Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Ngày cuối cùng của một tử tù

- 0 / 0
Nguồn: https://sachmoi.net
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 08h:58' 11-12-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 08h:58' 11-12-2025
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
1
NGÀY CUỐI CÙNG CỦA MỘT TỬ TÙ
—★—
Tác giả: Victor Hugo
Người dịch: Nguyễn Mạnh Hùng
Hiệu đính: Trần Hinh
Minh Long phát hành
Nhà Xuất Bản Văn Học - 2016
ebook©SACHMOI.NET
08-11-2018
Ebook miễn phí tại: www.sachmoi.net
2
Giới thiệu
Tác phẩm ghi lại 24 giờ cuối cùng của cuộc đời một tử tù qua nhật ký của
nhân vật xưng tôi - nhân vật không tên tuổi, lai lịch, không nguồn gốc tội lỗi,
không ai biết anh ta phạm tội gì đến nỗi trở thành tử tù. Anh ta kể về không gian
sinh tồn là nhà tù, những con người va chạm với anh ta trong 24 giờ đó là bạn tù,
linh mục, cai ngục… và những người phụ nữ trong tâm tưởng gồm mẹ, vợ và con
gái. Tất cả những suy tư đó đan xen với dòng suy nghĩ về việc anh ta sắp bị thi
hành án.
Tác phẩm này gần như chứa đựng đầy đủ phong cách, mô típ nhân vật và chủ
đề quen thuộc trong sáng tác văn xuôi của Victor Hugo. Đặc biệt hơn nữa, có lẽ
đây là tác phẩm chứa đựng nhiều tâm sự thầm kín, những nhức nhối khôn cùng
của một nhà văn suốt đời đấu tranh cho quyền “được sống” của con người: án tử
hình và sự xóa bỏ vĩnh viễn nó khỏi cuộc sống nhân loại.
3
Chương 1
Bị kết án tử hình!
Đã năm tuần trôi qua tôi phải mang ý nghĩ ấy trong đầu, một ý nghĩ làm tôi ớn
lạnh và luôn luôn đè nặng trên thân xác tôi.
Trước đây cũng như mọi người, tôi không chỉ sống hàng tuần mà hàng năm,
mỗi ngày, mỗi giờ khắc đều có ý nghĩa. Tâm hồn tôi phơi phới và phong phú, luôn
luôn đầy ắp những tưởng tượng ngông cuồng lần lượt diễn ra trong tôi không theo
một trật tự nào, không bao giờ dứt làm cho cuộc đời khô cứng và mong manh của
tôi được thêu dệt bằng những đường nét ngẫu hứng của hoa lá, cỏ cây…
Đó là các thiếu nữ độ tuổi thanh xuân, những bộ lễ phục rực rỡ của linh mục,
những trận chiến thắng lợi, những nhà hát ồn ào đầy ánh sáng, rồi cả những cô gái
trẻ với các cuộc dạo chơi buổi tối dưới các tán lá sum sê của cây hạt dẻ. Đó luôn
luôn là những ngày hội trong trí tưởng tượng. Tôi có thể nghĩ gì cũng được tùy
theo ý muốn của bản thân. Tôi là người tự do.
Giờ đây tôi là người bị giam cầm. Thân thể tôi bị xiềng xích trong ngục tối.
Tâm trí tôi cũng bị giam hãm trong một ý nghĩ, một ý nghĩ thật khủng khiếp, cay
đắng khôn nguôi. Tôi chỉ còn nghĩ đến một điều, một điều chắc chắn không thể
khác được: tôi bắt buộc phải chết.
Dù tôi có làm gì đi nữa, ý nghĩ khó chịu đến cùng cực kia vẫn hiện hữu trong
tôi như một bóng ma nặng nề duy nhất ở bên cạnh tôi, luôn luôn đối mặt với con
người khốn khổ là tôi, bằng đôi tay lạnh giá giữ rịt lấy tôi mỗi khi tôi muốn quay
đầu hay nhắm mắt lại. Ý nghĩ ấy biến hóa dưới mọi dạng, theo đuổi tôi mỗi khi tôi
muốn trốn chạy khỏi nó, pha trộn như một điệp khúc khủng khiếp với tất cả những
lời lẽ mà người ta nói với tôi, luôn luôn bám chặt vào chấn song sắt xấu xa của cái
ngục tối này, ý nghĩ ấy ám ảnh tôi mỗi khi thức giấc, rình mò giấc ngủ chập chờn
của tôi và tái hiện trong ác mộng dưới dạng con dao sắc nhọn.
Tôi vừa giật mình tỉnh giấc, ý nghĩ đó đeo bám tôi và nói:
– Ah! Chỉ là một giấc mơ.
Vậy, trước khi những con mắt nặng nề có thời gian hé mở hơn để nhìn thấy ý
nghĩ định mệnh kia được hiện rõ trong cái thực tế khủng khiếp bao quanh tôi, trên
nền nhà ẩm ướt và tẻ ngắt của xà lim, trong những tia sáng yếu ớt của chiếc đèn
4
đêm, trong manh áo bằng vải sợi thô, trên khuôn mặt u tối của người lính gác có
chiếc túi đạn cũ vẫn còn láng bóng qua chấn song sắt của ngục tối, hình như một
giọng nói đã thì thầm bên tai tôi: Án tử hình đã tuyên rồi. Thế nào ngươi cũng
phải chết.
5
Chương 2
Đó là một buổi sáng tháng tám đẹp trời.
Chỉ mới cách đây ba ngày vụ việc của tôi được đem ra xét xử. Cũng mới chỉ
có ba ngày tên tuổi và tội lỗi của tôi hàng sáng đã gây sự chú ý của đám đông
những người dự phiên tòa ngồi chen chúc trên những hàng ghế dài trong phòng
xử án như những đàn quạ bu quanh một xác chết.
Mới chỉ cách đây ba ngày cả một đám đông những quan tòa, những bóng ma
hư ảo của những nhân chứng, quan tòa, luật sư, biện lý đi qua đi lại trước mặt tôi,
lúc thì kỳ cục, lúc lại cay độc, luôn luôn u tối và định mệnh. Hai đêm đầu tiên vì
lo lắng và khiếp sợ, tôi không thể ngủ.
Đến đêm thứ ba, tôi đã thiếp đi trong tâm trạng phiền muộn và mệt mỏi. Nửa
đêm, trong lúc tòa nghị án, người ta đã đưa tôi trở về với đệm rơm của phòng
giam và ngay lập tức tôi đã rơi vào một giấc ngủ sâu trong lãng quên. Đó là
những giờ phút nghỉ ngơi đầu tiên của tôi trong nhiều ngày qua.
Tôi đang ngủ mê mệt thì người ta đến dựng tôi dậy. Lần này không cần bước
đi nặng nề với đôi giày đóng cá sắt của người cai ngục, tiếng loảng xoảng của
dây chìa khóa, tiếng cót két khô khan của ổ khóa kéo tôi ra khỏi giấc ngủ lịm với
cái giọng nói tàn nhẫn bên tai tôi và cánh tay cứng rắn trên tay tôi:
– Này, dậy đi.
Tôi mở mắt ngồi dậy khiếp đảm. Lúc đó, qua ô cửa sổ cao và hẹp của xà lim,
tôi nhìn thấy qua trần của hành lang bên cạnh một khoảng trời duy nhất, cái ánh
sáng màu vàng mà cặp mắt quen nhìn bóng tối của nhà tù của tôi nhận ra khá rõ
đó là mặt trời. Tôi yêu mặt trời.
– Hôm nay trời đẹp đấy. - Tôi nói với cai ngục.
Viên cai ngục đứng yên một lát không nói, làm như thể không hiểu có nên
đáp để phí một câu trả lời vào việc đó không, rồi dường như cố gắng ít nhiều, lão
mới đột ngột lí nhí:
– Có thể…
Tôi đứng yên bất động, tâm trí nửa tỉnh, nửa mê, miệng cố nở một nụ cười
tươi, dán mắt vào thứ ánh sáng vàng óng nhưng yếu ớt phản chiếu trên trần nhà
6
như muốn tô điểm thêm.
– Một ngày đẹp trời đây. - Tôi nhắc lại.
