Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nguyen Lam Nguoi Hoc Tro Nho Cua Bac Ho

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:31' 04-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 6
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:31' 04-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
NGUYỆN LÀM
NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ
của
NGUYỄN HẢI PHÚ
NGUYỆN LÀM
NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ
của
N H À X U ẤT B Ả N VĂ N H Ó A - VĂ N N G H Ệ
6 NGUYỄN HẢI PHÚ
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 7
LỜI TÁC GIẢ
T
hưa các đồng chí và các bạn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những vĩ
nhân của nhân loại trong thế kỷ XX. Những
người tiến bộ trên khắp các châu lục dành những lời tốt đẹp
ca ngợi Bác. Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên
hiệp quốc (UNESCO) đã vinh danh Người là Anh hùng giải
phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn của Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời tìm đường và dẫn dắt
dân tộc ta giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Công
lao của Người đối với dân tộc ta, nhân dân ta như trời biển.
Tư tưởng của Người là đuốc sáng dẫn đường cho Đảng ta,
dân tộc ta. Đức độ của Người chúng ta học suốt đời.
Hồ Chí Minh là bóng mát che chở cho từng con người
lao khổ. Người là động lực, là nguồn sống, là chỗ dựa tinh
thần và cảm hứng cho chúng ta vượt mọi khó khăn, gian
khổ, quyết chiến và quyết thắng.
Thời chiến tranh, tôi bị Mỹ bắt bỏ tù ở trại giam tù binh
Phú Quốc. Những lúc bị địch khủng bố, đánh đập, tra tấn dã
man, ác liệt, tôi nhớ đến Bác Hồ, như được Bác tiếp thêm
sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, mọi âm mưu thâm
8 NGUYỄN HẢI PHÚ
độc của kẻ thù. Nghĩ về Bác, tôi luôn vững niềm tin vào con
đường mình đã chọn, vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng
Việt Nam.
Nay nghỉ hưu, có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu về Bác,
lòng kính yêu Bác càng sâu sắc hơn. Tôi chợt nhớ câu thơ
của Tố Hữu trong bài Sáng tháng Năm: “Ta bên Người, Người
tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn ở bên Người một chút...”. Tôi
nguyện phấn đấu là một người học trò nhỏ của Bác Hồ.
Qua mấy năm chú tâm viết về Bác Hồ, về công tác xây
dựng Đảng, tôi chọn một số bài cảm thấy có chút ưng ý đã
đăng trên Tạp chí Sổ tay Xây dựng Đảng và Báo Văn nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh để in thành cuốn sách này với tâm
niệm góp phần nhỏ bé của mình vào việc quảng bá tư tưởng,
tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về công tác
xây dựng Đảng. Cuốn sách như là một sự tri ân đối với sự
giáo dục, rèn luyện của Đảng, của Bác Hồ trong suốt quá
trình phấn đấu là người đảng viên cộng sản của bản thân tôi.
Trong một số bài viết, tôi có trích dẫn một vài tư liệu
của các tác giả nghiên cứu về Bác Hồ. Do không có điều
kiện để xin ý kiến, tôi chỉ cố gắng ghi chú nguồn rõ ràng và
mong quý vị thông cảm, niệm thứ cho. Kính gửi đến các tác
giả lòng biết ơn chân thành nhất của tôi.
Rất mong được lắng nghe những ý kiến đóng góp cho
cuốn sách của quý bạn đọc.
Trân trọng.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Tư, 2016.
TÁC GIẢ
BÁC HỒ
LUÔN Ở TRONG TRÁI TIM TÔI
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 11
BÁC HỒ
LUÔN Ở TRONG TRÁI TIM TÔI
N
gày Cách mạng Tháng Tám thành công, tôi mới
có 4 tuổi, thấy các anh chị thanh niên trong làng
vác tầm vông vạt nhọn tập quân sự, đi đều một
hai, một hai, tuy chưa hiểu gì nhưng cũng thấy thích thích.
