng số phận của
các sản phẩm văn hóa và nghệ thuật” trong bài Sự trỗi dậy của tư duy phong kiến và bảo
thủ. Vì theo cách tiếp cận của tác giả trong nhiều bài khác, số đông “công chúng” có thể bị
chi phối, định hướng bởi những tổ chức đặt lợi ích thương mại lên trên hết, khai thác sự
thèm khát hào nhoáng, danh vọng của một bộ phận đáng kể trong công chúng, từ đó không
thật sự làm chủ lựa chọn của mình.
Phải chăng độc giả cuốn sách này chỉ bó hẹp trong giới học thuật và hoạt động xã hội
chuyên nghiệp? Tôi không nghĩ như vậy và kêu gọi mọi người, bất kể già trẻ, nam nữ, dù
thuộc tầng lớp hoặc nghề nghiệp nào, cũng hãy đến với cuốn sách. Không hề khô khan,
không hề nhàm chán, cuốn sách kết hợp một cách sống động và hấp dẫn hơi thở của cuộc
sống với tia sáng của học thuật. Và tôi hết sức thích thú với cách tác giả lồng ghép khéo léo
sự hóm hỉnh và châm biếm sắc sảo nhưng tinh tế(1) vào việc phê bình xã hội của mình,
khiến tác phẩm đến được với nhiều độc giả hơn.
TÔN NỮ THỊ NINH
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage :
https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI ĐỨNG MỘT MÌNH
Vẻ đẹp của người chạy marathon về chót
Họ phá phách vô phương hướng và vô nghĩa
Lại chuyện bia, thịt chó và ấn đền Trần
“Sống chung với lũ” và chủ nghĩa anh hùng thường nhật
Người nghèo không có lỗi
Bức xúc không làm ta vô can
Cơ thể giả, khát vọng thật
Bi kịch của sự hào nhoáng
Vẻ đẹp của người đứng một mình
HỌ PHÁ PHÁCH VÔ PHƯƠNG HƯỚNG
VÀ VÔ NGHĨA
Vì sao những người dân Đồng Nai vốn bình thường hiền lành, thân ái với nhau, lại trong
tích tắc trở nên khác hẳn, hăm hở lao vào núi bia đổ, lễ mễ khuân ra mấy bịch, rồi háo hức
quay lại làm đợt nữa. Điều gì làm cho những thanh niên Nghệ An, cuối tuần vừa đi chơi với
bạn gái, bỗng hăng lên lao vào “đánh hôi” kẻ trộm chó như đi trẩy hội. Lý do nào khiến
những công nhân xây dựng ở Thái Nguyên, hằng ngày chăm chỉ mang cặp lồng cơm đi làm,
bỗng trở nên hung hãn và đập phá chính ngay công việc đem lại miếng cơm manh áo cho
mình? Sẽ hời hợt nếu ta chỉ đưa ra những bình luận chung chung về sự suy đồi của đạo đức,
về sự xuống cấp của xã hội, về niềm tin bị đánh mất, về người Việt thiếu văn hóa, vân vân và
vân vân. Để có thể hiểu được những hiện tượng này và truy tìm nguyên nhân, chúng ta cần
phải nhìn sâu hơn vào tâm lý đám đông và xem nó vận hành như thế nào.
Một đám đông có những yếu tố đặc biệt. Thứ nhất, trong đám đông, các thành viên của
nó vô danh. Khác với lúc đứng riêng rẽ một mình, cái vô danh trong đám đông đem lại cho
người ta một sự an toàn và cảm giác được bảo vệ nhất định. Thứ hai, đám đông gây phấn
khích. Những người đã từng ở trong một sân vận động khổng lồ đều biết cảm giác đó khác
với cảm giác có được khi xem trận bóng trước màn hình ti vi. Số đông cộng hưởng và tạo ra
một năng lượng đặc biệt, một sự hưng phấn có sức lây lan lớn. Lúc đó, cô gái nhút nhát
nhất cũng có thể văng tục ngon ơ và cho ngón tay vào mồm, cùng huýt sáo la ó trọng tài.
Đám đông cũng đem lại cho các cá nhân trong nó một cảm giác về quyền lực. Trong
đám đông, những người vốn thấp cổ bé họng bỗng có cảm giác mình mạnh mẽ. Chúng ta
hẳn còn nhớ một người đàn ông Đồng Nai vừa bê bia vừa trừng mắt quát người tài xế xe tải:
“Báo công an đi, ông thách đấy!”
