Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Người mẹ

- 0 / 0
Nguồn: https://sachmoi.net
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 10h:10' 09-12-2025
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 10h:10' 09-12-2025
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
1
NGƯỜI MẸ
—★—
Tác giả: Maxim Gorky
Người dịch: Phan Thảo
Phát hành Văn Hóa Đông Tây
Nhà xuất bản Văn học - 4/2016
ebook©SACHMOI.NET
19-09-2018
Ebook miễn phí tại: www.sachmoi.net
2
Mục lục
Giới Thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Chương 32
Chương 33
Chương 34
Chương 35
3
Chương 36
Chương 37
Chương 38
Chương 39
Chương 40
Chương 41
Chương 42
Chương 43
Chương 44
Chương 45
Chương 46
Chương 47
Chương 48
Chương 49
Chương 50
Chương 51
Chương 52
Chương 53
Chương 54
Chương 55
Chương 56
Chương 57
Chương 58
4
Giới Thiệu
Người mẹ là tác phẩm viết về hiện thực xã hội nước Nga trong những năm đầu
thế kỷ 20, khi giai cấp vô sản Nga đang chuẩn bị tiến hành cuộc cách mạng Nga
lần thứ nhất. Tác phẩm vẽ ra trước mắt chúng ta bức tranh rộng lớn của xã hội
Nga những năm đầu thế kỷ 20 với cái quá khứ nặng nề trong đời sống của vợ
chồng bác công nhân Mikhain, với cái hiện tại đấu tranh gian khổ và anh dũng của
mẹ con anh công nhân Paven… Đồng thời, tiểu thuyết còn gợi lên niềm tin chắc
chắn về thắng lợi tất yếu của những người lao động chân chính với chế độ chuyên
chế. Hình ảnh kết thúc của tiểu thuyết, “cảnh người mẹ bị bắt cầm tù” gợi nên
trong lòng người đọc nhiều ám ảnh, nhiều xót xa nhưng nó làm cho người đọc lạc
quan, tin tưởng ở ngày mai.
5
Chương 1
Hàng ngày, còi nhà máy rú và rung lên trong làn khói và mùi dầu mỡ của xóm
thợ ngoại ô. Và từ những căn nhà nhỏ xám xịt những con người tiều tụy, gân cốt
còn mỏi mệt, vội vã bước ra giống những con gián ngày sợ sệt. Trong không khí
lạnh lẽo, lúc còn tranh tối tranh sáng, họ đi trên những đường phố không lát đến
cái chuồng đá cao ngất có vô số những con mắt vuông đùng đục chiếu xuống mặt
đường, đang thanh thản và lãnh đạm chờ đợi họ. Bùn bì bõm dưới chân. Những
tiếng kêu khàn khàn còn ngái ngủ vang đến tai họ, những câu chửi độc địa xé
không gian. Giờ đây, lại có những tiếng khác vang tới: tiếng máy chạy rì rầm,
tiếng hơi nước phì phò: Những ống khói cao ngất, đen ngòm, âm u và dữ tợn, in
rõ trên nền trời, chế ngự cả vùng ngoại ô, tựa những cây gậy lớn.
Chiều chiều, khi mặt trời tà rọi những tia nắng đỏ lên cửa kính các nhà thì
xưởng máy lại nhả họ từ trong lòng đá ra như nhả một thứ xỉ than, và thợ thuyền,
mặt mũi xạm khói đen, hàm răng háu đói lấp lánh, lại tỏa ra các ngả đường, để
trong không khí mùi dầu máy ẩm ướt. Bây giờ, tiếng họ trở nên sôi nổi và vui vẻ
là khác nữa; công việc khổ sai của họ ngày hôm nay đã chấm dứt, bữa ăn tối và
nghỉ ngơi đang chờ họ ở nhà.
Nhà máy đã nuốt chửng một ngày qua; máy móc đã hút từ bắp thịt con người
tất cả sinh lực cần cho nó. Ngày ấy trôi đi không còn để lại dấu vết; con người lại
bước thêm một bước nữa đến nấm mồ, nhưng cảm thấy sự nghỉ ngơi êm đềm đã
đến rất gần cùng với thú vui của quán rượu ám khói, và thế là anh ta thỏa mãn.
Ngày lễ, họ ngủ đến khoảng mười giờ, rồi những người đứng đắn, đã có vợ
con, vừa khoác bộ áo sang nhất đi lễ vừa chê trách bọn trai trẻ thờ ơ với nhà thờ.
Đi lễ về, họ ăn uống rồi ngủ cho đến chiều tối.
Sự mệt nhọc chứa chất lại trong bao năm ròng khiến họ chẳng thiết đến bữa
ăn, nên để cho ngon miệng, nhiều người uống rượu, lấy chất men nồng kích thích
dạ dày.
Tối đến, họ uể oải đi dạo phố; người có giày cao su cũng mang ra đi dù trời
khô ráo, người có ô cũng đem theo dầu trời nắng đẹp.
6
Gặp nhau, họ nói chuyện xưởng, chuyện máy móc, họ nguyền rủa bọn đốc
công. Lời nói và ý nghĩ chỉ xoay quanh công ăn việc làm hàng ngày. Họa hoằn họ
mới thốt ra được một ý nghĩ nghèo nàn, vụng về, lóe lên như một tia sáng cô đơn
vào chuỗi ngày âm u đơn điệu. Về nhà, họ cãi nhau với vợ và thường đánh đập vợ
chồng chẳng tiếc tay. Bọn trẻ thì ngồi lại ở quán cà phê hoặc tổ chức hội họp vui
chơi ở nhà nhau, kéo đàn ac-coóc-đê-ông, hát những bài tục tĩu, khiêu vũ, kể
chuyện dâm ô trụy lạc và uống rượu. Mệt lử vì công việc, họ rất dễ uống đến say;
rượu vào, họ sinh ra cáu kỉnh vô cớ, một nỗi cáu kỉnh bệnh hoạn muốn tìm một lối
thoát. Thế là, để trút hết mọi bực bội đó, chỉ vì một cớ không đâu, họ nhảy xổ vào
nhau như đàn thú dữ. Đó là những cuộc ẩu đả có máu đổ, có người bị gãy tay, què
chân, đôi khi có người thiệt mạng.
Trong quan hệ với nhau, một tinh thần hằn học chỉ chực bùng nổ, trùm lấn cả
mọi người và trở thành cố tật như sự mệt mỏi của bắp thịt họ. Họ sinh ra với cái
bệnh tâm hồn ấy, thừa kế của ông cha, nó theo chân họ xuống đến tận mồ như một
bóng đen, và khiến họ phạm những hành động xấu xa tàn bạo vô ích.
Vào ngày lễ, bọn trẻ thường về nhà rất khuya, áo quần tả tơi phủ đầy bùn và
bụi, mặt mày thâm tím. Bằng một giọng hiểm độc, họ huênh hoang về những trận
nện bạn bè; hoặc giận dữ, hay đang khóc sướt mướt vì bị nhục mạ, họ trở về say
khướt và thiểu não, khốn khổ và ghê tởm. Đôi khi, cha mẹ phải dắt con sau khi
tìm thấy con say bí tỉ, nằm chết gí bên bờ rào hay trong quán rượu; các cụ chửi
mắng, đánh đập túi bụi đứa con vẫn mê man bất tỉnh. Sau đó, ít nhiều gượng nhẹ,
lại đặt con lên giường để sáng hôm sau, đánh thức con dậy đi làm sớm, khi còi
nhà máy thét lên giận dữ, tỏa ra như một làn suối đen trong không khí.
Cha mẹ chửi mắng, đánh con thậm tệ, nhưng đối với các cụ thì việc bọn trẻ
hay rượu và thích đánh nhau dường như là điều hoàn toàn chính đáng. Hồi còn trai
trẻ, các cụ chẳng đã từng say rượu, đánh nhau và đã từng bị cha mẹ đánh đập đấy
ư? Cuộc đời là thế. Năm này qua năm khác, nó cứ đều đều và chậm rãi trôi đi như
một dòng nước đục; ngày ngày vẫn từng ấy nếp quen suy nghĩ và hành động, lâu
dài và dai dẳng. Và cũng chẳng ai có ý muốn thay đổi gì hết thảy.
Thỉnh thoảng tại vùng ngoại ô, có những người lạ mặt, không biết từ đâu đến.