Chín năm kháng chiến chống Pháp, quê tôi nằm trong vùng
độc lập do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản
lý, tôi được học dưới mái trường cách mạng suốt các lớp
tiểu học. Lúc bấy giờ địch bao vây kinh tế vùng độc lập, có
những năm bị thiếu đói do địch tăng cường đánh phá gây
tổn thất về kinh tế nên đời sống người dân gặp nhiều khó
khăn. Nhưng ai cũng một lòng một dạ với Cụ Hồ, ủng hộ
công cuộc kháng chiến giành thắng lợi.
Quê tôi là nơi sản xuất muối, một nguồn thu tài chánh
lớn từ thuế, góp phần đáng kể cho kháng chiến. Do đó thường
xuyên có một trung đội bộ đội địa phương túc trực bảo vệ
chống địch càn lên phá hoại. Các anh bộ đội là con em của
nhân dân, họ cùng ăn cùng ở cùng làm với dân. Những dịp
12 NGUYỄN HẢI PHÚ
lễ, tết các anh dạy cho thiếu niên nhi đồng chúng tôi học hát,
múa, diễn kịch quanh đống lửa trại, thật hào hứng vui tươi.
Cùng với những bài học trong trường, tôi lớn dần từ thể chất
đến tâm hồn, gắn tình cảm với cách mạng ngày một nhiều
hơn. Thời ấy, quê tôi là vùng tự do hoàn toàn không có đồn
giặc ở gần. Chỉ lâu lâu chúng cho tàu thủy từ biển vào đổ
quân lên phá muối rồi rút xuống ngay, nên cuộc sống tuy
thiếu thốn, nhưng khá yên bình. Hình ảnh về Bác Hồ cũng
không có nhiều để treo trong nhà, chỉ có ảnh Bác trên những
tờ giấy bạc gọi là tín phiếu lưu hành ở Liên khu 5, và những
buổi lễ mới thấy có ảnh Bác và cả ảnh Các Mác, Lênin treo
trên khán đài lễ. Những bài văn về Bác cũng không nhiều, vì
tôi mới học tiểu học (sau đổi lại là cấp I).
Rồi giữa ta và Pháp ký Hiệp định Genève năm 1954, cán
bộ, bộ đội tập kết ra miền Bắc, miền Nam dưới ách thống trị
của Ngô Đình Diệm, máu người kháng chiến lại chảy dài do
bị chúng tra tấn dã man.
Những năm 1956-1961, tôi sống ở Sài Gòn, lao động
nuôi thân đi học, thấy rõ chế độ Mỹ - Diệm quá bất công,
tàn ác, người nghèo khổ càng bị bóc lột đủ điều, lòng tôi
luôn nhớ và tìm kiếm may gặp được tổ chức Học sinh Sinh
viên Giải phóng Khu Sài Gòn - Gia Định và tham gia công
tác khá sớm, năm 1961. Chính những bài hát, bài thơ cách
mạng tôi học những năm Tiểu học và khi tham gia hoạt
động cách mạng ở Sài Gòn những năm 60 đã nung nấu ý
chí, khơi dậy trong tôi tình yêu cách mạng, theo con đường
của Bác Hồ đã chọn.
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 13
Khi thoát ly ra vùng giải phóng, may mắn cho tôi được
vào công tác ở Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu Sài Gòn – Gia
Định, làm công tác in mỹ thuật nên có điều kiện tiếp xúc
nhiều tài liệu sách báo, hình ảnh về Bác Hồ. Sự kính yêu Bác
lớn dần trong tôi như nước nguồn ngày càng dâng cao trên
bước đường kháng chiến.
Cuối năm 1963, tôi bị viêm ruột thừa cấp, địch đang
càn vào vùng giải phóng, bác sĩ tập trung ra mặt trận, khi có
người mổ thì ruột thừa bị vỡ mủ, may cho tôi ruột thừa vỡ
trong lúc đang mổ nên vượt qua được tử thần, nhưng ảnh
hưởng nặng đến sức khỏe, không lao động nặng được nữa.