– Đúng vậy, - Cai ngục nói, - người ta đang đợi ông.
Chỉ có mấy từ mỏng như sợi chỉ cắt ngang đường bay của con côn trùng quật
mạnh vào tôi kéo tôi trở về với thực tế phũ phàng. Bỗng nhiên tôi lại nhìn thấy
như trong ánh sáng của tia chớp trong gian phòng xử án cái vành móng ngựa với
những quan tòa mặc bộ sắc phục màu đỏ tươi mà tôi ngỡ như quần áo rách rưới
vấy máu, ba hàng nhân chứng ngu ngốc, hai viên cảnh sát ở hai đầu chiếc ghế dài
tôi ngồi, những chiếc áo dài đen của các luật sư, biện lý động đậy và những cái
đầu của đám đông ngồi chật cứng ở cuối phòng, trong bóng tối và ánh mắt của
mười hai viên quan tòa chiếu thẳng vào tôi. Các vị ấy đang thức còn tôi như
người ngủ mê.
Tôi đứng dậy, hai hàm răng run cầm cập, hai tay tôi cũng run lên, không làm
sao tìm ra quần áo, hai cẳng chân tôi nhão ra. Tôi cất bước, người lảo đảo như
phu khuân vác đang phải vác nặng. Tuy nhiên, tôi vẫn phải đi theo cai ngục.
Hai viên cảnh sát chờ tôi ở bậc cửa xà lim. Người ta còng tay tôi bằng cái
cùm nhỏ và ấn chốt khóa cẩn thận. Tôi để họ làm, đó chỉ là một cái máy trên một
cái máy mà thôi.
Chúng tôi đi qua một cái sân phía trong. Khí trời ban mai làm tôi thấy khoan
khoái trở lại. Tôi ngẩng đầu lên. Bầu trời xanh và những tia mặt trời nóng bỏng
bị những ống khói cao cắt vụn, rạch những góc ánh sáng trên các bức tường cao
và tối của nhà tù. Trời đẹp thật.
Chúng tôi bước lên một cầu thang hình xoắn ốc, đi qua một hành lang, rồi
một cái nữa, đến hành lang thứ ba thì một cửa thấp mở ra. Một bầu khí nóng pha
lẫn tiếng ồn quất vào mặt tôi. Đó là hơi thở của đám đông trong phòng xử án. Tôi
bước vào.
Khi tôi xuất hiện, tôi nghe thấy tiếng lách cách của vũ khí và tiếng ồn ào của
đám đông, tiếng ghế xê dịch. Tôi đi qua gian phòng dài giữa hai hàng quần chúng
được lính che kín. Dường như tôi là tâm điểm gắn các sợi dây làm động đậy tất
cả các khuôn mặt, miệng há hốc và hơi cúi xuống.
7
Đến lúc đó tôi mới nhận ra là người ta đã cởi cùm cho tôi, nhưng tôi không
nhớ vào lúc nào và ở đâu.
Lúc bấy giờ, trong phòng xử án, một bầu không khí im lặng bao trùm. Tôi
được đưa vào chỗ ngồi. Đúng lúc tiếng ồn ào chấm dứt, tâm trí tôi cũng trở lại
thanh thản, các ý nghĩ trở nên rành rọt. Tôi bỗng hiểu một cách rõ ràng những
điều tôi chỉ thoáng thấy lờ mờ cho tới nay và giờ đây, giờ phút quyết định đã đến
và tôi có mặt ở đây để nghe tuyên án.
Muốn giải thích ra sao thì giải thích nhưng theo cách mà ý nghĩ đó đến với
tôi thì nó không hề làm tôi sợ hãi. Các cửa sổ đều mở toang cánh, khí trời và
tiếng động của thành phố tự do từ ngoài ùa vào. Gian phòng sáng sủa như để
chuẩn bị lễ cưới. Những tia nắng vui vẻ của mặt trời đây đó vạch ra hình ảnh
sáng ngời của các hình chữ thập khi thì chạy dài trên sàn nhà, khi thì trải trên
bàn, lúc thì gãy khúc ở góc tường, và từ những hình quả trám rực rỡ đến cửa sổ,
mỗi một tia nắng vẽ lên trong không khí một khối lăng trụ lớn toàn bụi vàng.
Cuối phòng, các vị thẩm phán có vẻ hài lòng, chắc hẳn là vui vẻ vì đã hoàn
thành tốt công việc. Khuôn mặt ông chánh án được soi sáng nhè nhẹ bằng ánh
sáng từ cửa kính hắt vào, có vẻ hơi hiền lành và tốt bụng. Một vị trợ tá trẻ tuổi
nói chuyện gần như vui vẻ, tay vò nhàu chiếc cà vạt màu trắng phủ ra ngoài cổ áo
dài đen rộng của quan tòa, với một bà mệnh phụ xinh đẹp được ưu tiên ngồi sau
lưng ông ta.
Chỉ có các quan bồi thẩm là có vẻ nhợt nhạt, suy sụp, bề ngoài mệt mỏi vì đã
thức suốt đêm để luận tội. Một vài vị ngáp. Nhìn qua tư cách của họ không thấy
gì chứng tỏ họ vừa quyết định một bản án tử hình và trên khuôn mặt các ông
trưởng giả tốt bụng ấy, tôi chỉ đoán được là họ rất buồn ngủ.
Trước mặt tôi là một khuôn cửa sổ mở rất rộng. Tôi nghe thấy tiếng cười của
người bán hoa từ ngoài hè phố vọng vào và trên mép hình chữ thập đó, trong khe
đá có một cây con màu vàng, tràn ngập trong tia nắng đu đưa trước gió.
Làm sao một ý nghĩ hung dữ lại có thể ló ra giữa bao nhiêu cảm giác dịu
dàng như thế nhỉ? Tràn ngập trong không khí và ánh sáng, tôi không thể nào nghĩ
gì khác hơn là nghĩ đến tự do. Phần hy vọng tỏa sáng trong tôi như ánh sáng ban
8
ngày bao quanh tôi và lòng tin tưởng, tôi chờ đợi phán quyết của tòa như người
ta chờ đợi sự giải thoát và cuộc sống.
Tuy nhiên luật sư của tôi đã đến. Mọi người đang chờ ông. Ông vừa dự một
bữa trưa sang trọng và ăn rất ngon miệng. Đến chỗ ngồi của tôi, ông ta cúi
nghiêng đầu chào tôi với một nụ cười.
– Tôi hy vọng. - Ông ta nói với tôi.
– Có phải là hy vọng không? - Tôi trả lời nhẹ nhàng và cũng mỉm cười đáp
lại.
– Đúng. - Ông ta nhắc lại. - Tôi còn chưa biết một tí gì về lời phát biểu của
các quan tòa nhưng chắc chắn họ đã bác bỏ phán xét của phiên xử trước và như
thế sẽ là khổ sai chung thân thôi.
– Ông nói gì thế, thưa ông luật sư. - Tôi trả lời phẫn nộ: như vậy thì trăm lần
thà chết.
Vâng, thà chết. Vả lại có một giọng nói ở bên trong nhắc với tôi. Tôi sợ gì mà
không nói rõ ra điều đó. Có bao giờ người ta tuyên án tử hình vào lúc khác hơn là
lúc nửa đêm, phải đốt đuốc trong căn phòng u tối, đen kịt và vào một đêm đông
lạnh giá? Nhưng đây là vào buổi sáng tháng tám, một ngày đẹp trời như thế này
thưa các vị thẩm phán tốt bụng. Thật là không thể thế được, rồi mắt tôi lại trở lại
nhìn dán vào bông hoa vàng dưới ánh mặt trời.
Bất thình lình vị chánh án thấy luật sư của tôi đã đến, liền như có một dòng
điện chạy qua, hết thảy mọi người trong phòng xử án nhất loạt đứng dậy. Một
khuôn mặt tầm thường vô tích sự, tôi nghĩ đó là viên lục sự. Anh ta phát biểu và
đọc bản phán quyết mà các quan tòa đã biểu quyết trong khi tôi không có ở đấy.
Chân tay tôi toát mồ hôi lạnh. Tôi phải dựa vào tường để khỏi ngã.