Và cuối cùng, đám đông rùng rùng chuyển động và trăm người như một cùng làm một
hành vi nào đấy, khi họ được một sự kiện bất ngờ châm ngòi. Giả sử như hàng trăm thùng
bia ở Đồng Nai kia được xếp ngay ngắn ven đường, thì dù chỉ có một người trông coi thôi,
chắc cũng không ai nghĩ tới chuyện xông vào lấy. Bia đổ tung tóe ra đường tạo ra một tình
huống lạ, một điều bất thường, kết hợp với sự vô danh, phấn chấn lây lan, cảm giác quyền
lực và an toàn, làm giảm đáng kể ý thức trách nhiệm của mỗi người về hành vi của mình,
biến một bà mẹ mẫu mực thành một người hớt hải gom bia mặc dù trong nhà không có ai
uống, để tới lúc tỉnh cơn say mới hối hận về hành động của mình. Trong đám đông, con
người dễ đánh mất bản thân.
Tuy nhiên, chen chúc nhau để lượm mấy lon bia trên mặt đường, hay để bẻ mấy cành
hoa trong một hội chợ vẫn khác xa với việc xông vào đánh đấm tới chết một kẻ trộm chó,
hay châm lửa đốt rụi hàng chục cái xe máy. Điều gì khiến đám đông trở thành một sức
mạnh phá hủy - nhiều khi phá hủy chính môi trường sống của bản thân họ? Những sự kiện
trên có điểm gì chung với những lần các cổ động viên bóng đá ở Anh bỗng nhiên hỗn chiến
và giật tung ghế của sân vận động, với làn sóng đập phá và hôi của ở London năm 2011 làm
toàn thế giới kinh ngạc, hay với sáu ngày bạo lực và cướp bóc ở Los Angeles năm 1992 làm
53 người tử vong?
Điểm chung của Nghệ An 2014 (thanh niên nông thôn), Samsung Thái Nguyên 2014
(công nhân xây dựng), London 2011 (thanh niên nhập cư) và Los Angeles 1992 (thanh
niên da đen) là: đám đông này là đám đông của những người ngoài lề, những người thấp bé
trong xã hội, thu nhập thấp hoặc thất nghiệp, và không có cơ hội. Họ mang sẵn trong mình
một sự cáu kỉnh và chán nản. Họ bực bội với bản thân, với cuộc đời mình, với những thứ
xung quanh. Khi họ nhập vào một đám đông, như Gustave Le Bon nhận xét trong Tâm lý
học đám đông (bản dịch tiếng Việt của Nhà xuất bản Tri thức năm 2006), họ đánh mất tính
cá nhân, tính độc lập, khả năng đánh giá và phán xét đạo đức, họ bị cuốn vào ảnh hưởng
phi lý của tập thể xung quanh. Do đó, đám đông có thể làm những hành động phá hủy và
bạo lực mà mỗi cá nhân, nếu đứng riêng biệt, sẽ không bao giờ nghĩ là họ có thể làm. Chỉ
cần một sự kiện nhỏ xảy ra: một công nhân bị bảo vệ đánh vào đầu, một con chó bị trộm.
Thực chất, sự hung hãn của người nghèo, của những người ở đáy xã hội, tới từ cảm giác
bất lực, ngoài lề, không làm chủ được cuộc đời mình. Họ thấy mình như kẻ lạ trên chính đất
nước của mình, bị bỏ rơi, bị lãng quên. Họ thấy mình kém cỏi, vô giá trị. Cũng vì thế, khi đã
ngấm cái say của một đám đông nổi loạn thì họ hân hoan như đang tham dự một cuộc vui
điên dại. Một tờ báo đã rất chính xác khi chạy tít cho vụ Nghệ An “Đánh trộm chó đông như
đi hội”. Ai xem những video quay cảnh bạo loạn ở nhà máy Samsung hẳn cũng nhận ra
không khí vui vẻ, phấn khích, các bình luận xôn xao, tiếng huýt sáo, reo hò, tiếng cười sảng
khoái, như ở một buổi biểu diễn văn nghệ quần chúng mà ai cũng được tham gia góp vui. Ít
nhất, trong khoảnh khắc đó, họ có cảm giác mình là người thắng, người mạnh, rằng cuộc
sống thú vị, sôi động, làm họ quên đi cái mòn mỏi hằng ngày của mình. Đám đông cho họ
một bản sắc, cho họ một nơi để thuộc về.