Năm 1964, lãnh đạo Ban Tuyên huấn Khu ủy cho tôi đi học
lớp sư phạm Trung cấp ở R, về chuyển sang công tác Giáo
dục vùng giải phóng Củ Chi.
Rồi không may, tháng 9-1967, tôi bị trực thăng đổ quân
chụp trên đường tôi đi họp, bị lọt vòng vây quân Mỹ bắt đày
ở trại giam tù binh Phú Quốc. Hơn 5 năm rưỡi trong nhà tù
Mỹ – ngụy, tôi trải qua bao lần đối mặt với quân thù. Đây
là thử thách khắc nghiệt nhất mà tôi chịu đựng. Kẻ thù luôn
tìm mọi mưu mô từ gian xảo, mua chuộc đến khủng bố, tra
tấn đánh đập dã man, nhốt chuồng cọp, biệt giam, bắn cả
vào trại giam hòng đè bẹp ý chí kháng cự của người tù quyết
trung thành với Đảng. Bản thân tôi cũng bị địch tra tấn, nhốt
biệt giam, có lúc tưởng không sống được. Nhưng mỗi lần gặp
khó khăn, gian nguy là tôi nhớ đến Bác Hồ, đọc lại những bài
thơ của Bác làm trong nhà tù Quốc Dân Đảng Trung Hoa,
những bài thơ Bác chúc Tết... tự nhiên như được Người tiếp
thêm sức lực vượt qua ác liệt. Lúc tình hình dễ thở, chúng
tôi tổ chức học văn hóa, chính trị, kỷ niệm những ngày lễ
14 NGUYỄN HẢI PHÚ
của đất nước như 2-9, 19-5 sinh nhật Bác. Trong cảnh tù đày
tuy chỉ làm kỷ niệm đơn sơ nhưng ý nghĩa thật lớn lao. Mỗi
lần tổ chức lễ trong tù là mỗi lần chúng tôi nhớ Bác, nguyện
trung thành với lý tưởng của Bác. Cũng có những anh em bị
địch tra tấn vô cùng dã man, biết không thể sống được đã
dõng dạc hô to khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm” nhiều
lần trước mặt quân thù. Những tiếng hô đó đã truyền thêm
sức mạnh cho anh em còn sống chiến đấu kiên cường, vượt
qua gian nan. Qua tôi luyện trong nanh vuốt kẻ thù, tình yêu
đối với Đảng, với Bác Hồ trong lòng tôi càng sâu đậm hơn
thêm, tôi đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của
Bác, nhờ vậy nên giữ vững được khí tiết người cộng sản cho
tới ngày được trao trả sau hiệp định Paris 1973.
Được về trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa thân yêu, điều
đầu tiên là tôi vô nhà sách mua ảnh Bác Hồ về treo ngay
ở phòng mình. Khi trở về Nam, hành trang của tôi cũng là
những tấm ảnh Bác để treo trong nhà mình và dành tặng
người thân. Suốt từ đó nhà tôi luôn có ảnh Bác treo nơi trang
trọng nhất.
Nhiều năm qua, tôi luôn tìm đọc các sách viết về Bác
Hồ để học tập và làm theo đạo đức, tác phong của Người.