Ban đầu, người ta chú ý đến họ chỉ vì họ là người lạ; sau đó, họ nói đến những nơi
họ đã từng làm việc qua nên cũng khêu gợi đôi chút tò mò của bà con; rồi dần
7
dần, người ta cũng quên đi, cái mới không còn là mới nữa, và không ai quan tâm
tới họ. Những câu chuyện họ kể nói lên một điều tất nhiên: đời người thợ ở đâu
cũng thế. Vậy còn nói tới làm gì nữa?
Nhưng đôi lúc cũng có người đến nói những chuyện còn là mới lạ đối với
vùng ngoại ô. Người ta không bàn cãi với họ, nhưng người ta cứ nghe những câu
chuyện quái gở họ kể mà không tin; những câu chuyện đó làm cho người thì ngấm
ngầm tức giận, người thì sợ sệt lo âu, một số khác thì cảm thấy xao xuyến vì một
niềm hy vọng mơ hồ, rồi càng uống rượu nhiều hơn nữa để xua đuổi cái cảm giác
vô ích bức bối đó.
Nếu dân ngoại ô nhìn thấy một người lạ mặt có điều gì kỳ lạ thì họ đối xử khá
gắt gao với người đó rất lâu và tự nhiên thấy ghê sợ, e ngại anh ta mang đến cái gì
có thể làm lối loạn sự đều đặn trong cuộc sống buồn tẻ, cơ cực nhưng yên ồn của
họ. Đã quen bị một sức mạnh bất di bất dịch đè nén, họ không trông đợi một sự
cải thiện nào và coi mọi sự thay đổi chỉ làm cho cái ách của họ càng nặng nề
thêm.
Ai nói đến chuyện gì mới lạ đều bị dân ngoại ô lặng lẽ lánh xa. Thế là những
người đó biến mất, lại lên đường tới nơi khác, hoặc nếu ở lại nhà máy, thì phải
sống riêng biệt, không tài nào hòa được vào đám đông thợ thuyền, ai cũng giống
ai hết thảy…….
Con người cứ sống như vậy chừng dăm chục năm rồi chết…..
8
Chương 2
Đó là cuộc đời của lão thợ nguội Mikhain Vlaxôp, một người mặt mày ủ ê,
lông lá bờm xờm, cặp mắt nhỏ đa nghi, dưới đôi mày rậm, với cái cười khó chịu.
Là người thợ nguội giỏi nhất nhà máy, và là tay lực sĩ vùng ngoại ô, công sá của
lão chẳng được là bao vì thái độ thô lỗ với bọn chủ. Chủ nhật nào lão cũng đánh
chí mạng một người; chẳng ai ưa lão và mọi người đều gờm lão. Đã có lần, họ thử
choảng lại lão nhưng chẳng ăn thua. Khi Vlaxôp thấy có người định đánh mình thì
lão quơ ngay lấy một hòn đá, một tấm ván, một thanh sắt và cứ thế lão dạng chân
ra, lặng lẽ chờ địch thủ. Mặt lão, từ mắt đến cổ, râu ria rậm rịt, đôi tay lông lá làm
cho ai cũng phải phát khiếp. Đáng sợ nhất là cặp mắt nhỏ và sắc cứ xoáy vào
người ta như một mũi dùi bằng thép nhọn; bắt gặp đôi mắt đó nhìn mình, người ta
có cảm tưởng như đứng trước một sức mạnh man rợ, không hề biết sợ là gì, sẵn
sàng nện không thương xót.
Vlaxôp lầm bầm:
– Cút đi, đồ chó chết!
Hàm răng to vàng khè của Vlaxôp ánh lên giữa đám râu xồm xoàm trên mặt
lão. Chửi bới lão không tiếc lời, nhưng sợ sệt, các địch thủ của lão cứ lùi dần…
– Đồ chó chết! - Vlaxôp lại quát to thêm nữa, mắt lão long lên, hung dữ, nhọn
sắc như dao. Rồi hất đầu lên, về thách thức, Vlaxôp nhìn theo bọn người đó, giọng
khiêu khích - Nào, thử xem thằng nào muốn chết?
Chẳng người nào muốn chết…
Vlaxôp vốn ít nói và tiếng đầu lưỡi của lão là “đồ chó chết”. Lão dùng tiếng
ấy để chỉ bọn đốc công trong nhà máy và bọn cảnh sát. Lão cũng dùng tiếng ấy để
nói với vợ lão:
– Đồ chó chết, chứ mày không thấy quần tao rách à?
Khi Paven, con trai lão mười bốn tuổi, có ngày lão toan túm tóc đánh. Nhưng
Paven vớ ngay được một chiếc búa tạ, nói cộc lộc:
– Đừng động tới tôi…
– Mày nói cái gì? - Vlaxôp hỏi lại, rồi tiến tới trước mặt cậu con trai cao và
mảnh khảnh, như cái bóng trùm lên một cây bạch dương non.
9
Paven nói:
– Đủ rồi! Tôi không chịu thế mãi đâu…
Rồi cậu ta vung cái búa lên.
Vlaxôp nhìn con, chắp hai tay lông lá ra sau lưng, cười gằn:
– Được…
Rồi lão nói tiếp, thở dài não nuột:
– Đồ chó chết!
Sau đó ít lâu, Vlaxôp bảo vợ:
– Đừng có hỏi tiền tao nữa. Thằng Paven nó sẽ nuôi mày…
– Vợ đánh bạo, hỏi:
– Thế bố nó định để uống rượu hết à?
– Đồ chó chết, không việc gì đến mày. Tao sẽ kiếm một con nhân tình ra trò…
Vlaxôp không kiếm một con nhân tình nào cả, nhưng từ đấy cho đến chết, có
đến gần hai năm, Vlaxôp không nhìn mặt con nữa và chẳng nói với con nửa lời.
Lão có một con chó cũng to lớn và cũng lông lá như lão. Hàng ngày, con vật
cứ đi theo lão đến nhà máy và buổi chiều chờ lão trước cổng. Ngày chủ nhật,
Vlaxôp la cà hết quán rượu này đến quán rượu khác. Lão hằm hằm bước đi, chẳng
nói chẳng rằng, mắt chằm chằm nhìn mọi người qua đường, như có vẻ tìm ai. Suốt
ngày con chó cứ chạy theo lão, cái đuôi to xù cụp xuống. Say khướt, lão về nhà
ngồi vào bàn ăn và cho con chó ăn ngay trong đĩa của lão. Lão không đánh đập nó
bao giờ, không hành hạ nó, nhưng cũng không hề vuốt ve nó. Sau bữa ăn, nếu vợ
lão chưa kịp dọn bàn, lão hắt ngay bát đĩa xuống đất, đặt một chai vodka trước
mặt, rồi lưng dựa vào tường, miệng há hốc, mắt nhắm nghiền, lão cất giọng ồ ồ,
buồn thảm, rền rĩ hát. Lời hát buồn bã và tục tĩu lúng búng trong hàng ria mép,
làm rơi xuống những mẩu bánh mì nhỏ; người thợ nguội vừa lấy mấy ngón tay thô
kệch chải vuốt bộ ria vừa hát. Lời hát khó hiểu và kéo dài ê a, điệu hát làm cho
người ta nhớ đến tiếng chó sói kêu rống mùa đông. Còn rượu trong chai là lão còn
hát; rồi lão nghiêng người thỉu đi trên chiếc ghế dài, hoặc gục đầu xuống bàn, và
cứ ngủ như thế cho đến khi có tiếng còi rúc. Con chó nằm bên cạnh lão. Vlaxôp
chết vì bệnh thoát vị. Suốt năm ngày ròng rã, lão nằm vật vã trên giường, da tái
thâm, mắt nhắm nghiền, răng nghiến ken xét. Thỉnh thoảng, lão bảo vợ…
– Đưa thuốc bả chuột, đưa thuốc độc đây cho tao…
10
Bác sĩ cho thuốc chườm chỗ đau, nhưng nói thêm rằng cần phải mổ và phải
đưa đi bệnh viện ngay hôm ấy.
Vlaxôp rít lên:
– Xéo ngay! Một mình tao cũng chết được chẳng cần đến đứa nào! Đồ chó
chết!