Đám đông “mới” của ngày nay khác đám đông “cũ” của năm 1945. Đám đông cũ, qua
quá trình được “vận động” tham gia cách mạng, đã phát triển cho mình một ý thức hệ. Sau
30 năm kinh tế thị trường, công nhân và người nghèo bây giờ đã mất đi ý thức về bản thân
như một giai cấp. Họ đơn giản bị kẹt trong cái bẫy nghèo truyền xuống từ thế hệ trước để
lại. Họ là sản phẩm của văn hóa nghèo khổ, những người, mà như Oscar Lewis đã định
nghĩa trong Văn hóa của nghèo khổ năm 1998, “có rất ít ý thức về lịch sử. Họ là những
người bên lề, chỉ biết tới những vật lộn của bản thân, chỉ biết được hoàn cảnh của địa
phương họ, thế giới hẹp của họ, cách sống riêng của họ. Thông thường, họ không có kiến
thức, tầm nhìn hay ý thức hệ để nhận ra điểm tương đồng giữa những vấn đề của họ và vấn
đề của những người giống họ trên thế giới. Nói một cách khác, họ không có ý thức giai cấp,
mặc dù họ rất nhạy cảm với sự phân biệt về đẳng cấp.” Chúng ta, những người đã quen với
các đại tự sự cách mạng, ngạc nhiên nhận ra rằng những đám đông nổi loạn bây giờ không
có quan điểm xã hội hay thông điệp chính trị gì. Những công nhân đập phá ở Thái Nguyên
không đưa ra một đòi hỏi cụ thể gì cho doanh nghiệp hay công đoàn; những người dân
đánh trộm chó ở Nghệ An không có yêu cầu gì với công an hay chính quyền địa phương.
Họ phá phách một cách vô phương hướng và vô nghĩa. Chính vì vậy, sự hung hãn bùng
phát thường bất ngờ với các nhà bình luận xã hội và các nhà chức trách, lúc đó họ mới bối
rối đi tìm lý do và lời giải thích.
Lời giải thích đơn giản nhất có lẽ đến từ Martin Luther King: “Không có gì nguy hiểm
hơn là xây dựng một xã hội mà trong đó một nhóm lớn có cảm giác họ không được can dự,
rằng họ không có gì để mất. Nếu người ta có quyền lợi trong xã hội, người ta sẽ bảo vệ xã
hội, nhưng nếu không, họ sẽ vô thức muốn phá hủy nó.”
Chúng ta hãy dành cho đám đông những người nghèo đô thị, những thanh niên nông
thôn, những công nhân ở các khu công nghiệp, một phần tử tế của miếng bánh, một cảm
giác xã hội là của họ, phục vụ họ. Một cảm giác thực sự chứ không phải chỉ trên các khẩu
hiệu và văn kiện.
Nếu không, họ sẽ không để cho những người khác yên.
Tháng Giêng 2014
LẠI CHUYỆN BIA, THỊT CHÓ VÀ ẤN
ĐỀN TRẦN
Từ bao giờ người Việt có thói quen lấy khoái cảm từ việc tự xỉ vả bản thân? Mấy hôm nay,
người ta chuyền tay nhau các con số 3 tỉ lít bia, 5 triệu con chó, và 500.000 ấn đền Trần
được tiêu thụ trong một năm như những minh chứng hùng hồn cho sự bệ rạc và xuống dốc
của người Việt. Chúng ta đang tự mô tả mình như một cộng đồng chỉ quẩn quanh dọc ba
cạnh của hình tam giác mà ba đỉnh là quán bia, đền chùa và quán thịt chó (trong đó cạnh
nối quán bia và quán thịt chó là được lưu thông nhiều nhất).
Tôi muốn kêu gọi: chúng ta hãy bình tĩnh. Chúng ta có thể không thông minh như
người Do Thái, không chăm chỉ như người Nhật Bản, hay không xinh đẹp như (đàn ông) Ả
Rập, nhưng chúng ta đâu có đến nỗi nào. Đề nghị tất cả ngồi xuống, chúng ta sẽ lần lượt
làm rõ từng chuyện.
3 TỈ LÍT BIA
Theo con số của các nhà sản xuất bia thì người Việt tiêu thụ 3 tỉ lít bia một năm, hay
bình quân 33 lít trên một đầu người. Vậy là mỗi tuần, mỗi người uống chừng 0,6 lít bia. Tôi
không cho rằng đây là con số gây sốc. Tất nhiên, có người có thể lý luận là phải bỏ ra ngoài
phép tính này trẻ em, người già, phụ nữ, vân vân. Nhưng kể cả như vậy, suy ra, mỗi người
đàn ông Việt cũng chỉ uống cỡ 1,2 lít bia, hay là hơn hai cốc vại một chút, một tuần. Một
con số khiêm tốn. Bạn không tin ư? Xin thưa, tửu lượng này tương đương với mức độ của Ý
(là những người mà ta biết là ngoài bia ra còn uống khá nhiều rượu vang). Mà Ý lại chỉ
bằng một nửa Brazil. Mà Brazil lại chỉ bằng hai phần ba Úc. Nói cách khác, người Úc uống
bia nhiều gấp 3 lần người Việt.