Chánh án hỏi luật sư của tôi: Ông có điều gì muốn nói về áp dụng khung hình
phạt không?
Đáng lẽ ra tôi có nhiều điều để nói nhưng không hiểu sao cứ lặng đi, không
nói lên được một lời nào, lưỡi dán chặt vào vòm miệng.
Người bảo vệ đứng dậy.
Tôi hiểu rằng ông ta tìm cách giảm nhẹ lời công bố của đoàn bồi thẩm và
giảm xuống không phải là án này mà là án kia, cái đã làm tôi rất bực tức khi nghe
9
ông ta nói là ông ta hy vọng.
Sự phẫn nộ của tôi đã quá mạnh để lộ ra trăm nghìn cảm xúc đang dồn nén
trong tâm trí tôi. Tôi muốn hét to lên điều tôi đã nói với ông ta: Thà một trăm lần
chết còn hơn! Nhưng tôi không còn đủ hơi sức để nói. Tôi chỉ có thể ngăn ông ta
lại bằng cách giơ cao cánh tay kêu lên một tiếng đau đớn: Không!
Viên chưởng lý tranh tụng với luật sư. Tôi lắng nghe họ với một sự hài lòng
ngu xuẩn. Rồi các vị thẩm phán ra ngoài, và trở lại, sau đó ông chánh án lạnh
lùng tuyên án.
Có tiếng xì xào trong đám đông. Trong lúc tôi bị dẫn đi, đám đông ùa theo
tôi, ồn ào như một tòa nhà đang đổ sập. Còn tôi bước đi, lảo đảo như người say
rượu, sững sờ một sự khuấy động vừa xảy ra trong tôi. Cho đến lúc bị tuyên án
tôi vẫn cảm thấy được hít thở, tim vẫn đập mạnh trong cùng một môi trường sống
như mọi người khác. Bây giờ tôi phân biệt rõ giữa tôi và mọi người có một hàng
rào ngăn cách.
Đối với tôi không còn gì có chung một dáng vẻ với mọi người như trước.
Cũng vẫn những cửa sổ rộng mở, ánh sáng chói chang, cũng vẫn mặt trời rực rỡ,
bầu trời trong xanh, cũng vẫn đóa hoa xinh đẹp nhưng tất cả bây giờ đều trắng
bệch, nhợt nhạt như một tấm vải liệm. Những người đàn ông ấy, những người
đàn bà ấy, những đứa trẻ ấy chen chúc xô đẩy nhau ùa ra chỗ tôi bị dẫn đi qua, tôi
thấy họ như những bóng ma.
Bên dưới cầu thang một chiếc ô tô màu đen có lưới sắt ở các ô cửa, bẩn thỉu
chờ sẵn. Lúc trèo lên, tôi bâng quơ nhìn ra quảng trường.
– Một tên tử tù!
Những người qua đường vừa kêu lên vừa chạy đến chỗ tôi. Qua đám mây đen
tưởng như ngăn cách tôi và mọi sự vật chung quanh, tôi nhận ra hai cô gái trẻ,
chạy theo tôi với cặp mắt hau háu.
– Chỉ còn sống được sáu tuần nữa thôi, tiếng cô trẻ hơn vỗ tay thốt lên.
10
Chương 3
Tử tù!
Tại sao không? Tôi nhớ đã đọc trong một cuốn sách nào đó có câu như thế
này: “Tất cả mọi người đều bị kết án tử hình, thời gian hoãn không xác định”[1].
Vậy có gì thay đổi so với hoàn cảnh của tôi hiện nay?
Từ khi bản án được tuyên, bao nhiêu người nghĩ là được sống lâu thế mà đã
chết rồi! Bao nhiêu người đã đi trước tôi, những thanh niên tự do và lành mạnh,
tưởng được trông thấy đầu tôi rơi vào một ngày nào đó ở quảng trường Grève.
Từ nay đến hôm đó, có bao nhiêu con người giờ đây đang tiếp bước, đang hít thở
trong bầu trời lồng lộng sẽ phải ra đi trước tôi?
Và rồi cuộc sống với tôi còn có gì đáng luyến tiếc nữa! Thực tế ban ngày
trong ngục tối với mẩu bánh mì đen nhẻm kèm một bát nước canh loãng toẹt múc
ở chiếc thùng gỗ do người tù đem đến, tôi, một con người đã được hưởng thụ
một nền giáo dục mềm mỏng, - bị bọn cai tù đối xử thô bạo, tàn nhẫn, bao giờ
được gặp một người có thể nghĩ rằng tôi đáng để họ bắt chuyện và đáng được trả
lời, luôn luôn giật mình về việc tôi đã làm và về việc người ta sẽ làm đối với tôi;
đấy hầu như là những tài sản duy nhất mà tên đao phủ có thể tước đoạt của tôi. Mặc dù vậy, vẫn là kinh khủng.
11
Chương 4
Chiếc ô tô màu đen chở tôi đến đây, trong nhà tù Bicêtre ghê tởm này.
Nhìn từ xa, tòa nhà này có một vẻ uy nghi nào đó trải rộng ở cuối chân trời,
trước một ngọn đồi còn giữ lại được một vẻ đẹp cổ kính xưa kia, một dáng vẻ lâu
đài vua chúa. Nhưng khi càng đến gần, tòa cung điện trở thành một tòa nhà tồi
tàn đổ nát. Đầu hồi bị hư hại như đâm vào mắt. Tôi không biết có gì đáng xấu hổ
và nghèo nàn hơn đã làm bẩn mặt ngoài của cung điện nhà vua. Người ta có thể
nói các bức tường như bị hủi gặm nhấm. Không còn kính, không còn gương ở
cửa sổ mà chỉ là những tấm sắt che chắn đặt chéo nhau, đây đó dán những hình
ảnh xanh xao gầy gò một tên cai tù hay một thằng điên.
Đó là cuộc sống nhìn gần.
12
Chương 5
Vừa đến nơi, người ta vội vàng cùm tay tôi lại. Người ta tăng gấp bội các
biện pháp đề phòng: không một con dao, không một dĩa cho tôi khi ăn. Một loại
túi vải buồm - áo trói người điên - bọc kín cánh tay tôi. Người ta có trách nhiệm
phải giữ cho tôi sống đến ngày lên đoạn đầu đài. Tôi đã xin chống án. Chỉ còn
sáu hay bảy tuần nữa cho một vụ việc tốn kém này, cần phải để tôi sống bình an
vô sự đặng đi tới quảng trường Grève.
Những ngày đầu người ta đối xử với tôi dịu dàng đến ghê người. Thái độ vì
nể của viên cai ngục đối với tôi như ngửi thấy mùi máy chém. May thay, chỉ sau
vài ngày, thói quen lại nổi dậy chiếm ưu thế. Họ lẫn lộn tôi với các phạm nhân
khác, áp dụng một thái độ tàn bạo chung cho tất cả và không còn sự phân biệt đối
xử với tôi là phải có xử sự lễ phép khác thường để tên đao phủ luôn luôn xuất
hiện trước mắt tôi. Đây không phải là sự cải thiện cuối cùng.
Tuổi trẻ của tôi, thái độ ngoan ngoãn quy phục của tôi, sự ân cần của cha
tuyên uý trong nhà tù, và nhất là vài lời bằng tiếng La tinh tôi nói với người gác
cổng mà anh ta không hiểu đã khiến tôi được hưởng một buổi dạo chơi mỗi tuần
cùng với những phạm nhân khác và trút bỏ được áo trói người điên làm tôi như
bị liệt. Sau nhiều lần do dự người ta cũng cho tôi một ít mực, giấy, bút và một
chiếc đèn đêm.
Chủ nhật nào cũng vậy, sau lễ misa, người ta thả tôi đi lại trong sân nhà tù
trong giờ giải lao. Ở đó tôi trò chuyện với các phạm nhân. Phải như thế. Họ là
những người tử tế, những người khốn khổ. Họ kể cho tôi nghe về những thủ đoạn
của họ, có lẽ để gây khiếp đảm, nhưng tôi biết là họ chỉ khoác lác. Họ dạy tôi
tiếng lóng mà họ gọi là đòi hỏi cái đe có hai đầu nhọn rouscailler bigorne.