Sau khi bác sĩ đi khỏi, vợ lão khóc sướt mướt, van lơn lão chịu khó đi mổ. Lão
giơ nắm tay, đe vợ:
– Tao mà khỏi thì mày còn chết nữa!…
Lão chết vào một buổi sáng, giữa lúc còi tầm nhà máy rúc gọi đi làm.
Nằm trong quan tài, miệng lão há hốc nhưng lông mày thì nhíu lại cau có. Đi
chôn lão có vợ lão, con lão, con chó của lão, Đanhila Vêxôpsikôp, một tên bợm
già hay rượu đã bị đuổi ra khỏi nhà máy, và vài người cùng khốn ở vùng ngoại ô.
Vợ lão có khóc chút ít, Paven thì chẳng nhỏ được giọt nước mắt nào. Những
người gặp đám tang đi qua, dừng lại, làm dấu thánh, rồi nói với nhau:
– Lão ta chết, bà Pêlagâya ắt hẳn là bằng lòng…
Có người nói chữa lại:
– À, không phải chết, mà là trời đánh thánh vật đấy!…
Sau khi hạ huyệt, mọi người trở về nhà, nhưng con chó còn ở lại đó, nằm trên
lớp đất mới và không một tiếng sủa, đánh hơi nấm mồ rất lâu. Vài ngày sau, có
người giết chết con chó, chẳng biết ai…
11
Chương 3
Hai tuần sau ngày bố chết, vào một ngày chủ nhật, Paven Vlaxôp uống rượu
say mềm, trở về nhà. Anh lảo đảo bước vào căn phòng giữa, và cũng như bố
trước đây, đấm tay lên bàn quát mẹ:
– Cho ăn đây!
Bà mẹ đến gần ngồi xuống một bên, đưa tay choàng lấy con, kéo đầu con vào
lòng. Nhưng anh đưa tay ấn vào vai mẹ đẩy bà ra, và hét:
– Này mẹ, nhanh lên chứ….
– Thằng con dại dột của mẹ!
Bà cất giọng buồn rầu và âu yếm, cố giữ lấy tay con.
– Tôi hút thuốc đây! Mẹ đưa cái điếu của bố đây cho tôi… - Paven nói làu
nhàu, khó khăn, lưỡi líu lại.
Đấy là lần đầu tiên anh say rượu. Rượu đã làm cho người anh yếu đi, nhưng
chưa làm cho anh mất trí; một câu hỏi cứ đập vào đầu óc anh: Ta say ư? … Ta
say ư? …
Những cái vuốt ve âu yếm của mẹ làm anh xấu hổ, và đôi mắt lo buồn của bà
khiến anh động lòng. Anh muốn khóc, và để tiếng khóc khỏi bật lên, anh làm ra
bộ say nhiều hơn là say thật.
Bà mẹ vừa vuốt đầu tóc rối bù và ướt đẫm mồ hôi của con, vừa nói dịu dàng:
– Lẽ ra con không nên…
Paven thấy buồn nôn. Sau khi anh nôn dữ dội một chập, bà mẹ dìu anh lại
giường và đắp lên trên trán tái nhợt của con một chiếc khăn ướt. Paven tỉnh lại
một ít; nhưng chung quanh mọi vật đều quay tít, mi mắt nặng trĩu, miệng thấy
đắng và lờm lợm; Paven nhíu qua hàng mi khuôn mặt như to hơn thường của mẹ,
và anh có mấy ý nghĩ không mạch lạc: “Đối với mình, như thế này là sớm quá…
Người khác uống không sao, mà mình uống vào thì buồn nôn…”
Tiếng nói dịu dàng của bà mẹ lại cất lên, xa xăm:
– Con lâm vào cảnh rượu chè… thì làm sao còn nuôi nổi mẹ…
Paven nhắm mắt lại và nói:.
– Ai cũng uống cả…
12
Bà mẹ thở dài. Paven nói đúng. Bà cũng hiểu rõ rằng ngoài quán rượu ra,
người ta không có chỗ nào để tìm vui nữa, song bà vẫn trả lời:
– Con thì con không nên uống! Bố con trước kia đã uống luôn cả cho phần
con rồi, đã làm khổ mẹ khá nhiều rồi… Con cũng phải biết thương mẹ với chứ…
Paven nghe những lời nói buồn rầu và dịu dàng đó; anh nhớ lại cuộc đời âm
thầm và lặng lẽ của mẹ, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị đánh đập. Trong thời gian
vừa qua, Paven ít ở nhà để tránh gặp mặt bố; anh đã có phần quên mẹ. Và giờ
đây, dần dần tỉnh rượu, Paven nhìn mẹ chăm chú.
Bà cao lớn và lưng hơi còng; vì suốt ngày làm lụng vất vả lại thường bị
chồng đánh đập hành hạ, nên bà đi lại lặng lẽ người hơi né sang một bên, như sợ
chạm phải vật gì. Trên khuôn mặt còn chằng chịt vết nhăn và hơi sưng; ánh lên
đôi mắt âm u, buồn nản và lo âu như hầu hết những người đàn bà vùng ngoại ô.
Một cái sẹo sâu hoắm làm cho lông mày bên phải hơi xếch lên, và tai bên phải
giương cao hơn tai bên trái: hình như lúc nào bà cũng sợ sệt lắng nghe. Trên mái
tóc đen dày, ánh lên những cụm hoa râm. Bà là hiện thân của sự dịu dàng, buồn
bã, nhẫn nhục..
Trên đôi gò má bà, nước mắt từ từ chảy xuống.
Paven nói nhè nhẹ:
– Mẹ đừng khóc nữa! Mẹ cho con uống nước đi!
– Mẹ đi lấy nước có đá cho con nhé…
Nhưng khi bà trở lại thì Paven đã ngủ rồi. Bà đứng lặng yên một lúc nhìn
con, bình nước run run trong tay, những cục nước đá chạm vào miệng bình khẽ
kêu lanh canh. Bà đặt bình lên bàn, và lặng lẽ quỳ xuống trước tượng thánh. Các
ô cửa kính rung lên vì những tiếng kêu thét của những người say rượu. Trong
đêm thu tối mịt đầy sương mù, rên rỉ tiếng đàn ăc-coóc-đê-ông. Có người nào hát
gào lên, có người văng tục; có những giọng bực bội mệt mỏi của những người
đàn bà vang lên lo lắng…
Trong căn nhà nhỏ của gia đình Vlaxôp, cuộc sống tiếp tục, yên tĩnh và êm
đềm hơn xưa, và có phần nào hơi khác các nhà khác. Căn nhà ở ngay đầu phố,
cạnh một đường dốc ngắn nhưng dựng đứng, chạy thẳng tới một bãi lầy. Một
phần ba ngôi nhà dùng làm bếp là một căn buồng nhỏ, có ngăn một tấm vách
13
mỏng là nơi người mẹ nằm ngủ. Phần còn lại là một căn phòng vuông vắn có hai
cửa sổ; ở một góc kê chiếc giường nằm của Paven, ở góc kia, để một chiếc bàn
và hai ghế dài. Vài chiếc ghế dựa, một cái tủ thấp đựng chăn, phía trên là chiếc
gương nhỏ, một cái hòm đựng quần áo, một chiếc đồng hồ treo trên tường, và hai
tượng thánh ở một góc, toàn bộ chỉ có thế.
Paven làm tất cả những cái gì hợp với một người trai trẻ: Anh mua một chiếc
ăc-coóc-đê-ông, một chiếc áo sơ-mi ngực hồ cứng với chiếc ca vát sặc sỡ, một
đôi giày cao-su, một chiếc can, và thế là anh giống hệt những chàng trai đồng
lứa. Anh đi dự các tối vui, tập nhảy điệu quađri[1] và điệu pônka[2]. Ngày chủ
nhật, sau khi đã uống nhiều rồi, Paven về nhà, rượu vodka làm anh nôn nao khó
chịu. Hôm sau, anh thấy nhức đầu, dạ dày cháy bỏng, mặt mày tái nhợt và phờ
phạc.
Một hôm mẹ Paven hỏi:
– Thế nào, tối qua con chơi vui lắm phải không?
Paven trả lời, vẻ buồn rầu bực tức:
– Chán lắm, mẹ ạ. Rồi đây con sẽ đi câu cá thích hơn, hoặc con sẽ mua một
khẩu súng.