Quán quân thế giới là những người Tiệp Khắc anh em, năm 2012 họ tiêu thụ 160 lít bia
mỗi người, thêm bớt mấy cốc không thành vấn đề. Lại có một số người lý luận là thể tích
của người châu Âu to hơn nên họ có thể uống nhiều hơn trước khi bị lú lẫn. Nhưng ngược
lại, ta phải nhớ là ở xứ lạnh không ra mồ hôi như Tiệp Khắc thì 160 lít của họ sẽ gần với
180-200 lít hơn, còn 33 lít ở ta thì thực ra chỉ còn 20 lít vì mùa hè nó túa ra theo lỗ chân
lông hết, vả lại bia hơi vỉa hè thì làm sao mà đo được lượng cồn với Pilsner Urquell. Có thể
tranh luận nhiều hơn, nhưng tóm lại, chúng ta không có gì phải băn khoăn ở đây.
5 TRIỆU CON CHÓ
Bây giờ sang chuyện 5 triệu con chó bị đưa lên bàn ăn hằng năm ở Việt Nam (theo
nguồn tin của tờ báo Anh The Guardian). Vấn đề này cần phân tích công phu hơn một
chút. Người ta ăn chó ở Cameroon, Ghana, Nigeria, và không những ở những nước “lạc
hậu” này, mà còn ở Canada (với điều kiện con chó phải bị giết trước sự có mặt của một
thanh tra liên bang), Thái Lan, Nhật Bản, và tất nhiên, ở Hàn Quốc. Chúng ta hãy dừng lại
ở đất nước này. Mỗi năm người Hàn xếp lên đĩa khoảng 8.500 tấn thịt chó. Giả định rằng
mỗi con chó nặng trên dưới 10 kg, số lượng thịt này sẽ tương đương với khoảng 850.000
con chó. Công nhận là chưa thấm tháp gì, nhưng ta phải lưu ý dân số Hàn Quốc chỉ có 50
triệu. Như vậy, nếu dân số tương đương với Việt Nam, lượng chó đi vào bếp ở Hàn Quốc sẽ
là hơn 1,5 triệu con. Vẫn còn thấp hơn nhiều so với con số 5 triệu của ta.
Nhưng, và bây giờ các bạn hãy bám chắc vào mép bàn hay thành ghế để khỏi ngã: mỗi
năm, người ta dùng thêm 93.600 tấn, tức là hơn 9 triệu chú cẩu nữa, để sản xuất ra một
loại nước lên men tên là Gaesoju, nôm na là rượu chó, mà người Hàn Quốc thề là rất tốt
cho sức khỏe, đặc biệt để “điều hòa tiêu hóa”, và nhất là “sau phẫu thuật”. Vị chi tổng cộng
là 11 triệu con chó, cho cả ăn lẫn uống. Không rõ vì sao người Hàn lại bị phẫu thuật nhiều
như vậy.
500.000 ẤN ĐỀN TRẦN
Khác với bên trên, trong chuyện ấn đền Trần thì chúng ta không có điều kiện làm các so
sánh quốc tế với độ tin cậy cao. Tuy nhiên con số nửa triệu là khá ấn tượng, cộng với các
loại ấn của các đền khác nhau trong cả nước, cũng như các lễ lạt chùa chiền khác nữa thì về
mặt thống kê có thể nói trung bình gia đình nào cũng có người đầu năm đến nhang khói
nhờ thánh thần phù hộ. Câu hỏi được nhiều người đặt ra ở đây là vì sao bây giờ người Việt
lại nhờ cậy tới thần linh nhiều như vậy.
Theo các nhà xã hội học, người ta càng có nhu cầu bám vào các thế lực siêu nhiên khi
cuộc sống của người ta càng bấp bênh, bất an, ngoài vòng kiểm soát. Nói một cách khác, khi
xã hội không có thượng tôn pháp luật, không đem lại cho người dân an sinh, cảm giác an
toàn, chắc chắn, được che chở, bảo vệ, thì người ta phải nương tới cửa thánh thần.
Chẳng ngoài vòng kiểm soát hay sao nếu như bạn không chắc là miếng đất có sổ đỏ của
bạn, hay cái đầm cá bạn vẫn canh tác hàng chục năm nay, tới sáng mai liệu có còn thuộc về
bạn, hay đã nằm trong dự án của một đại gia nào đó rồi. Rõ là bạn muốn khấn bái để các
thánh giúp bạn không bị trượt chân ngã đúng lúc đang ở trong đồn công an, đập gáy vào
dùi cui mà thiệt mạng chứ. Để các thần trao cho đứa bé sơ sinh trong gia đình bạn sức đề
kháng chống cự lại với vắc xin bệnh viện được bảo quản đúng quy trình chứ. Để bà Chúa
Thượng ngàn cho năm nay mưa thuận gió hòa để cái đập thủy điện lơ lửng bên trên đầu
bạn không xả lũ đúng quy trình chứ.
Những cái “quy trình” mà lúc nào cũng đúng, nó cứ lừng lững tiến như xe lu, cán bẹp
mọi thân phận không may dính phải nó, người ta biết nhờ vào ai mà tránh nếu như không
vái tứ phương.