Đây là một thứ ngôn ngữ ghép vào ngôn ngữ chung như một khối u gớm
ghiếc, một chiếc mụn cóc ngoài da. Đôi khi tiếng lóng có một năng lực đặc biệt,
một cái đẹp rùng rợn như “máu đổ trên đường” thì gọi là “nho ép ở ngã ba
đường”, bị treo cổ thì gọi là “kết hôn với bà góa” làm như thể cái dây thòng lọng
của giá treo cổ là góa phụ của tất cả những kẻ bị buộc tội treo cổ. Cái đầu kẻ
13
trộm có hai tên, sorbonne[2] - khi nó lý luận và bày ra tội ác, trouche[3] là cái sọ
hay cái thủ, khi nó bị đao phủ cắt cổ.
Đôi khi với tinh thần hài hước dân dã, người ta gọi cái lưỡi là mụ đàn bà nói
điêu, cái gùi của người đi lượm vải rách, sắt vụn hay giấy vụn là cachemire
d'osier - casơmia là một thứ vải dệt bằng lông dê rất quý ở Ấn Độ, còn osier là
cây liễu gió, thứ nguyên liệu đan giỏ, gùi, v.v…
Rồi từng lúc lại có những từ rất lạ tai, bí ẩn, xấu xa, bẩn thỉu không biết từ
đâu đến như taule là tiếng lóng chỉ nhà tù, trong khi taule có thể hiểu là nhà ở
khách sạn. Sự chết là hình nón cône, nơi hành hình gọi là placarde có nghĩa là
quảng trường, là chỗ ngồi hay chỗ làm béo bở. Người ta có thể nói tiếng lóng xấu
xa như loài cóc nhái, loài nhện. Khi nghe nói thứ tiếng này, tôi cảm thấy một cái
gì đó dơ bẩn, bụi bặm, như thể một đống giẻ mà người ta giũ trước mặt anh.
Ít nhất, tôi cũng thấy thích những con người ấy. Chỉ có họ mới làm tôi thú vị.
Các cai ngục, người đeo chìa khóa phòng giam - tôi đâu có giận họ - trò chuyện,
cười nói về tôi, nói trước mặt tôi như nói về một đồ vật.
14
Chương 6
Tôi tự nhủ: Tôi có phương tiện để viết, tại sao tôi không viết nhỉ? Nhưng viết
gì mới được chứ?
Bị giam cầm giữa bốn bức tường đá trần trụi, lạnh lẽo, chân không được
bước tự do, mắt không được nhìn thấu chân trời, chỉ có một trò giải trí duy nhất
là ngày nào cũng bận theo dõi một cách máy móc tiến trình chậm chạp của ô
vuông màu trắng nhạt được cái lỗ nhìn của buồng giam đối diện với cái tường u
tối cắt vụn. Và như tôi nói ban nãy, một mình với một ý nghĩ về tội giết người và
hình phạt tử hình, có phải tôi có điều muốn nói, tôi không có việc gì để làm ở thế
giới này. Và tôi sẽ tìm thấy gì trong bộ não héo hắt và trống rỗng này, đáng mất
công để viết chăng?
Tại sao lại không? Nếu tất cả xung quanh tôi đều đơn điệu, tẻ nhạt thì trong
tôi làm gì có bão tố, có đấu tranh và bi kịch? Cái ý tưởng cố định ấy luôn luôn
ám ảnh tôi, hiện diện trong tôi mỗi giờ, mỗi lúc dưới một hình thái khác, lúc nào
cũng càng xấu xa nhuốm máu, mỗi khi thời hạn thi hành án đến gần? Tại sao tôi
không cố nói với chính mình những điều tôi cảm thấy. Có cái gì là bạo lực, là
không biết trong tình cảnh bị bỏ rơi như hoàn cảnh của tôi hiện nay.
Chắc hẳn là vật chất phong phú và cuộc đời tôi dù rút ngắn như thế cũng còn
khối chuyện phải nói trong các mối lo toan, trong sự khiếp sợ, trong các lần tra
tấn, từ lúc này đến giờ cuối cùng còn có nhiều chuyện để làm mòn ngòi bút và
cạn lọ mực. Vả lại, những mối lo toan ấy, cách duy nhất để giảm đau khổ là quan
sát chúng và việc tô vẽ chúng sẽ giải khuây cho tôi. Và rồi, những điều tôi sẽ viết
ra có lẽ sẽ không phải là vô ích.
Quyển nhật ký ghi những đau khổ của tôi, từng giờ, từng phút, hết nhục hình
này đến nhục hình khác, nếu tôi có đủ sức lực để viết cho đến lúc về mặt thể xác
tôi không tiếp tục được nữa. Câu chuyện ấy chắc là còn dang dở nhưng cũng nói
lên đầy đủ trong khả năng cho phép. Các cảm giác của tôi lẽ nào lại không mang
theo bài học lớn và sâu sắc nào hay sao? Phải chăng trong các biên bản nói về ý
nghĩ đang hấp hối, trong nỗi đau ngày một tăng lên, trong cái thứ giải phẫu trí tuệ
của một tử tù lại không có thêm một bài học cho những kẻ kết án như tôi chăng?
15
Có lẽ đọc đoạn này sẽ làm bàn tay của họ nhẹ nhàng hơn chăng khi một lần
khác phải ném cái đầu biết suy nghĩ, một cái đầu người vào cái được họ gọi là
cán cân công lý! Chẳng lẽ họ không bao giờ suy nghĩ đến cái chuỗi tra tấn chậm
chạp mà một bản án tử hình được soạn thảo mau mắn gây ra cho kẻ tử tù? Chẳng
lẽ không bao giờ họ có ý nghĩ xót xa cho rằng trong con người mà họ sẽ xóa đi
khỏi cuộc sống có một trí tuệ, một trí tuệ dựa vào cuộc sống mà tồn tại, một tâm
hồn không bao giờ sẵn sàng để chết? Không! Họ chỉ nhìn thấy cái lưỡi dao ba
góc rơi thẳng đứng xuống và chẳng có gì sau khi lên đoạn đầu đài.
Mong cho những trang viết này sẽ làm cho họ tỉnh ngộ! Có lẽ đến một ngày
nào đó những trang viết này được công bố sẽ làm cho họ nghĩ trong giây lát đến
những đau khổ về tinh thần vì đó là những đau khổ mà họ không thể hoài nghi.
Họ đắc chí là đã có thể giết chết một con người không làm đau khổ đến thể xác.
Vấn đề là ở chỗ đó. Thế nào là đau khổ về thể xác bên cạnh đau khổ về tinh thần
và thương hại cho những luật pháp được làm như thế! Một ngày nào đó có lẽ
những hồi ức này, những lời tâm sự cuối cùng này của một kẻ khốn cùng sẽ góp
phần tham gia vào một việc làm như vậy….
Chỉ mong là sau khi tôi chết gió sẽ không thổi bay những mẩu giấy vấy bùn
này trong sân nhà tù hoặc sẽ thổi đi khi nước mưa rơi xuống hoặc dán vào kính
vỡ của người cai ngục như những ngôi sao.
16
Chương 7
Mong cho những điều tôi viết ra một ngày kia sẽ có ích cho người khác, sẽ
làm quan tòa đã sẵn sàng xử án phải dừng tay, mong cho điều đó cứu được những
người khốn khổ vô tội hay có tội ra khỏi cơn hấp hối như tôi đã bị kết án. Tại
sao? Để làm gì? Có quan trọng gì đâu? Khi đầu tôi đã bị chặt rồi, người ta có
chặt đầu những người khác thì cũng chẳng làm gì tôi được. Thật sự tôi có nghĩ
đến sự điên cuồng này không? Hãy phá bỏ đoạn đầu đài sau khi tôi đã leo lên?
Tôi thử hỏi bạn xem điều đó có lợi gì cho tôi nào?
Sao? Mặt trời mùa xuân, những cánh đồng đầy hoa, những con chim thức
giấc lúc ban mai, mây, cây cối, thiên nhiên tự do, cuộc sống, tất cả những cái đó
không thuộc về tôi nữa chăng?