Paven làm việc hăng say, không hề nghỉ, mà cũng không hề bị phạt. Anh ít
nói, và đôi mắt xanh xanh, to, giống mắt mẹ, lộ vẻ bất bình. Anh không mua
súng, cũng không đi câu, nhưng ngày càng xa dần cái lối sống của bọn trai trẻ,
ngày càng ít đi dự các tối vui, hay ngày chủ nhật có đi những đâu thì cũng chơi
rồi về, chứ không uống rượu. Bà mẹ trông chừng theo dõi con luôn, thấy gương
mặt rám đen của con gầy rạc đi; đôi mắt ngày càng nghiêm nghị hơn, và đôi môi
mím lại có vẻ khắc khổ khác thường.
Trông Paven như âm thầm tức giận, hoặc sọm đi vì một bệnh gì đó. Trước
kia, bạn bè hay tới chơi với anh nhưng giờ đây không thấy anh ở nhà nữa, nên họ
cũng không đến. Bà mẹ lấy làm vui mừng thấy Paven không còn bắt chước bọn
trai trẻ ở nhà máy, nhưng khi nhận thấy con cứ tìm cách lánh xa cuộc sống u ám
chung thì mối linh cảm về một tai họa mơ hồ nào đỏ lại xâm chiếm lòng bà.
Đôi lúc bà hỏi:
– Paven, con không được khỏe, phải không con?
14
Paven trả lời:
– Không, con vẫn khỏe?
Bà thở dài, nói:
– Con gầy quá đi!
Paven bắt đầu đem sách về nhà, đọc thầm lén, và đọc xong giấu sách vào một
chỗ. Đôi khi anh chép lại một đoạn trong sách vào một mảnh giấy rồi cũng giấu
đi.
Hai mẹ con ít nói chuyện với nhau và cũng ít trông thấy nhau. Sáng sớm, anh
lặng lẽ uống chè rồi đi làm; anh về nhà ăn trưa, trong bữa ăn, hai mẹ con chỉ nói
với nhau qua loa một vài lời, rồi anh lại biến mất cho tới chiều. Tối đến, anh tắm
rửa sạch sẽ, ăn tối, rồi ngồi đọc sách rất lâu. Ngày chủ nhật anh đi từ sáng sớm,
mãi đến khuya mới về. Bà mẹ biết con đi phố, đến rạp hát, nhưng ở ngoài phố thì
chẳng thấy ai vào tìm anh. Bà cảm thấy ngày càng qua đi thì con bà càng trở nên
ít nói; đồng thời bà lại nhận thấy đôi lúc anh dùng một vài tiếng mới lạ mà bà
nghe không hiểu, còn những tiếng thô lỗ cộc cằn trước đây anh vẫn quen dùng
bỗng biến mất, không còn trong cách nói năng của anh nữa. Trong lối cư xử cũng
có những chi tiết mới làm cho bà chú ý: anh không ăn mặc chải chuốt như trước
mà là chú ý nhiều hơn đến việc giữ gìn thân thể, quần áo được sạch sẽ, đi đứng
thong dong, thư thái, và cử chỉ cũng có vẻ giản dị, nhẹ nhàng hơn trước; anh làm
cho bà mẹ lo lắng chú ý đến anh. Và trong thái độ của anh đối với mẹ cũng có cái
gì khác trước: đôi lúc anh quét căn phòng, ngày chủ nhật tự mình dọn lấy giường
nằm; nói chung, anh cố đỡ đần mẹ. Ở vùng ngoại ô này, chẳng có ai làm như thế
cả. Một hôm, anh mang về treo trên tường một bức tranh có vẽ ba người cùng đi
nói chuyện với nhau. Paven giải thích:
– Đó là Đức Chúa sống lại đang đi đến thành Emmautxơ[3].
Bà mẹ thích bức tranh, nhưng lại nghĩ thầm: “Con kính Chúa mà lại không đi
nhà thờ…”
Sách để mỗi ngày một nhiều trên cái giá đẹp do một người thợ mộc, bạn
Paven, đóng cho anh. Căn phòng trông đẹp mắt ra:
Paven gọi mẹ một cách kính cẩn, gọi bà là “bà mẹ” nhưng đôi lúc đột nhiên
anh nói với bà rất âu yếm: “Tối tay con về khuya, mẹ đừng sợ, mẹ nhé…”
15
Và bà cảm thấy những lời nói ấy có một cái gì vững chắc và nghiêm trang
khiến bà rất vui lòng.
Nhưng nỗi lo lắng của bà ngày càng tăng, và thời gian trôi qua vẫn không
làm cho bà yên tâm; bà cảm thấy có một việc gì phi thường sắp xảy ra dằn vặt
lòng bà. Đôi lúc, bà không vừa lòng con, bà nghĩ: Thiên hạ cứ sống như người
thường, mà nó thì cứ như một thầy tu…. Nó khắc khổ quá… không hợp với lứa
tuổi nó…”
Bà tự hỏi: “Hay là nó đã yêu cô nào rồi chăng?”
Nhưng muốn dính dáng đến cô nào thì cũng phải có tiền, còn Paven thì lại
đưa cho mẹ hầu hết tiền công của mình.
Hết tuần này sang tháng khác, suốt trong hai năm như thế, cuộc sống đã diễn
ra lạ lùng, thầm lặng, đầy ý nghĩ và lo âu bối rối mỗi ngày một tăng thêm.
16
Chương 4
Một buổi tối, sau bữa ăn, Paven kéo chiếc màn che cửa sổ rồi ngồi vào một
góc phòng, đọc sách dưới ngọn đèn dầu treo trên tường ngay trên đầu anh. Bà mẹ
cất dọn xong bát đĩa, ở bếp đi lên, ngập ngừng bước đến gần con. Paven ngước
mắt nhìn mẹ như muốn hỏi điều gì.
– Không… không có gì đâu…, mẹ đây, con ạ… - Bà nói xong rồi vội vã
quay đi, mắt mấp máy, vẻ bối rối. Bà đứng yên lặng một lát ở giữa bếp, suy nghĩ,
lo lắng; bà rửa tay một lúc lâu lại trở lên nhà, thì thầm hỏi con:
– Ban nãy mẹ định hỏi con, con đọc cái gì là đọc mãi thế?
Paven đặt sách xuống.
– Mẹ ngồi xuống đây, mẹ ạ…
Bà ngồi phịch xuống bên con, rồi thẳng người lên, chờ đợi một điều gì quan
trọng. Paven không nhìn mẹ, bắt đầu nói khe khẽ, nhưng giọng lại rất nghiêm
nghị, không hiểu vì sao.
– Con đọc sách cấm. Người ta cấm đọc vì những sách này nói rõ sự thật về
đời sống công nhân chúng ta… Những sách này đều in bí mật, nếu tìm ra được ở
nhà ta thì người ta sẽ bỏ tù con… bỏ tù, vì con muốn biết rõ sự thật. Mẹ hiểu
không?
Bà bỗng thấy nghẹt thở và hai mặt ngơ ngác trừng trừng nhìn con. Bà cảm
thấy con bà thay đổi khác trước và có vẻ xa lạ đối với bà. Cả giọng nói bây giờ
cũng khác, trầm hơn, chững chạc hơn, dõng dạc hơn. Anh lấy mấy ngón tay thon
thon vân vê mấy sợi ria mép mịn của người con trai mới lớn và, qua hàng lông
mày, cặp mắt anh như liếc nhìn một cách lạ lùng vào khoảng xa xăm. Bà vừa lo
sợ, vừa thương con. Bà hỏi:
– Paven, con làm như vậy để làm gì?
Anh ngẩng đầu lên, liếc nhìn mẹ là, điềm tĩnh khẽ trả lời:
– Con muốn biết rõ sự thật.
Giọng anh nói khe khẽ, nhưng rắn rỏi, đôi mắt long lanh, kiên quyết. Trong
thâm tâm, bà hiểu rằng con bà đã vĩnh viễn hiến thân cho một cái gì bí ẩn và
khủng khiếp. Trên đời, mọi việc đối với bà đều như không thể tránh khỏi được,
17
bà đã quen cúi đầu cam chịu, không bao giờ nghĩ ngợi; bà chỉ biết khóc lên, tiếng
khóc sụt sùi nhè nhẹ, không còn biết nói gì nữa, lòng thắt lại vì buồn phiền, lo âu.