Nhưng còn một cái bấp bênh cuối cùng nữa, đó là không rõ các thánh thần có còn tai
mà nghe tiếng cầu khẩn của dân hay không. Đằng trước hàng chục nghìn dân đen nhốn
nháo, quần áo nhếch nhác, chen chúc nhau trước cửa đền Trần là mấy hàng quan chức,
trang nghiêm trong những bộ com lê đen trịnh trọng, như đang ở một cuộc họp trung
ương. Họ trò chuyện và hứa hẹn gì với đức Thánh Trần, sẽ chẳng ai biết được. Nhưng gì thì
gì, ở chỗ linh thiêng này cũng như nơi trần tục, quan phải xong thì mới tới lượt dân.
Cho nên các bạn ơi, đừng có chê bai hay chế nhạo người dân mà tội nghiệp họ. Cuối
cùng, chỉ còn mỗi quán thịt chó và quán bia là những nơi mà người dân có thể vui vẻ bên
nhau và trú ẩn chốc lát trước một cuộc sống đầy bất trắc.
Tháng Hai 2014
“SỐNG CHUNG VỚI LŨ” VÀ CHỦ
NGHĨA ANH HÙNG THƯỜNG NHẬT
Câu chuyện của một người bạn tôi, ta tạm gọi là Hồng, trưởng bộ môn ở một trường đại học
lớn, chắc hẳn cũng xảy ra trong vô vàn cơ quan và công ty nhà nước khác. Hằng năm, chị
và các đồng nghiệp đều được “nhắc khéo” khi sắp tới ngày giỗ bà thân sinh của ông hiệu
trưởng, và vào hôm đó, lãnh đạo các khoa và các bộ môn lại nghỉ việc, cùng nhau thuê một
chuyến xe về quê ông hiệu trưởng. Trung bình mỗi người đi ăn giỗ để vào phong bì một
triệu, một khoản thu nhập xinh xắn mà không vất vả cho ông hiệu trưởng.
Những người về dự giỗ hôm đó có thực sự muốn chia sẻ với ông hiệu trưởng một ngày
đáng nhớ, xúc động, trong không khí ấm cúng, với 300 người “gần gũi” của gia đình? Chắc
chắn không. Ngược lại, ai cũng hiểu rằng đây là một kỹ thuật làm tiền thô thiển. Nhưng
người ta tuân theo nó vì “ai cũng làm vậy cả”. Ma chay hiếu hỉ, rồi Trung thu, Tết, sinh
nhật, ốm đau, mỗi lần là một dịp phong bì. Không ai muốn bị đánh giá là không trung
thành, là phá bĩnh. Đây chỉ là một vài trong số vô vàn tiểu tiết người ta làm để mong có
được một cuộc sống yên ổn.
Tôi hình dung, trên chuyến xe hôm đó, người ta bông lơn pha trò, giống như các chuyến
dã ngoại khác của trường, nhưng thỉnh thoảng vẫn thấy le lói sự lố bịch của tình huống. Lúc
bước xuống xe, có thể người ta không khỏi cảm thấy một chút cay đắng, nhưng rồi gạt
nhanh nó đi. Khi lần lượt bắt tay ông hiệu trưởng, thông điệp mà mỗi người phát ra sau nụ
cười là: “Ông thấy chưa, tôi cư xử đúng như ông muốn nhé. Tôi tuân theo luật chơi đấy,
nên ông hãy để yên cho tôi sống, và có món gì thì đừng có mà quên tôi.”
Điều chúng ta nhìn thấy ở đây là quyền lực độc tôn, quyền lực của một bộ máy mà ông
hiệu trưởng là đại diện trực tiếp, bao trùm lên những người dưới ông như một vỏ bọc khổng
lồ. Trong thâm tâm, người ta có thể lên án, nhưng bên ngoài họ im lặng, và làm những điều
mà hệ thống yêu cầu. Họ sống trong một sự dối trá.
Người Việt mô tả tình huống này bằng một câu nói tài tình “Sống chung với lũ”. Đây là
một câu cửa miệng - không chỉ những người dưới quyền ông hiệu trưởng dùng câu này, mà
bản thân ông ấy và cả những vị bên trên ông cũng thế. Qua câu này, người ta muốn thể
hiện, với người nghe và với bản thân, rằng họ là người đàng hoàng, tuy họ phải sống cùng
cái xấu, nhưng họ khác nó, họ không phải cái xấu.
Tất nhiên, không ai muốn tự thú nhận sự khúm núm mất tự trọng của mình, và bên kia
cũng hiểu vậy, nên cả hai tìm ra những hình thức trang trí cho mục đích thực chất đằng
sau. Trá hình dưới những dịp lễ Tết, sinh nhật, ốm đau, hiếu hỉ, mục đích thực chất là để
một bên luôn tái khẳng định quyền lực, và bên kia luôn tái khẳng định sự phục tùng, trong
khi vẫn tự nhủ với nhau và với bản thân rằng nhân phẩm của họ vẫn nguyên vẹn.