Ôi! Chính tôi mới là người cần phải giải cứu. Có đúng là điều đó không thể
xảy ra, l
NGÀY CUỐI CÙNG CỦA MỘT TỬ TÙ
—★—
Tác giả: Victor Hugo
Người dịch: Nguyễn Mạnh Hùng
Hiệu đính: Trần Hinh
Minh Long phát hành
Nhà Xuất Bản Văn Học - 2016
ebook©SACHMOI.NET
08-11-2018
Ebook miễn phí tại: www.sachmoi.net
2
Giới thiệu
Tác phẩm ghi lại 24 giờ cuối cùng của cuộc đời một tử tù qua nhật ký của
nhân vật xưng tôi - nhân vật không tên tuổi, lai lịch, không nguồn gốc tội lỗi,
không ai biết anh ta phạm tội gì đến nỗi trở thành tử tù. Anh ta kể về không gian
sinh tồn là nhà tù, những con người va chạm với anh ta trong 24 giờ đó là bạn tù,
linh mục, cai ngục… và những người phụ nữ trong tâm tưởng gồm mẹ, vợ và con
gái. Tất cả những suy tư đó đan xen với dòng suy nghĩ về việc anh ta sắp bị thi
hành án.
Tác phẩm này gần như chứa đựng đầy đủ phong cách, mô típ nhân vật và chủ
đề quen thuộc trong sáng tác văn xuôi của Victor Hugo. Đặc biệt hơn nữa, có lẽ
đây là tác phẩm chứa đựng nhiều tâm sự thầm kín, những nhức nhối khôn cùng
của một nhà văn suốt đời đấu tranh cho quyền “được sống” của con người: án tử
hình và sự xóa bỏ vĩnh viễn nó khỏi cuộc sống nhân loại.
3
Chương 1
Bị kết án tử hình!
Đã năm tuần trôi qua tôi phải mang ý nghĩ ấy trong đầu, một ý nghĩ làm tôi ớn
lạnh và luôn luôn đè nặng trên thân xác tôi.
Trước đây cũng như mọi người, tôi không chỉ sống hàng tuần mà hàng năm,
mỗi ngày, mỗi giờ khắc đều có ý nghĩa. Tâm hồn tôi phơi phới và phong phú, luôn
luôn đầy ắp những tưởng tượng ngông cuồng lần lượt diễn ra trong tôi không theo
một trật tự nào, không bao giờ dứt làm cho cuộc đời khô cứng và mong manh của
tôi được thêu dệt bằng những đường nét ngẫu hứng của hoa lá, cỏ cây…
Đó là các thiếu nữ độ tuổi thanh xuân, những bộ lễ phục rực rỡ của linh mục,
những trận chiến thắng lợi, những nhà hát ồn ào đầy ánh sáng, rồi cả những cô gái
trẻ với các cuộc dạo chơi buổi tối dưới các tán lá sum sê của cây hạt dẻ. Đó luôn
luôn là những ngày hội trong trí tưởng tượng. Tôi có thể nghĩ gì cũng được tùy
theo ý muốn của bản thân. Tôi là người tự do.
Giờ đây tôi là người bị giam cầm. Thân thể tôi bị xiềng xích trong ngục tối.
Tâm trí tôi cũng bị giam hãm trong một ý nghĩ, một ý nghĩ thật khủng khiếp, cay
đắng khôn nguôi. Tôi chỉ còn nghĩ đến một điều, một điều chắc chắn không thể
khác được: tôi bắt buộc phải chết.
Dù tôi có làm gì đi nữa, ý nghĩ khó chịu đến cùng cực kia vẫn hiện hữu trong
tôi như một bóng ma nặng nề duy nhất ở bên cạnh tôi, luôn luôn đối mặt với con
người khốn khổ là tôi, bằng đôi tay lạnh giá giữ rịt lấy tôi mỗi khi tôi muốn quay
đầu hay nhắm mắt lại. Ý nghĩ ấy biến hóa dưới mọi dạng, theo đuổi tôi mỗi khi tôi
muốn trốn chạy khỏi nó, pha trộn như một điệp khúc khủng khiếp với tất cả những
lời lẽ mà người ta nói với tôi, luôn luôn bám chặt vào chấn song sắt xấu xa của cái
ngục tối này, ý nghĩ ấy ám ảnh tôi mỗi khi thức giấc, rình mò giấc ngủ chập chờn
của tôi và tái hiện trong ác mộng dưới dạng con dao sắc nhọn.
Tôi vừa giật mình tỉnh giấc, ý nghĩ đó đeo bám tôi và nói:
– Ah! Chỉ là một giấc mơ.
Vậy, trước khi những con mắt nặng nề có thời gian hé mở hơn để nhìn thấy ý
nghĩ định mệnh kia được hiện rõ trong cái thực tế khủng khiếp bao quanh tôi, trên
nền nhà ẩm ướt và tẻ ngắt của xà lim, trong những tia sáng yếu ớt của chiếc đèn
4
đêm, trong manh áo bằng vải sợi thô, trên khuôn mặt u tối của người lính gác có
chiếc túi đạn cũ vẫn còn láng bóng qua chấn song sắt của ngục tối, hình như một
giọng nói đã thì thầm bên tai tôi: Án tử hình đã tuyên rồi. Thế nào ngươi cũng
phải chết.
5
Chương 2
Đó là một buổi sáng tháng tám đẹp trời.
Chỉ mới cách đây ba ngày vụ việc của tôi được đem ra xét xử. Cũng mới chỉ
có ba ngày tên tuổi và tội lỗi của tôi hàng sáng đã gây sự chú ý của đám đông
những người dự phiên tòa ngồi chen chúc trên những hàng ghế dài trong phòng
xử án như những đàn quạ bu quanh một xác chết.
Mới chỉ cách đây ba ngày cả một đám đông những quan tòa, những bóng ma
hư ảo của những nhân chứng, quan tòa, luật sư, biện lý đi qua đi lại trước mặt tôi,
lúc thì kỳ cục, lúc lại cay độc, luôn luôn u tối và định mệnh. Hai đêm đầu tiên vì
lo lắng và khiếp sợ, tôi không thể ngủ.
Đến đêm thứ ba, tôi đã thiếp đi trong tâm trạng phiền muộn và mệt mỏi. Nửa
đêm, trong lúc tòa nghị án, người ta đã đưa tôi trở về với đệm rơm của phòng
giam và ngay lập tức tôi đã rơi vào một giấc ngủ sâu trong lãng quên. Đó là
những giờ phút nghỉ ngơi đầu tiên của tôi trong nhiều ngày qua.
Tôi đang ngủ mê mệt thì người ta đến dựng tôi dậy. Lần này không cần bước
đi nặng nề với đôi giày đóng cá sắt của người cai ngục, tiếng loảng xoảng của
dây chìa khóa, tiếng cót két khô khan của ổ khóa kéo tôi ra khỏi giấc ngủ lịm với
cái giọng nói tàn nhẫn bên tai tôi và cánh tay cứng rắn trên tay tôi:
– Này, dậy đi.
Tôi mở mắt ngồi dậy khiếp đảm. Lúc đó, qua ô cửa sổ cao và hẹp của xà lim,
tôi nhìn thấy qua trần của hành lang bên cạnh một khoảng trời duy nhất, cái ánh
sáng màu vàng mà cặp mắt quen nhìn bóng tối của nhà tù của tôi nhận ra khá rõ
đó là mặt trời. Tôi yêu mặt trời.
– Hôm nay trời đẹp đấy. - Tôi nói với cai ngục.
Viên cai ngục đứng yên một lát không nói, làm như thể không hiểu có nên
đáp để phí một câu trả lời vào việc đó không, rồi dường như cố gắng ít nhiều, lão
mới đột ngột lí nhí:
– Có thể…
Tôi đứng yên bất động, tâm trí nửa tỉnh, nửa mê, miệng cố nở một nụ cười
tươi, dán mắt vào thứ ánh sáng vàng óng nhưng yếu ớt phản chiếu trên trần nhà
6
như muốn tô điểm thêm.
– Một ngày đẹp trời đây. - Tôi nhắc lại.
– Đúng vậy, - Cai ngục nói, - người ta đang đợi ông.