– Đừng khóc nữa mẹ ạ! - Paven nói giọng âu yếm,
NGƯỜI MẸ
—★—
Tác giả: Maxim Gorky
Người dịch: Phan Thảo
Phát hành Văn Hóa Đông Tây
Nhà xuất bản Văn học - 4/2016
ebook©SACHMOI.NET
19-09-2018
Ebook miễn phí tại: www.sachmoi.net
2
Mục lục
Giới Thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Chương 32
Chương 33
Chương 34
Chương 35
3
Chương 36
Chương 37
Chương 38
Chương 39
Chương 40
Chương 41
Chương 42
Chương 43
Chương 44
Chương 45
Chương 46
Chương 47
Chương 48
Chương 49
Chương 50
Chương 51
Chương 52
Chương 53
Chương 54
Chương 55
Chương 56
Chương 57
Chương 58
4
Giới Thiệu
Người mẹ là tác phẩm viết về hiện thực xã hội nước Nga trong những năm đầu
thế kỷ 20, khi giai cấp vô sản Nga đang chuẩn bị tiến hành cuộc cách mạng Nga
lần thứ nhất. Tác phẩm vẽ ra trước mắt chúng ta bức tranh rộng lớn của xã hội
Nga những năm đầu thế kỷ 20 với cái quá khứ nặng nề trong đời sống của vợ
chồng bác công nhân Mikhain, với cái hiện tại đấu tranh gian khổ và anh dũng của
mẹ con anh công nhân Paven… Đồng thời, tiểu thuyết còn gợi lên niềm tin chắc
chắn về thắng lợi tất yếu của những người lao động chân chính với chế độ chuyên
chế. Hình ảnh kết thúc của tiểu thuyết, “cảnh người mẹ bị bắt cầm tù” gợi nên
trong lòng người đọc nhiều ám ảnh, nhiều xót xa nhưng nó làm cho người đọc lạc
quan, tin tưởng ở ngày mai.
5
Chương 1
Hàng ngày, còi nhà máy rú và rung lên trong làn khói và mùi dầu mỡ của xóm
thợ ngoại ô. Và từ những căn nhà nhỏ xám xịt những con người tiều tụy, gân cốt
còn mỏi mệt, vội vã bước ra giống những con gián ngày sợ sệt. Trong không khí
lạnh lẽo, lúc còn tranh tối tranh sáng, họ đi trên những đường phố không lát đến
cái chuồng đá cao ngất có vô số những con mắt vuông đùng đục chiếu xuống mặt
đường, đang thanh thản và lãnh đạm chờ đợi họ. Bùn bì bõm dưới chân. Những
tiếng kêu khàn khàn còn ngái ngủ vang đến tai họ, những câu chửi độc địa xé
không gian. Giờ đây, lại có những tiếng khác vang tới: tiếng máy chạy rì rầm,
tiếng hơi nước phì phò: Những ống khói cao ngất, đen ngòm, âm u và dữ tợn, in
rõ trên nền trời, chế ngự cả vùng ngoại ô, tựa những cây gậy lớn.
Chiều chiều, khi mặt trời tà rọi những tia nắng đỏ lên cửa kính các nhà thì
xưởng máy lại nhả họ từ trong lòng đá ra như nhả một thứ xỉ than, và thợ thuyền,
mặt mũi xạm khói đen, hàm răng háu đói lấp lánh, lại tỏa ra các ngả đường, để
trong không khí mùi dầu máy ẩm ướt. Bây giờ, tiếng họ trở nên sôi nổi và vui vẻ
là khác nữa; công việc khổ sai của họ ngày hôm nay đã chấm dứt, bữa ăn tối và
nghỉ ngơi đang chờ họ ở nhà.
Nhà máy đã nuốt chửng một ngày qua; máy móc đã hút từ bắp thịt con người
tất cả sinh lực cần cho nó. Ngày ấy trôi đi không còn để lại dấu vết; con người lại
bước thêm một bước nữa đến nấm mồ, nhưng cảm thấy sự nghỉ ngơi êm đềm đã
đến rất gần cùng với thú vui của quán rượu ám khói, và thế là anh ta thỏa mãn.
Ngày lễ, họ ngủ đến khoảng mười giờ, rồi những người đứng đắn, đã có vợ
con, vừa khoác bộ áo sang nhất đi lễ vừa chê trách bọn trai trẻ thờ ơ với nhà thờ.
Đi lễ về, họ ăn uống rồi ngủ cho đến chiều tối.
Sự mệt nhọc chứa chất lại trong bao năm ròng khiến họ chẳng thiết đến bữa
ăn, nên để cho ngon miệng, nhiều người uống rượu, lấy chất men nồng kích thích
dạ dày.
Tối đến, họ uể oải đi dạo phố; người có giày cao su cũng mang ra đi dù trời
khô ráo, người có ô cũng đem theo dầu trời nắng đẹp.
6
Gặp nhau, họ nói chuyện xưởng, chuyện máy móc, họ nguyền rủa bọn đốc
công. Lời nói và ý nghĩ chỉ xoay quanh công ăn việc làm hàng ngày. Họa hoằn họ
mới thốt ra được một ý nghĩ nghèo nàn, vụng về, lóe lên như một tia sáng cô đơn
vào chuỗi ngày âm u đơn điệu. Về nhà, họ cãi nhau với vợ và thường đánh đập vợ
chồng chẳng tiếc tay. Bọn trẻ thì ngồi lại ở quán cà phê hoặc tổ chức hội họp vui
chơi ở nhà nhau, kéo đàn ac-coóc-đê-ông, hát những bài tục tĩu, khiêu vũ, kể
chuyện dâm ô trụy lạc và uống rượu. Mệt lử vì công việc, họ rất dễ uống đến say;
rượu vào, họ sinh ra cáu kỉnh vô cớ, một nỗi cáu kỉnh bệnh hoạn muốn tìm một lối
thoát. Thế là, để trút hết mọi bực bội đó, chỉ vì một cớ không đâu, họ nhảy xổ vào
nhau như đàn thú dữ. Đó là những cuộc ẩu đả có máu đổ, có người bị gãy tay, què
chân, đôi khi có người thiệt mạng.
Trong quan hệ với nhau, một tinh thần hằn học chỉ chực bùng nổ, trùm lấn cả
mọi người và trở thành cố tật như sự mệt mỏi của bắp thịt họ. Họ sinh ra với cái
bệnh tâm hồn ấy, thừa kế của ông cha, nó theo chân họ xuống đến tận mồ như một
bóng đen, và khiến họ phạm những hành động xấu xa tàn bạo vô ích.
Vào ngày lễ, bọn trẻ thường về nhà rất khuya, áo quần tả tơi phủ đầy bùn và
bụi, mặt mày thâm tím. Bằng một giọng hiểm độc, họ huênh hoang về những trận
nện bạn bè; hoặc giận dữ, hay đang khóc sướt mướt vì bị nhục mạ, họ trở về say
khướt và thiểu não, khốn khổ và ghê tởm. Đôi khi, cha mẹ phải dắt con sau khi
tìm thấy con say bí tỉ, nằm chết gí bên bờ rào hay trong quán rượu; các cụ chửi
mắng, đánh đập túi bụi đứa con vẫn mê man bất tỉnh. Sau đó, ít nhiều gượng nhẹ,
lại đặt con lên giường để sáng hôm sau, đánh thức con dậy đi làm sớm, khi còi
nhà máy thét lên giận dữ, tỏa ra như một làn suối đen trong không khí.
Cha mẹ chửi mắng, đánh con thậm tệ, nhưng đối với các cụ thì việc bọn trẻ
hay rượu và thích đánh nhau dường như là điều hoàn toàn chính đáng. Hồi còn trai
trẻ, các cụ chẳng đã từng say rượu, đánh nhau và đã từng bị cha mẹ đánh đập đấy
ư? Cuộc đời là thế. Năm này qua năm khác, nó cứ đều đều và chậm rãi trôi đi như
một dòng nước đục; ngày ngày vẫn từng ấy nếp quen suy nghĩ và hành động, lâu
dài và dai dẳng. Và cũng chẳng ai có ý muốn thay đổi gì hết thảy.
Thỉnh thoảng tại vùng ngoại ô, có những người lạ mặt, không biết từ đâu đến.