Nhưng “sống chung với lũ” chỉ là một sự tự ru ngủ. Bởi khi người ta chấp nhận sống
chung với cái dối trá, thậm chí cố gắng trục lợi từ nó, thì như Václav Havel, cố tổng thống
Tiệp Khắc, viết trong tiểu luận mang tên Quyền lực của những người không quyền lực,
“người ta xác nhận cái hệ thống, đáp ứng nó, làm ra nó. Người ta chính là cái hệ thống đó.”
Và khi có người cầm phong bì xuất hiện trước cửa nhà Hồng và đồng nghiệp để nhờ cậy,
họ sẽ phải phản ứng thế nào? Nếu từ chối những vị khách này thì chẳng phải họ tự thú
nhận những hành động họ làm với ông hiệu trưởng là đáng chê trách, đáng xấu hổ, là
không chấp nhận được? Hơn nữa, không ai chỉ có thể cho mãi mà không nhận. Cho nên,
họ phải coi đây là một hành động bình thường. Khi người ta chậc lưỡi nhận phong bì từ
những người có ít quyền lực hơn mình, họ đã khép kín vòng tròn. Để ngủ ngon, họ phải tin
vào tính chính danh của các hành động của mình. Điều này, Václav Havel viết tiếp trong
tiểu luận nói trên, “cho phép người ta đánh lừa lương tâm và che đậy trước thế giới và trước
bản thân chỗ đứng thực của họ, cái cuộc sống thê thảm của họ. Nó là tấm voan để con người
có thể giấu đi sự tồn tại thảm hại, sự tầm thường hóa, sự thích nghi của mình. Nó là một lời
thanh minh mà ai cũng sử dụng, từ một nhân viên sợ mất việc tới một lãnh đạo cao cấp
bám lấy quyền lực. Chức năng của nó là khiến người ta, những nạn nhân lẫn những trụ cột
của hệ thống, ảo tưởng rằng hệ thống đang tồn tại hài hòa với trật tự của con người.”
Chuyến xe dự giỗ kia là một nhắc nhở cho mọi người về cái trật tự đó, nhắc nhở họ đang
sống ở đâu, họ phải hành xử thế nào, nếu như họ không muốn bị loại ra ngoài, bị hắt hủi.
Hành xử đó cũng phải được thể hiện ở vô vàn chỗ khác: trong lớp học, trong các hội đồng
nghiệm thu đề tài, khi viết các bài báo, khi họp bộ môn, khi xét thưởng và bổ nhiệm, ở các
buổi văn nghệ và liên hoan... Cái vòng tròn khép kín kia chính là hệ mao mạch đưa cái giả
dối thẩm thấu đến chân tơ kẽ tóc vũ trụ của Hồng và các đồng nghiệp của cô.
Và lúc đó, ai sẽ là người lên tiếng khi có bất công xảy ra? Ai sẽ phát biểu khi một giảng
viên bị trù úm, một luận án bị hủy bỏ bất thường, một ghế trưởng khoa được mua bán
ngang nhiên, một công trình đạo văn trắng trợn? Khi đã thận trọng, tính toán qua từng
chuyến xe buýt, từng cái phong bì, để xây dựng và chăm chút cho sự an toàn của cái cuộc
đời con con của mình, người ta có còn dám để lương tâm lên tiếng khi nó muốn lên tiếng?
“Đây là một thời kỳ mà cái xấu được thưởng công, và những điều tốt bị trừng phạt.
Những kẻ hung hãn được ngợi ca, còn người yếu mềm bị chà đạp. Trong thế giới điên đảo
này, phần lớn mọi người bối rối. Sợ hãi làm họ mất phương hướng, mong muốn tự vệ làm
họ mù lòa.” Những dòng trên là những gì nhà tâm lý học Eva Folgemann viết trong cuốn
Lương tâm và can đảm về thời kỳ Phát xít Đức, và vẫn còn nguyên tính thời sự.
Nhưng không phải tất cả mọi người đều như vậy - thời đó cũng thế mà bây giờ cũng vậy.
“Một số ít người vẫn giữ được con đường của mình. Một số ít vẫn dùng la bàn đạo đức riêng
để định hướng.” Folgemann viết tiếp. Hồng và một vài người nữa trong trường đã không
lên xe đi dự giỗ.