Chỉ có mấy từ mỏng như sợi chỉ cắt ngang đường bay của con côn trùng quật
mạnh vào tôi kéo tôi trở về với thực tế phũ phàng. Bỗng nhiên tôi lại nhìn thấy
như trong ánh sáng của tia chớp trong gian phòng xử án cái vành móng ngựa với
những quan tòa mặc bộ sắc phục màu đỏ tươi mà tôi ngỡ như quần áo rách rưới
vấy máu, ba hàng nhân chứng ngu ngốc, hai viên cảnh sát ở hai đầu chiếc ghế dài
tôi ngồi, những chiếc áo dài đen của các luật sư, biện lý động đậy và những cái
đầu của đám đông ngồi chật cứng ở cuối phòng, trong bóng tối và ánh mắt của
mười hai viên quan tòa chiếu thẳng vào tôi. Các vị ấy đang thức còn tôi như
người ngủ mê.
Tôi đứng dậy, hai hàm răng run cầm cập, hai tay tôi cũng run lên, không làm
sao tìm ra quần áo, hai cẳng chân tôi nhão ra. Tôi cất bước, người lảo đảo như
phu khuân vác đang phải vác nặng. Tuy nhiên, tôi vẫn phải đi theo cai ngục.
Hai viên cảnh sát chờ tôi ở bậc cửa xà lim. Người ta còng tay tôi bằng cái
cùm nhỏ và ấn chốt khóa cẩn thận. Tôi để họ làm, đó chỉ là một cái máy trên một
cái máy mà thôi.
Chúng tôi đi qua một cái sân phía trong. Khí trời ban mai làm tôi thấy khoan
khoái trở lại. Tôi ngẩng đầu lên. Bầu trời xanh và những tia mặt trời nóng bỏng
bị những ống khói cao cắt vụn, rạch những góc ánh sáng trên các bức tường cao
và tối của nhà tù. Trời đẹp thật.
Chúng tôi bước lên một cầu thang hình xoắn ốc, đi qua một hành lang, rồi
một cái nữa, đến hành lang thứ ba thì một cửa thấp mở ra. Một bầu khí nóng pha
lẫn tiếng ồn quất vào mặt tôi. Đó là hơi thở của đám đông trong phòng xử án. Tôi
bước vào.
Khi tôi xuất hiện, tôi nghe thấy tiếng lách cách của vũ khí và tiếng ồn ào của
đám đông, tiếng ghế xê dịch. Tôi đi qua gian phòng dài giữa hai hàng quần chúng
được lính che kín. Dường như tôi là tâm điểm gắn các sợi dây làm động đậy tất
cả các khuôn mặt, miệng há hốc và hơi cúi xuống.
7
Đến lúc đó tôi mới nhận ra là người ta đã cởi cùm cho tôi, nhưng tôi không
nhớ vào lúc nào và ở đâu.
Lúc bấy giờ, trong phòng xử án, một bầu không khí im lặng bao trùm. Tôi
được đưa vào chỗ ngồi. Đúng lúc tiếng ồn ào chấm dứt, tâm trí tôi cũng trở lại
thanh thản, các ý nghĩ trở nên rành rọt. Tôi bỗng hiểu một cách rõ ràng những
điều tôi chỉ thoáng thấy lờ mờ cho tới nay và giờ đây, giờ phút quyết định đã đến
và tôi có mặt ở đây để nghe tuyên án.
Muốn giải thích ra sao thì giải thích nhưng theo cách mà ý nghĩ đó đến với
tôi thì nó không hề làm tôi sợ hãi. Các cửa sổ đều mở toang cánh, khí trời và
tiếng động của thành phố tự do từ ngoài ùa vào. Gian phòng sáng sủa như để
chuẩn bị lễ cưới. Những tia nắng vui vẻ của mặt trời đây đó vạch ra hình ảnh
sáng ngời của các hình chữ thập khi thì chạy dài trên sàn nhà, khi thì trải trên
bàn, lúc thì gãy khúc ở góc tường, và từ những hình quả trám rực rỡ đến cửa sổ,
mỗi một tia nắng vẽ lên trong không khí một khối lăng trụ lớn toàn bụi vàng.
Cuối phòng, các vị thẩm phán có vẻ hài lòng, chắc hẳn là vui vẻ vì đã hoàn
thành tốt công việc. Khuôn mặt ông chánh án được soi sáng nhè nhẹ bằng ánh
sáng từ cửa kính hắt vào, có vẻ hơi hiền lành và tốt bụng. Một vị trợ tá trẻ tuổi
nói chuyện gần như vui vẻ, tay vò nhàu chiếc cà vạt màu trắng phủ ra ngoài cổ áo
dài đen rộng của quan tòa, với một bà mệnh phụ xinh đẹp được ưu tiên ngồi sau
lưng ông ta.
Chỉ có các quan bồi thẩm là có vẻ nhợt nhạt, suy sụp, bề ngoài mệt mỏi vì đã
thức suốt đêm để luận tội. Một vài vị ngáp. Nhìn qua tư cách của họ không thấy
gì chứng tỏ họ vừa quyết định một bản án tử hình và trên khuôn mặt các ông
trưởng giả tốt bụng ấy, tôi chỉ đoán được là họ rất buồn ngủ.
Trước mặt tôi là một khuôn cửa sổ mở rất rộng. Tôi nghe thấy tiếng cười của
người bán hoa từ ngoài hè phố vọng vào và trên mép hình chữ thập đó, trong khe
đá có một cây con màu vàng, tràn ngập trong tia nắng đu đưa trước gió.
Làm sao một ý nghĩ hung dữ lại có thể ló ra giữa bao nhiêu cảm giác dịu
dàng như thế nhỉ? Tràn ngập trong không khí và ánh sáng, tôi không thể nào nghĩ
gì khác hơn là nghĩ đến tự do. Phần hy vọng tỏa sáng trong tôi như ánh sáng ban
8
ngày bao quanh tôi và lòng tin tưởng, tôi chờ đợi phán quyết của tòa như người
ta chờ đợi sự giải thoát và cuộc sống.
Tuy nhiên luật sư của tôi đã đến. Mọi người đang chờ ông. Ông vừa dự một
bữa trưa sang trọng và ăn rất ngon miệng. Đến chỗ ngồi của tôi, ông ta cúi
nghiêng đầu chào tôi với một nụ cười.
– Tôi hy vọng. - Ông ta nói với tôi.
– Có phải là hy vọng không? - Tôi trả lời nhẹ nhàng và cũng mỉm cười đáp
lại.
– Đúng. - Ông ta nhắc lại. - Tôi còn chưa biết một tí gì về lời phát biểu của
các quan tòa nhưng chắc chắn họ đã bác bỏ phán xét của phiên xử trước và như
thế sẽ là khổ sai chung thân thôi.
– Ông nói gì thế, thưa ông luật sư. - Tôi trả lời phẫn nộ: như vậy thì trăm lần
thà chết.
Vâng, thà chết. Vả lại có một giọng nói ở bên trong nhắc với tôi. Tôi sợ gì mà
không nói rõ ra điều đó. Có bao giờ người ta tuyên án tử hình vào lúc khác hơn là
lúc nửa đêm, phải đốt đuốc trong căn phòng u tối, đen kịt và vào một đêm đông
lạnh giá? Nhưng đây là vào buổi sáng tháng tám, một ngày đẹp trời như thế này
thưa các vị thẩm phán tốt bụng. Thật là không thể thế được, rồi mắt tôi lại trở lại
nhìn dán vào bông hoa vàng dưới ánh mặt trời.
Bất thình lình vị chánh án thấy luật sư của tôi đã đến, liền như có một dòng
điện chạy qua, hết thảy mọi người trong phòng xử án nhất loạt đứng dậy. Một
khuôn mặt tầm thường vô tích sự, tôi nghĩ đó là viên lục sự. Anh ta phát biểu và
đọc bản phán quyết mà các quan tòa đã biểu quyết trong khi tôi không có ở đấy.
Chân tay tôi toát mồ hôi lạnh. Tôi phải dựa vào tường để khỏi ngã.
Chánh án hỏi luật sư của tôi: Ông có điều gì muốn nói về áp dụng khung hình
phạt không?