Ban đầu, người ta chú ý đến họ chỉ vì họ là người lạ; sau đó, họ nói đến những nơi
họ đã từng làm việc qua nên cũng khêu gợi đôi chút tò mò của bà con; rồi dần
7
dần, người ta cũng quên đi, cái mới không còn là mới nữa, và không ai quan tâm
tới họ. Những câu chuyện họ kể nói lên một điều tất nhiên: đời người thợ ở đâu
cũng thế. Vậy còn nói tới làm gì nữa?
Nhưng đôi lúc cũng có người đến nói những chuyện còn là mới lạ đối với
vùng ngoại ô. Người ta không bàn cãi với họ, nhưng người ta cứ nghe những câu
chuyện quái gở họ kể mà không tin; những câu chuyện đó làm cho người thì ngấm
ngầm tức giận, người thì sợ sệt lo âu, một số khác thì cảm thấy xao xuyến vì một
niềm hy vọng mơ hồ, rồi càng uống rượu nhiều hơn nữa để xua đuổi cái cảm giác
vô ích bức bối đó.
Nếu dân ngoại ô nhìn thấy một người lạ mặt có điều gì kỳ lạ thì họ đối xử khá
gắt gao với người đó rất lâu và tự nhiên thấy ghê sợ, e ngại anh ta mang đến cái gì
có thể làm lối loạn sự đều đặn trong cuộc sống buồn tẻ, cơ cực nhưng yên ồn của
họ. Đã quen bị một sức mạnh bất di bất dịch đè nén, họ không trông đợi một sự
cải thiện nào và coi mọi sự thay đổi chỉ làm cho cái ách của họ càng nặng nề
thêm.
Ai nói đến chuyện gì mới lạ đều bị dân ngoại ô lặng lẽ lánh xa. Thế là những
người đó biến mất, lại lên đường tới nơi khác, hoặc nếu ở lại nhà máy, thì phải
sống riêng biệt, không tài nào hòa được vào đám đông thợ thuyền, ai cũng giống
ai hết thảy…….
Con người cứ sống như vậy chừng dăm chục năm rồi chết…..
8
Chương 2
Đó là cuộc đời của lão thợ nguội Mikhain Vlaxôp, một người mặt mày ủ ê,
lông lá bờm xờm, cặp mắt nhỏ đa nghi, dưới đôi mày rậm, với cái cười khó chịu.
Là người thợ nguội giỏi nhất nhà máy, và là tay lực sĩ vùng ngoại ô, công sá của
lão chẳng được là bao vì thái độ thô lỗ với bọn chủ. Chủ nhật nào lão cũng đánh
chí mạng một người; chẳng ai ưa lão và mọi người đều gờm lão. Đã có lần, họ thử
choảng lại lão nhưng chẳng ăn thua. Khi Vlaxôp thấy có người định đánh mình thì
lão quơ ngay lấy một hòn đá, một tấm ván, một thanh sắt và cứ thế lão dạng chân
ra, lặng lẽ chờ địch thủ. Mặt lão, từ mắt đến cổ, râu ria rậm rịt, đôi tay lông lá làm
cho ai cũng phải phát khiếp. Đáng sợ nhất là cặp mắt nhỏ và sắc cứ xoáy vào
người ta như một mũi dùi bằng thép nhọn; bắt gặp đôi mắt đó nhìn mình, người ta
có cảm tưởng như đứng trước một sức mạnh man rợ, không hề biết sợ là gì, sẵn
sàng nện không thương xót.
Vlaxôp lầm bầm:
– Cút đi, đồ chó chết!
Hàm răng to vàng khè của Vlaxôp ánh lên giữa đám râu xồm xoàm trên mặt
lão. Chửi bới lão không tiếc lời, nhưng sợ sệt, các địch thủ của lão cứ lùi dần…
– Đồ chó chết! - Vlaxôp lại quát to thêm nữa, mắt lão long lên, hung dữ, nhọn
sắc như dao. Rồi hất đầu lên, về thách thức, Vlaxôp nhìn theo bọn người đó, giọng
khiêu khích - Nào, thử xem thằng nào muốn chết?
Chẳng người nào muốn chết…
Vlaxôp vốn ít nói và tiếng đầu lưỡi của lão là “đồ chó chết”. Lão dùng tiếng
ấy để chỉ bọn đốc công trong nhà máy và bọn cảnh sát. Lão cũng dùng tiếng ấy để
nói với vợ lão:
– Đồ chó chết, chứ mày không thấy quần tao rách à?
Khi Paven, con trai lão mười bốn tuổi, có ngày lão toan túm tóc đánh. Nhưng
Paven vớ ngay được một chiếc búa tạ, nói cộc lộc:
– Đừng động tới tôi…
– Mày nói cái gì? - Vlaxôp hỏi lại, rồi tiến tới trước mặt cậu con trai cao và
mảnh khảnh, như cái bóng trùm lên một cây bạch dương non.
9
Paven nói:
– Đủ rồi! Tôi không chịu thế mãi đâu…
Rồi cậu ta vung cái búa lên.
Vlaxôp nhìn con, chắp hai tay lông lá ra sau lưng, cười gằn:
– Được…
Rồi lão nói tiếp, thở dài não nuột:
– Đồ chó chết!
Sau đó ít lâu, Vlaxôp bảo vợ:
– Đừng có hỏi tiền tao nữa. Thằng Paven nó sẽ nuôi mày…
– Vợ đánh bạo, hỏi:
– Thế bố nó định để uống rượu hết à?
– Đồ chó chết, không việc gì đến mày. Tao sẽ kiếm một con nhân tình ra trò…
Vlaxôp không kiếm một con nhân tình nào cả, nhưng từ đấy cho đến chết, có
đến gần hai năm, Vlaxôp không nhìn mặt con nữa và chẳng nói với con nửa lời.
Lão có một con chó cũng to lớn và cũng lông lá như lão. Hàng ngày, con vật
cứ đi theo lão đến nhà máy và buổi chiều chờ lão trước cổng. Ngày chủ nhật,
Vlaxôp la cà hết quán rượu này đến quán rượu khác. Lão hằm hằm bước đi, chẳng
nói chẳng rằng, mắt chằm chằm nhìn mọi người qua đường, như có vẻ tìm ai. Suốt
ngày con chó cứ chạy theo lão, cái đuôi to xù cụp xuống. Say khướt, lão về nhà
ngồi vào bàn ăn và cho con chó ăn ngay trong đĩa của lão. Lão không đánh đập nó
bao giờ, không hành hạ nó, nhưng cũng không hề vuốt ve nó. Sau bữa ăn, nếu vợ
lão chưa kịp dọn bàn, lão hắt ngay bát đĩa xuống đất, đặt một chai vodka trước
mặt, rồi lưng dựa vào tường, miệng há hốc, mắt nhắm nghiền, lão cất giọng ồ ồ,
buồn thảm, rền rĩ hát. Lời hát buồn bã và tục tĩu lúng búng trong hàng ria mép,
làm rơi xuống những mẩu bánh mì nhỏ; người thợ nguội vừa lấy mấy ngón tay thô
kệch chải vuốt bộ ria vừa hát. Lời hát khó hiểu và kéo dài ê a, điệu hát làm cho
người ta nhớ đến tiếng chó sói kêu rống mùa đông. Còn rượu trong chai là lão còn
hát; rồi lão nghiêng người thỉu đi trên chiếc ghế dài, hoặc gục đầu xuống bàn, và
cứ ngủ như thế cho đến khi có tiếng còi rúc. Con chó nằm bên cạnh lão. Vlaxôp
chết vì bệnh thoát vị. Suốt năm ngày ròng rã, lão nằm vật vã trên giường, da tái
thâm, mắt nhắm nghiền, răng nghiến ken xét. Thỉnh thoảng, lão bảo vợ…
– Đưa thuốc bả chuột, đưa thuốc độc đây cho tao…
10
Bác sĩ cho thuốc chườm chỗ đau, nhưng nói thêm rằng cần phải mổ và phải
đưa đi bệnh viện ngay hôm ấy.
Vlaxôp rít lên:
– Xéo ngay! Một mình tao cũng chết được chẳng cần đến đứa nào! Đồ chó
chết!
Sau khi bác sĩ đi khỏi, vợ lão khóc sướt mướt, van lơn lão chịu khó đi mổ. Lão
giơ nắm tay, đe vợ:
– Tao mà khỏi thì mày còn chết nữa!…
Lão chết vào một buổi sáng, giữa lúc còi tầm nhà máy rúc gọi đi làm.