Giống như những người tố cáo một bệnh viện nhân bản xét nghiệm máu hay tráo thủy
tinh thể, hay lên tiếng khi thấy lãnh đạo một trường nội trú cắt xén học bổng của học sinh,
trong khi những người khác xung quanh im lặng, ở đây có một số cá nhân quyết định bước
ra ngoài hệ thống, không tham gia “cuộc chơi”, và chấp nhận các thiệt thòi mà quyết định
đó có thể đem lại. Giáo sư Philip Zimbardo gọi đó là những hành động anh hùng và những
cá nhân đó là những “anh hùng thường nhật”. Trái với hình dung lãng mạn của chúng ta,
anh hùng không chỉ là những siêu nhân xả thân cứu cả cộng đồng hay quốc gia trong một
cuộc chiến tranh. Nhà điền kinh và hoạt động xã hội Mỹ, Arthur Ashe, viết, “chủ nghĩa anh
hùng thực sự thường không rực rỡ và không kịch tính.” Những “anh hùng thường nhật” là
những người giữ được “la bàn đạo đức” của mình trong một tình huống, có thể rất nhỏ, của
cuộc sống. Theo Zimbardo, chủ nghĩa anh hùng khác với các hoạt động nhân đạo từ thiện,
tuy cả hai đều phục vụ những người khác. Nó đòi hỏi một thái độ chấp nhận hy sinh lớn
hơn. Để không thỏa hiệp các nguyên tắc của mình, những anh hùng thường phải chấp nhận
các tổn thất lớn nhỏ: đánh đổi tiện nghi vật chất, bị cô lập, hắt hủi về mặt xã hội, hay bị
khủng bố, gây áp lực về tinh thần.
Khái niệm “anh hùng thường nhật” thay đổi cách nhìn của chúng ta. Thay vì hình dung
rằng phẩm chất “anh hùng” được thiên nhiên ban tặng cho một số cá nhân đặc biệt, chúng
ta hiểu rằng nó không phi thường, mà gần gũi hơn rất nhiều. Thứ nữa, khi đặt chữ “anh
hùng” cho một hành động nhỏ như hành động của Hồng, chúng ta cho nó một sự tôn vinh
và khích lệ xứng đáng. Cuối cùng, “anh hùng thường nhật” mang trong nó hàm ý là ai
trong chúng ta cũng có thể làm được điều tốt, thậm chí, thay vì thụ động chờ đợi một siêu
nhân ra tay, ai cũng có nghĩa vụ trở thành anh hùng thường nhật ở một khía cạnh nào đó,
trong một tình huống nào đó. Đó là cách duy nhất để đẩy lùi lũ.
Tháng Bảy 2015
NGƯỜI NGHÈO KHÔNG CÓ LỖI
Hẳn ai cũng từng nhìn thấy hình ảnh này đâu đó ở vùng núi: người dân ngủ lăn lóc bên vệ
đường, xe máy vứt lỏng chỏng bên cạnh. Trước đó, họ đã ra chợ bán đi mấy bó củi hay con
gà, rồi mua rượu uống say túy lúy. Nếu xuống làng của họ, sẽ thấy thêm nhà nào cũng
uống, người nào cũng uống. Đây là những làng mà trợ cấp bao nhiêu cũng hết nhưng
không làm ra được cái gì, tiền hỗ trợ cho trẻ con đi học thì bị người lớn lấy để mua điện
thoại di động, dùng vài tuần rồi vứt lăn lóc. Đến thóc giống được phát cũng “nảy mầm”
thành rượu. Trẻ em thì lớn lên trong hoang dã, không ai đoái hoài. Nhìn những cảnh đó,
khó mà kiềm chế được cảm giác bực bội. Hình dung lãng mạn về người nghèo của chúng ta
vẫn là những bà mẹ tần tảo chợ búa, những người cha gầy gò cặm cụi kéo xe. Nhưng thực tế
trần trụi là ở nhiều nơi, người nghèo sống một cuộc sống vật vờ, thậm chí ốm thì cũng đắp
chiếu nằm đó chứ không thiết đi chữa bệnh.
Thời gian gần đây có thể nhận thấy có một sự sốt ruột từ phía chính quyền và dư luận xã
hội với những người nghèo. “Anh chị mà còn nghèo,” họ lên tiếng, “thì là lỗi tại các anh chị,
chứ còn của ai nữa.” Đầu tháng Ba, trong bài Sống ăn bám trên VnExpress, tác giả Hoàng
Xuân mô tả sự lười biếng, buông xuôi nát rượu ở một làng quê Ninh Thuận, nơi người dân
có “cái vẻ hiền lành gần như trì độn” làm tác giả “chỉ muốn hét to”. Người nghèo quen xin
xỏ, dựa dẫm, được cấp cho con bò thì buộc cọc bỏ đói, có cơ hội thì “đào mỏ” tới cạn kiệt
những họ hàng khá giả hơn. Tâm lý ăn bám, hèn nhược bệnh hoạn, tác giả kết luận, là lý do
khiến nhiều người nghèo vẫn hoàn nghèo. Bài viết nhận được hưởng ứng của khá đông đảo
bạn đọc và được share gần 1000 lần qua Facebook.