Đáng lẽ ra tôi có nhiều điều để nói nhưng không hiểu sao cứ lặng đi, không
nói lên được một lời nào, lưỡi dán chặt vào vòm miệng.
Người bảo vệ đứng dậy.
Tôi hiểu rằng ông ta tìm cách giảm nhẹ lời công bố của đoàn bồi thẩm và
giảm xuống không phải là án này mà là án kia, cái đã làm tôi rất bực tức khi nghe
9
ông ta nói là ông ta hy vọng.
Sự phẫn nộ của tôi đã quá mạnh để lộ ra trăm nghìn cảm xúc đang dồn nén
trong tâm trí tôi. Tôi muốn hét to lên điều tôi đã nói với ông ta: Thà một trăm lần
chết còn hơn! Nhưng tôi không còn đủ hơi sức để nói. Tôi chỉ có thể ngăn ông ta
lại bằng cách giơ cao cánh tay kêu lên một tiếng đau đớn: Không!
Viên chưởng lý tranh tụng với luật sư. Tôi lắng nghe họ với một sự hài lòng
ngu xuẩn. Rồi các vị thẩm phán ra ngoài, và trở lại, sau đó ông chánh án lạnh
lùng tuyên án.
Có tiếng xì xào trong đám đông. Trong lúc tôi bị dẫn đi, đám đông ùa theo
tôi, ồn ào như một tòa nhà đang đổ sập. Còn tôi bước đi, lảo đảo như người say
rượu, sững sờ một sự khuấy động vừa xảy ra trong tôi. Cho đến lúc bị tuyên án
tôi vẫn cảm thấy được hít thở, tim vẫn đập mạnh trong cùng một môi trường sống
như mọi người khác. Bây giờ tôi phân biệt rõ giữa tôi và mọi người có một hàng
rào ngăn cách.
Đối với tôi không còn gì có chung một dáng vẻ với mọi người như trước.
Cũng vẫn những cửa sổ rộng mở, ánh sáng chói chang, cũng vẫn mặt trời rực rỡ,
bầu trời trong xanh, cũng vẫn đóa hoa xinh đẹp nhưng tất cả bây giờ đều trắng
bệch, nhợt nhạt như một tấm vải liệm. Những người đàn ông ấy, những người
đàn bà ấy, những đứa trẻ ấy chen chúc xô đẩy nhau ùa ra chỗ tôi bị dẫn đi qua, tôi
thấy họ như những bóng ma.
Bên dưới cầu thang một chiếc ô tô màu đen có lưới sắt ở các ô cửa, bẩn thỉu
chờ sẵn. Lúc trèo lên, tôi bâng quơ nhìn ra quảng trường.
– Một tên tử tù!
Những người qua đường vừa kêu lên vừa chạy đến chỗ tôi. Qua đám mây đen
tưởng như ngăn cách tôi và mọi sự vật chung quanh, tôi nhận ra hai cô gái trẻ,
chạy theo tôi với cặp mắt hau háu.
– Chỉ còn sống được sáu tuần nữa thôi, tiếng cô trẻ hơn vỗ tay thốt lên.
10
Chương 3
Tử tù!
Tại sao không? Tôi nhớ đã đọc trong một cuốn sách nào đó có câu như thế
này: “Tất cả mọi người đều bị kết án tử hình, thời gian hoãn không xác định”[1].
Vậy có gì thay đổi so với hoàn cảnh của tôi hiện nay?
Từ khi bản án được tuyên, bao nhiêu người nghĩ là được sống lâu thế mà đã
chết rồi! Bao nhiêu người đã đi trước tôi, những thanh niên tự do và lành mạnh,
tưởng được trông thấy đầu tôi rơi vào một ngày nào đó ở quảng trường Grève.
Từ nay đến hôm đó, có bao nhiêu con người giờ đây đang tiếp bước, đang hít thở
trong bầu trời lồng lộng sẽ phải ra đi trước tôi?
Và rồi cuộc sống với tôi còn có gì đáng luyến tiếc nữa! Thực tế ban ngày
trong ngục tối với mẩu bánh mì đen nhẻm kèm một bát nước canh loãng toẹt múc
ở chiếc thùng gỗ do người tù đem đến, tôi, một con người đã được hưởng thụ
một nền giáo dục mềm mỏng, - bị bọn cai tù đối xử thô bạo, tàn nhẫn, bao giờ
được gặp một người có thể nghĩ rằng tôi đáng để họ bắt chuyện và đáng được trả
lời, luôn luôn giật mình về việc tôi đã làm và về việc người ta sẽ làm đối với tôi;
đấy hầu như là những tài sản duy nhất mà tên đao phủ có thể tước đoạt của tôi. Mặc dù vậy, vẫn là kinh khủng.
11
Chương 4
Chiếc ô tô màu đen chở tôi đến đây, trong nhà tù Bicêtre ghê tởm này.
Nhìn từ xa, tòa nhà này có một vẻ uy nghi nào đó trải rộng ở cuối chân trời,
trước một ngọn đồi còn giữ lại được một vẻ đẹp cổ kính xưa kia, một dáng vẻ lâu
đài vua chúa. Nhưng khi càng đến gần, tòa cung điện trở thành một tòa nhà tồi
tàn đổ nát. Đầu hồi bị hư hại như đâm vào mắt. Tôi không biết có gì đáng xấu hổ
và nghèo nàn hơn đã làm bẩn mặt ngoài của cung điện nhà vua. Người ta có thể
nói các bức tường như bị hủi gặm nhấm. Không còn kính, không còn gương ở
cửa sổ mà chỉ là những tấm sắt che chắn đặt chéo nhau, đây đó dán những hình
ảnh xanh xao gầy gò một tên cai tù hay một thằng điên.
Đó là cuộc sống nhìn gần.
12
Chương 5
Vừa đến nơi, người ta vội vàng cùm tay tôi lại. Người ta tăng gấp bội các
biện pháp đề phòng: không một con dao, không một dĩa cho tôi khi ăn. Một loại
túi vải buồm - áo trói người điên - bọc kín cánh tay tôi. Người ta có trách nhiệm
phải giữ cho tôi sống đến ngày lên đoạn đầu đài. Tôi đã xin chống án. Chỉ còn
sáu hay bảy tuần nữa cho một vụ việc tốn kém này, cần phải để tôi sống bình an
vô sự đặng đi tới quảng trường Grève.
Những ngày đầu người ta đối xử với tôi dịu dàng đến ghê người. Thái độ vì
nể của viên cai ngục đối với tôi như ngửi thấy mùi máy chém. May thay, chỉ sau
vài ngày, thói quen lại nổi dậy chiếm ưu thế. Họ lẫn lộn tôi với các phạm nhân
khác, áp dụng một thái độ tàn bạo chung cho tất cả và không còn sự phân biệt đối
xử với tôi là phải có xử sự lễ phép khác thường để tên đao phủ luôn luôn xuất
hiện trước mắt tôi. Đây không phải là sự cải thiện cuối cùng.
Tuổi trẻ của tôi, thái độ ngoan ngoãn quy phục của tôi, sự ân cần của cha
tuyên uý trong nhà tù, và nhất là vài lời bằng tiếng La tinh tôi nói với người gác
cổng mà anh ta không hiểu đã khiến tôi được hưởng một buổi dạo chơi mỗi tuần
cùng với những phạm nhân khác và trút bỏ được áo trói người điên làm tôi như
bị liệt. Sau nhiều lần do dự người ta cũng cho tôi một ít mực, giấy, bút và một
chiếc đèn đêm.
Chủ nhật nào cũng vậy, sau lễ misa, người ta thả tôi đi lại trong sân nhà tù
trong giờ giải lao. Ở đó tôi trò chuyện với các phạm nhân. Phải như thế. Họ là
những người tử tế, những người khốn khổ. Họ kể cho tôi nghe về những thủ đoạn
của họ, có lẽ để gây khiếp đảm, nhưng tôi biết là họ chỉ khoác lác. Họ dạy tôi
tiếng lóng mà họ gọi là đòi hỏi cái đe có hai đầu nhọn rouscailler bigorne.