Nằm trong quan tài, miệng lão há hốc nhưng lông mày thì nhíu lại cau có. Đi
chôn lão có vợ lão, con lão, con chó của lão, Đanhila Vêxôpsikôp, một tên bợm
già hay rượu đã bị đuổi ra khỏi nhà máy, và vài người cùng khốn ở vùng ngoại ô.
Vợ lão có khóc chút ít, Paven thì chẳng nhỏ được giọt nước mắt nào. Những
người gặp đám tang đi qua, dừng lại, làm dấu thánh, rồi nói với nhau:
– Lão ta chết, bà Pêlagâya ắt hẳn là bằng lòng…
Có người nói chữa lại:
– À, không phải chết, mà là trời đánh thánh vật đấy!…
Sau khi hạ huyệt, mọi người trở về nhà, nhưng con chó còn ở lại đó, nằm trên
lớp đất mới và không một tiếng sủa, đánh hơi nấm mồ rất lâu. Vài ngày sau, có
người giết chết con chó, chẳng biết ai…
11
Chương 3
Hai tuần sau ngày bố chết, vào một ngày chủ nhật, Paven Vlaxôp uống rượu
say mềm, trở về nhà. Anh lảo đảo bước vào căn phòng giữa, và cũng như bố
trước đây, đấm tay lên bàn quát mẹ:
– Cho ăn đây!
Bà mẹ đến gần ngồi xuống một bên, đưa tay choàng lấy con, kéo đầu con vào
lòng. Nhưng anh đưa tay ấn vào vai mẹ đẩy bà ra, và hét:
– Này mẹ, nhanh lên chứ….
– Thằng con dại dột của mẹ!
Bà cất giọng buồn rầu và âu yếm, cố giữ lấy tay con.
– Tôi hút thuốc đây! Mẹ đưa cái điếu của bố đây cho tôi… - Paven nói làu
nhàu, khó khăn, lưỡi líu lại.
Đấy là lần đầu tiên anh say rượu. Rượu đã làm cho người anh yếu đi, nhưng
chưa làm cho anh mất trí; một câu hỏi cứ đập vào đầu óc anh: Ta say ư? … Ta
say ư? …
Những cái vuốt ve âu yếm của mẹ làm anh xấu hổ, và đôi mắt lo buồn của bà
khiến anh động lòng. Anh muốn khóc, và để tiếng khóc khỏi bật lên, anh làm ra
bộ say nhiều hơn là say thật.
Bà mẹ vừa vuốt đầu tóc rối bù và ướt đẫm mồ hôi của con, vừa nói dịu dàng:
– Lẽ ra con không nên…
Paven thấy buồn nôn. Sau khi anh nôn dữ dội một chập, bà mẹ dìu anh lại
giường và đắp lên trên trán tái nhợt của con một chiếc khăn ướt. Paven tỉnh lại
một ít; nhưng chung quanh mọi vật đều quay tít, mi mắt nặng trĩu, miệng thấy
đắng và lờm lợm; Paven nhíu qua hàng mi khuôn mặt như to hơn thường của mẹ,
và anh có mấy ý nghĩ không mạch lạc: “Đối với mình, như thế này là sớm quá…
Người khác uống không sao, mà mình uống vào thì buồn nôn…”
Tiếng nói dịu dàng của bà mẹ lại cất lên, xa xăm:
– Con lâm vào cảnh rượu chè… thì làm sao còn nuôi nổi mẹ…
Paven nhắm mắt lại và nói:.
– Ai cũng uống cả…
12
Bà mẹ thở dài. Paven nói đúng. Bà cũng hiểu rõ rằng ngoài quán rượu ra,
người ta không có chỗ nào để tìm vui nữa, song bà vẫn trả lời:
– Con thì con không nên uống! Bố con trước kia đã uống luôn cả cho phần
con rồi, đã làm khổ mẹ khá nhiều rồi… Con cũng phải biết thương mẹ với chứ…
Paven nghe những lời nói buồn rầu và dịu dàng đó; anh nhớ lại cuộc đời âm
thầm và lặng lẽ của mẹ, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị đánh đập. Trong thời gian
vừa qua, Paven ít ở nhà để tránh gặp mặt bố; anh đã có phần quên mẹ. Và giờ
đây, dần dần tỉnh rượu, Paven nhìn mẹ chăm chú.
Bà cao lớn và lưng hơi còng; vì suốt ngày làm lụng vất vả lại thường bị
chồng đánh đập hành hạ, nên bà đi lại lặng lẽ người hơi né sang một bên, như sợ
chạm phải vật gì. Trên khuôn mặt còn chằng chịt vết nhăn và hơi sưng; ánh lên
đôi mắt âm u, buồn nản và lo âu như hầu hết những người đàn bà vùng ngoại ô.
Một cái sẹo sâu hoắm làm cho lông mày bên phải hơi xếch lên, và tai bên phải
giương cao hơn tai bên trái: hình như lúc nào bà cũng sợ sệt lắng nghe. Trên mái
tóc đen dày, ánh lên những cụm hoa râm. Bà là hiện thân của sự dịu dàng, buồn
bã, nhẫn nhục..
Trên đôi gò má bà, nước mắt từ từ chảy xuống.
Paven nói nhè nhẹ:
– Mẹ đừng khóc nữa! Mẹ cho con uống nước đi!
– Mẹ đi lấy nước có đá cho con nhé…
Nhưng khi bà trở lại thì Paven đã ngủ rồi. Bà đứng lặng yên một lúc nhìn
con, bình nước run run trong tay, những cục nước đá chạm vào miệng bình khẽ
kêu lanh canh. Bà đặt bình lên bàn, và lặng lẽ quỳ xuống trước tượng thánh. Các
ô cửa kính rung lên vì những tiếng kêu thét của những người say rượu. Trong
đêm thu tối mịt đầy sương mù, rên rỉ tiếng đàn ăc-coóc-đê-ông. Có người nào hát
gào lên, có người văng tục; có những giọng bực bội mệt mỏi của những người
đàn bà vang lên lo lắng…
Trong căn nhà nhỏ của gia đình Vlaxôp, cuộc sống tiếp tục, yên tĩnh và êm
đềm hơn xưa, và có phần nào hơi khác các nhà khác. Căn nhà ở ngay đầu phố,
cạnh một đường dốc ngắn nhưng dựng đứng, chạy thẳng tới một bãi lầy. Một
phần ba ngôi nhà dùng làm bếp là một căn buồng nhỏ, có ngăn một tấm vách
13
mỏng là nơi người mẹ nằm ngủ. Phần còn lại là một căn phòng vuông vắn có hai
cửa sổ; ở một góc kê chiếc giường nằm của Paven, ở góc kia, để một chiếc bàn
và hai ghế dài. Vài chiếc ghế dựa, một cái tủ thấp đựng chăn, phía trên là chiếc
gương nhỏ, một cái hòm đựng quần áo, một chiếc đồng hồ treo trên tường, và hai
tượng thánh ở một góc, toàn bộ chỉ có thế.
Paven làm tất cả những cái gì hợp với một người trai trẻ: Anh mua một chiếc
ăc-coóc-đê-ông, một chiếc áo sơ-mi ngực hồ cứng với chiếc ca vát sặc sỡ, một
đôi giày cao-su, một chiếc can, và thế là anh giống hệt những chàng trai đồng
lứa. Anh đi dự các tối vui, tập nhảy điệu quađri[1] và điệu pônka[2]. Ngày chủ
nhật, sau khi đã uống nhiều rồi, Paven về nhà, rượu vodka làm anh nôn nao khó
chịu. Hôm sau, anh thấy nhức đầu, dạ dày cháy bỏng, mặt mày tái nhợt và phờ
phạc.
Một hôm mẹ Paven hỏi:
– Thế nào, tối qua con chơi vui lắm phải không?
Paven trả lời, vẻ buồn rầu bực tức:
– Chán lắm, mẹ ạ. Rồi đây con sẽ đi câu cá thích hơn, hoặc con sẽ mua một
khẩu súng.