Giữa năm ngoái, trang mạng của đảng bộ Điện Biên dẫn ý kiến của nhiều vị lãnh đạo
tỉnh: “Nguyên nhân căn bản cản trở mục tiêu giảm nghèo của địa phương là bệnh lười khá
phổ biến trong tư tưởng người nghèo.” Với những người này, “có nỗ lực tuyên truyền, vận
động, giúp đỡ bao nhiêu thì tất cả cũng trở thành vô nghĩa.” Một phát ngôn khá táo bạo với
một tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo chính thức là 38%.
Đầu năm nay, Đà Nẵng hết kiên nhẫn và tuyên bố “kiên quyết không thực hiện hỗ trợ
chính sách đối với những hộ nghèo nhưng lười lao động”. Đây là địa phương đầu tiên làm
động tác mạnh tay này, và sẽ không ngạc nhiên khi trong thời gian tới quan điểm quản lý
ấy được các địa phương khác noi theo.
Quan điểm “nạn nhân có lỗi” không chỉ có ở Việt Nam. Ở các nước Trung Âu, nhiều
cộng đồng người nhập cư vẫn được coi là “nát rượu” và là “máy đẻ”, lợi dụng lòng hảo tâm
của nhà nước. Dân Di gan thì khỏi nói, bị liệt luôn vào dạng mọi rợ, cộng thêm lưu manh
vặt, tóm lại là vô phương cứu chữa. Ở Mỹ, nhiều người lớn tiếng là đã tới lúc người nghèo
phải tắt ti vi đi và nhấc cái mông béo ú ra khỏi xô pha mà đi tìm việc, thay vì sống triền
miên bằng trợ cấp xã hội.
Thực ra, đây là một quan niệm rơi rớt lại từ tư duy của cách đây hai thế kỷ. Ở London
thời Victoria, tầng lớp giàu có cho rằng nghèo đói là do lười nhác, nghiện ngập, cờ bạc và
chi tiêu vô tội vạ (giống hệt những gì tác giả Hoàng Xuân kể về cái làng ở Ninh Thuận), và
do đó, chính phủ không nên và không cần can thiệp. Samuel Smiles, tác giả có ảnh hưởng
lớn của cuốn Self-Help nổi tiếng, xuất bản năm 1859, còn cảnh cáo là “bất cứ cố gắng nào
của chính quyền nhằm giúp đỡ người nghèo sẽ chỉ làm họ thêm phung phí trong tiêu pha
và không lao động chăm chỉ để cải thiện bản thân”. Ở điểm này, có vẻ ông Samuel Smiles
và chính quyền Đà Nẵng có cùng suy nghĩ.
Suy nghĩ này tuy xuôi tai (và dễ nhận được sự đồng tình từ những người làm từ thiện
mãi rồi nản), nhưng lại nhìn nhầm vấn đề. Điểm chung của người nghèo ở Việt Nam bây
giờ và người bần cùng ở London cách đây 150 năm là: không phải lối sống của họ dẫn họ tới
nghèo đói, mà nghèo đói đã tạo cho họ lối sống như vậy. Nói khác đi, cái nghèo cha truyền
con nối đã biến họ thành những con người có thái độ sống buông xuôi, những người mà
một cán bộ địa phương ở Vân Canh, Bình Định, mô tả một cách rất chính xác là “ngày ngày
cứ ra đường ngồi chống cằm rồi về... uống rượu”.
Người nghèo phải chịu một mức độ stress cao hơn rất nhiều, do bệnh tật, thiếu thốn, đói
kém và rủi ro triền miên đem lại. Một cách tự nhiên, con người phản ứng với tình trạng
stress này bằng hai cách: hoặc giận dữ, hung hăng, hoặc thụ động, buông xuôi; và nhiều khi
họ chạy từ thái cực này sang thái cực khác. Theo các nghiên cứu về thần kinh, trong khi các
cú stress ngắn hạn có tác dụng làm tăng sự tập trung và linh lợi, stress mãn tính gây hại tới
“hồi hải mã” (hippocampus), một phần của não trước đảm nhiệm việc lưu giữ thông tin,
ngôn ngữ, hình thành ký ức dài hạn và khả năng định hướng trong không gian.
Các quan sát lâu năm cũng cho thấy, ở trẻ em lớn lên trong nghèo khổ, vùng tiền não
thùy (prefrontal cortex) - đây là vùng liên quan tới khả năng kiểm soát bản thân và điều
phối cảm xúc - bị ảnh hưởng, tương tự như ở người trầm cảm. Điều này cũng giải thích cho
vẻ mặt “hiền lành gần như trì độn” mà bài báo VnExpress quan sát được.
Các nghiên cứu về hành vi gần đây cũng chỉ ra là sự thiếu thốn và bất an làm giảm thiểu
các tài nguyên liên quan tới nhận thức, hay là công suất não, dẫn tới những hành vi không
hợp lý và các quyết định không hiệu quả. Nă...
 