Đây là một thứ ngôn ngữ ghép vào ngôn ngữ chung như một khối u gớm
ghiếc, một chiếc mụn cóc ngoài da. Đôi khi tiếng lóng có một năng lực đặc biệt,
một cái đẹp rùng rợn như “máu đổ trên đường” thì gọi là “nho ép ở ngã ba
đường”, bị treo cổ thì gọi là “kết hôn với bà góa” làm như thể cái dây thòng lọng
của giá treo cổ là góa phụ của tất cả những kẻ bị buộc tội treo cổ. Cái đầu kẻ
13
trộm có hai tên, sorbonne[2] - khi nó lý luận và bày ra tội ác, trouche[3] là cái sọ
hay cái thủ, khi nó bị đao phủ cắt cổ.
Đôi khi với tinh thần hài hước dân dã, người ta gọi cái lưỡi là mụ đàn bà nói
điêu, cái gùi của người đi lượm vải rách, sắt vụn hay giấy vụn là cachemire
d'osier - casơmia là một thứ vải dệt bằng lông dê rất quý ở Ấn Độ, còn osier là
cây liễu gió, thứ nguyên liệu đan giỏ, gùi, v.v…
Rồi từng lúc lại có những từ rất lạ tai, bí ẩn, xấu xa, bẩn thỉu không biết từ
đâu đến như taule là tiếng lóng chỉ nhà tù, trong khi taule có thể hiểu là nhà ở
khách sạn. Sự chết là hình nón cône, nơi hành hình gọi là placarde có nghĩa là
quảng trường, là chỗ ngồi hay chỗ làm béo bở. Người ta có thể nói tiếng lóng xấu
xa như loài cóc nhái, loài nhện. Khi nghe nói thứ tiếng này, tôi cảm thấy một cái
gì đó dơ bẩn, bụi bặm, như thể một đống giẻ mà người ta giũ trước mặt anh.
Ít nhất, tôi cũng thấy thích những con người ấy. Chỉ có họ mới làm tôi thú vị.
Các cai ngục, người đeo chìa khóa phòng giam - tôi đâu có giận họ - trò chuyện,
cười nói về tôi, nói trước mặt tôi như nói về một đồ vật.
14
Chương 6
Tôi tự nhủ: Tôi có phương tiện để viết, tại sao tôi không viết nhỉ? Nhưng viết
gì mới được chứ?
Bị giam cầm giữa bốn bức tường đá trần trụi, lạnh lẽo, chân không được
bước tự do, mắt không được nhìn thấu chân trời, chỉ có một trò giải trí duy nhất
là ngày nào cũng bận theo dõi một cách máy móc tiến trình chậm chạp của ô
vuông màu trắng nhạt được cái lỗ nhìn của buồng giam đối diện với cái tường u
tối cắt vụn. Và như tôi nói ban nãy, một mình với một ý nghĩ về tội giết người và
hình phạt tử hình, có phải tôi có điều muốn nói, tôi không có việc gì để làm ở thế
giới này. Và tôi sẽ tìm thấy gì trong bộ não héo hắt và trống rỗng này, đáng mất
công để viết chăng?
Tại sao lại không? Nếu tất cả xung quanh tôi đều đơn điệu, tẻ nhạt thì trong
tôi làm gì có bão tố, có đấu tranh và bi kịch? Cái ý tưởng cố định ấy luôn luôn
ám ảnh tôi, hiện diện trong tôi mỗi giờ, mỗi lúc dưới một hình thái khác, lúc nào
cũng càng xấu xa nhuốm máu, mỗi khi thời hạn thi hành án đến gần? Tại sao tôi
không cố nói với chính mình những điều tôi cảm thấy. Có cái gì là bạo lực, là
không biết trong tình cảnh bị bỏ rơi như hoàn cảnh của tôi hiện nay.
Chắc hẳn là vật chất phong phú và cuộc đời tôi dù rút ngắn như thế cũng còn
khối chuyện phải nói trong các mối lo toan, trong sự khiếp sợ, trong các lần tra
tấn, từ lúc này đến giờ cuối cùng còn có nhiều chuyện để làm mòn ngòi bút và
cạn lọ mực. Vả lại, những mối lo toan ấy, cách duy nhất để giảm đau khổ là quan
sát chúng và việc tô vẽ chúng sẽ giải khuây cho tôi. Và rồi, những điều tôi sẽ viết
ra có lẽ sẽ không phải là vô ích.
Quyển nhật ký ghi những đau khổ của tôi, từng giờ, từng phút, hết nhục hình
này đến nhục hình khác, nếu tôi có đủ sức lực để viết cho đến lúc về mặt thể xác
tôi không tiếp tục được nữa. Câu chuyện ấy chắc là còn dang dở nhưng cũng nói
lên đầy đủ trong khả năng cho phép. Các cảm giác của tôi lẽ nào lại không mang
theo bài học lớn và sâu sắc nào hay sao? Phải chăng trong các biên bản nói về ý
nghĩ đang hấp hối, trong nỗi đau ngày một tăng lên, trong cái thứ giải phẫu trí tuệ
của một tử tù lại không có thêm một bài học cho những kẻ kết án như tôi chăng?
15
Có lẽ đọc đoạn này sẽ làm bàn tay của họ nhẹ nhàng hơn chăng khi một lần
khác phải ném cái đầu biết suy nghĩ, một cái đầu người vào cái được họ gọi là
cán cân công lý! Chẳng lẽ họ không bao giờ suy nghĩ đến cái chuỗi tra tấn chậm
chạp mà một bản án tử hình được soạn thảo mau mắn gây ra cho kẻ tử tù? Chẳng
lẽ không bao giờ họ có ý nghĩ xót xa cho rằng trong con người mà họ sẽ xóa đi
khỏi cuộc sống có một trí tuệ, một trí tuệ dựa vào cuộc sống mà tồn tại, một tâm
hồn không bao giờ sẵn sàng để chết? Không! Họ chỉ nhìn thấy cái lưỡi dao ba
góc rơi thẳng đứng xuống và chẳng có gì sau khi lên đoạn đầu đài.
Mong cho những trang viết này sẽ làm cho họ tỉnh ngộ! Có lẽ đến một ngày
nào đó những trang viết này được công bố sẽ làm cho họ nghĩ trong giây lát đến
những đau khổ về tinh thần vì đó là những đau khổ mà họ không thể hoài nghi.
Họ đắc chí là đã có thể giết chết một con người không làm đau khổ đến thể xác.
Vấn đề là ở chỗ đó. Thế nào là đau khổ về thể xác bên cạnh đau khổ về tinh thần
và thương hại cho những luật pháp được làm như thế! Một ngày nào đó có lẽ
những hồi ức này, những lời tâm sự cuối cùng này của một kẻ khốn cùng sẽ góp
phần tham gia vào một việc làm như vậy….
Chỉ mong là sau khi tôi chết gió sẽ không thổi bay những mẩu giấy vấy bùn
này trong sân nhà tù hoặc sẽ thổi đi khi nước mưa rơi xuống hoặc dán vào kính
vỡ của người cai ngục như những ngôi sao.
16
Chương 7
Mong cho những điều tôi viết ra một ngày kia sẽ có ích cho người khác, sẽ
làm quan tòa đã sẵn sàng xử án phải dừng tay, mong cho điều đó cứu được những
người khốn khổ vô tội hay có tội ra khỏi cơn hấp hối như tôi đã bị kết án. Tại
sao? Để làm gì? Có quan trọng gì đâu? Khi đầu tôi đã bị chặt rồi, người ta có
chặt đầu những người khác thì cũng chẳng làm gì tôi được. Thật sự tôi có nghĩ
đến sự điên cuồng này không? Hãy phá bỏ đoạn đầu đài sau khi tôi đã leo lên?
Tôi thử hỏi bạn xem điều đó có lợi gì cho tôi nào?
Sao? Mặt trời mùa xuân, những cánh đồng đầy hoa, những con chim thức
giấc lúc ban mai, mây, cây cối, thiên nhiên tự do, cuộc sống, tất cả những cái đó
không thuộc về tôi nữa chăng?
Ôi! Chính tôi mới là người cần phải giải cứu. Có đúng là điều đó không thể
xảy ra, l
 