Paven làm việc hăng say, không hề nghỉ, mà cũng không hề bị phạt. Anh ít
nói, và đôi mắt xanh xanh, to, giống mắt mẹ, lộ vẻ bất bình. Anh không mua
súng, cũng không đi câu, nhưng ngày càng xa dần cái lối sống của bọn trai trẻ,
ngày càng ít đi dự các tối vui, hay ngày chủ nhật có đi những đâu thì cũng chơi
rồi về, chứ không uống rượu. Bà mẹ trông chừng theo dõi con luôn, thấy gương
mặt rám đen của con gầy rạc đi; đôi mắt ngày càng nghiêm nghị hơn, và đôi môi
mím lại có vẻ khắc khổ khác thường.
Trông Paven như âm thầm tức giận, hoặc sọm đi vì một bệnh gì đó. Trước
kia, bạn bè hay tới chơi với anh nhưng giờ đây không thấy anh ở nhà nữa, nên họ
cũng không đến. Bà mẹ lấy làm vui mừng thấy Paven không còn bắt chước bọn
trai trẻ ở nhà máy, nhưng khi nhận thấy con cứ tìm cách lánh xa cuộc sống u ám
chung thì mối linh cảm về một tai họa mơ hồ nào đỏ lại xâm chiếm lòng bà.
Đôi lúc bà hỏi:
– Paven, con không được khỏe, phải không con?
14
Paven trả lời:
– Không, con vẫn khỏe?
Bà thở dài, nói:
– Con gầy quá đi!
Paven bắt đầu đem sách về nhà, đọc thầm lén, và đọc xong giấu sách vào một
chỗ. Đôi khi anh chép lại một đoạn trong sách vào một mảnh giấy rồi cũng giấu
đi.
Hai mẹ con ít nói chuyện với nhau và cũng ít trông thấy nhau. Sáng sớm, anh
lặng lẽ uống chè rồi đi làm; anh về nhà ăn trưa, trong bữa ăn, hai mẹ con chỉ nói
với nhau qua loa một vài lời, rồi anh lại biến mất cho tới chiều. Tối đến, anh tắm
rửa sạch sẽ, ăn tối, rồi ngồi đọc sách rất lâu. Ngày chủ nhật anh đi từ sáng sớm,
mãi đến khuya mới về. Bà mẹ biết con đi phố, đến rạp hát, nhưng ở ngoài phố thì
chẳng thấy ai vào tìm anh. Bà cảm thấy ngày càng qua đi thì con bà càng trở nên
ít nói; đồng thời bà lại nhận thấy đôi lúc anh dùng một vài tiếng mới lạ mà bà
nghe không hiểu, còn những tiếng thô lỗ cộc cằn trước đây anh vẫn quen dùng
bỗng biến mất, không còn trong cách nói năng của anh nữa. Trong lối cư xử cũng
có những chi tiết mới làm cho bà chú ý: anh không ăn mặc chải chuốt như trước
mà là chú ý nhiều hơn đến việc giữ gìn thân thể, quần áo được sạch sẽ, đi đứng
thong dong, thư thái, và cử chỉ cũng có vẻ giản dị, nhẹ nhàng hơn trước; anh làm
cho bà mẹ lo lắng chú ý đến anh. Và trong thái độ của anh đối với mẹ cũng có cái
gì khác trước: đôi lúc anh quét căn phòng, ngày chủ nhật tự mình dọn lấy giường
nằm; nói chung, anh cố đỡ đần mẹ. Ở vùng ngoại ô này, chẳng có ai làm như thế
cả. Một hôm, anh mang về treo trên tường một bức tranh có vẽ ba người cùng đi
nói chuyện với nhau. Paven giải thích:
– Đó là Đức Chúa sống lại đang đi đến thành Emmautxơ[3].
Bà mẹ thích bức tranh, nhưng lại nghĩ thầm: “Con kính Chúa mà lại không đi
nhà thờ…”
Sách để mỗi ngày một nhiều trên cái giá đẹp do một người thợ mộc, bạn
Paven, đóng cho anh. Căn phòng trông đẹp mắt ra:
Paven gọi mẹ một cách kính cẩn, gọi bà là “bà mẹ” nhưng đôi lúc đột nhiên
anh nói với bà rất âu yếm: “Tối tay con về khuya, mẹ đừng sợ, mẹ nhé…”
15
Và bà cảm thấy những lời nói ấy có một cái gì vững chắc và nghiêm trang
khiến bà rất vui lòng.
Nhưng nỗi lo lắng của bà ngày càng tăng, và thời gian trôi qua vẫn không
làm cho bà yên tâm; bà cảm thấy có một việc gì phi thường sắp xảy ra dằn vặt
lòng bà. Đôi lúc, bà không vừa lòng con, bà nghĩ: Thiên hạ cứ sống như người
thường, mà nó thì cứ như một thầy tu…. Nó khắc khổ quá… không hợp với lứa
tuổi nó…”
Bà tự hỏi: “Hay là nó đã yêu cô nào rồi chăng?”
Nhưng muốn dính dáng đến cô nào thì cũng phải có tiền, còn Paven thì lại
đưa cho mẹ hầu hết tiền công của mình.
Hết tuần này sang tháng khác, suốt trong hai năm như thế, cuộc sống đã diễn
ra lạ lùng, thầm lặng, đầy ý nghĩ và lo âu bối rối mỗi ngày một tăng thêm.
16
Chương 4
Một buổi tối, sau bữa ăn, Paven kéo chiếc màn che cửa sổ rồi ngồi vào một
góc phòng, đọc sách dưới ngọn đèn dầu treo trên tường ngay trên đầu anh. Bà mẹ
cất dọn xong bát đĩa, ở bếp đi lên, ngập ngừng bước đến gần con. Paven ngước
mắt nhìn mẹ như muốn hỏi điều gì.
– Không… không có gì đâu…, mẹ đây, con ạ… - Bà nói xong rồi vội vã
quay đi, mắt mấp máy, vẻ bối rối. Bà đứng yên lặng một lát ở giữa bếp, suy nghĩ,
lo lắng; bà rửa tay một lúc lâu lại trở lên nhà, thì thầm hỏi con:
– Ban nãy mẹ định hỏi con, con đọc cái gì là đọc mãi thế?
Paven đặt sách xuống.
– Mẹ ngồi xuống đây, mẹ ạ…
Bà ngồi phịch xuống bên con, rồi thẳng người lên, chờ đợi một điều gì quan
trọng. Paven không nhìn mẹ, bắt đầu nói khe khẽ, nhưng giọng lại rất nghiêm
nghị, không hiểu vì sao.
– Con đọc sách cấm. Người ta cấm đọc vì những sách này nói rõ sự thật về
đời sống công nhân chúng ta… Những sách này đều in bí mật, nếu tìm ra được ở
nhà ta thì người ta sẽ bỏ tù con… bỏ tù, vì con muốn biết rõ sự thật. Mẹ hiểu
không?
Bà bỗng thấy nghẹt thở và hai mặt ngơ ngác trừng trừng nhìn con. Bà cảm
thấy con bà thay đổi khác trước và có vẻ xa lạ đối với bà. Cả giọng nói bây giờ
cũng khác, trầm hơn, chững chạc hơn, dõng dạc hơn. Anh lấy mấy ngón tay thon
thon vân vê mấy sợi ria mép mịn của người con trai mới lớn và, qua hàng lông
mày, cặp mắt anh như liếc nhìn một cách lạ lùng vào khoảng xa xăm. Bà vừa lo
sợ, vừa thương con. Bà hỏi:
– Paven, con làm như vậy để làm gì?
Anh ngẩng đầu lên, liếc nhìn mẹ là, điềm tĩnh khẽ trả lời:
– Con muốn biết rõ sự thật.
Giọng anh nói khe khẽ, nhưng rắn rỏi, đôi mắt long lanh, kiên quyết. Trong
thâm tâm, bà hiểu rằng con bà đã vĩnh viễn hiến thân cho một cái gì bí ẩn và
khủng khiếp. Trên đời, mọi việc đối với bà đều như không thể tránh khỏi được,
17
bà đã quen cúi đầu cam chịu, không bao giờ nghĩ ngợi; bà chỉ biết khóc lên, tiếng
khóc sụt sùi nhè nhẹ, không còn biết nói gì nữa, lòng thắt lại vì buồn phiền, lo âu.
– Đừng khóc nữa mẹ ạ! - Paven nói giọng âu yếm,
 