Càng đọc tôi càng thấm, hiểu sâu về Bác, một con người vĩ
đại, nhưng cũng là con người đời thường hơn bất cứ người
dân thường nào trên đất nước ta. Công lao của Bác đối với
dân tộc cao như núi Thái Sơn, rộng như đại dương không
thể nào kể hết. Đức hy sinh của Bác thật vô bờ bến. Suốt
cuộc đời Bác chỉ vì dân vì nước, không bao giờ chịu hưởng
thụ cái gì làm hao tốn tiền bạc của cải nhân dân. Một lãnh
tụ mà mặc áo vá, đi dép lốp, đi xe hơi cũ, không dùng máy
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 15
lạnh điều hòa không khí, chỉ dùng quạt nan, từ chối ở nhà
lầu sang trọng, ở một căn nhà sàn bình thường như một
nông dân nghèo của bất cứ nơi nào trên đất nước ta. Người
sống quá giản dị, từ ăn mặc đến sinh hoạt đều tiết kiệm từng
đồng cho đất nước. Khi biết bộ đội phòng không trên Hội
trường Ba Đình thiếu nước uống Bác đã rút toàn bộ tiền tiết
kiệm của mình tặng bộ đội. Người không có một chút gì là
riêng tư cho bản thân! Người đã để lại một hình tượng quá
vĩ đại mà gần gũi cho chúng ta học tập noi theo. Phải nói
rằng dù học suốt đời cũng không thể nào hết được điều cần
làm theo Bác.
Học Bác những ngày còn công tác, tôi luôn tiết kiệm
không bao giờ dùng lãng phí dù chỉ là sơ ý để đèn quạt chạy
khi không làm việc. Cả một tờ giấy viết cũng theo gương
Bác, tận dụng mặt chưa viết để thảo văn bản khi làm việc.
Tôi cũng học Bác cả chuyện tận dụng bì thư đã dùng lộn mặt
trong ra dán lại dùng tiếp lần nữa. Còn sinh hoạt cá nhân
cũng luôn làm theo Bác, không bao giờ lãng phí tiền bạc khi
không cần phải mua sắm. Ngay như chuyện quần áo, tôi tận
dụng đồ cũ còn tốt mặc từ ngày nghỉ hưu tới nay đã 14 năm
không phải may nữa.
Từ khi tôi biết dùng internet vào mạng tìm tài liệu, đọc
được nhiều bài viết rất phong phú của nhiều tác giả viết về
Bác Hồ, làm cho tôi hiểu sâu sắc thêm về Bác. Nhưng cũng
gặp những bài viết của bọn chống cộng cực đoan nước ngoài,
của kẻ bất mãn trong nước xuyên tạc, bịa đặt về Bác với dụng
ý làm lu mờ hình ảnh tốt đẹp của Bác mà chúng ta đang tôn
vinh học tập. Những bịa đặt, xuyên tạc ấy quá tồi bại và đê
16 NGUYỄN HẢI PHÚ
hèn rất dễ nhận ra nên tôi cũng đủ sức phản bác và củng cố
niềm tin cho mình ngày càng vững vàng hơn.
Học và làm theo Bác, tôi thấy luôn bổ ích từ việc nhỏ
đến việc lớn, từ việc công đến việc riêng, chỉ có lợi không
có thiệt thòi gì cả. Tôi thấy vui khi học và làm được điều tốt
theo lời dạy của Bác. Vì vậy, tôi nguyện còn sống còn thở
là còn học tập và làm theo những điều Bác làm, Bác dạy.
Tình yêu của tôi đối với Bác ngày càng sâu đậm hơn, đã ăn
sâu trong huyết quản thành máu thịt của tôi, dù Bác đã đi
xa. Ngày nay, có người tuy nói học và làm theo Bác, nhưng
thực tế lại làm những điều trái với ý Bác mong, gây xấu hình
ảnh người cán bộ, đảng viên, thật là đáng khinh thay. Nhưng
những việc ấy không tác động được tôi, không giảm lòng tin
yêu của tôi đối với Bác mà càng thương nhớ Bác hơn.
Con người ai rồi cũng phải từ giã cõi đời, phải sống sao
cho trọn vẹn một lòng vì Đảng vì Bác kính yêu, để lại tiếng
thơm cho mọi người tin yêu, thế mới là người học trò nhỏ
của Bác, không phản bội Bác.
Nhớ ngày Bác Hồ qua đời 2-9-1969 – 2-9-2015.
Bác Hồ vÀ Bông Sen
N
hiều người vẫn nhớ thời thơ ấu khi cắp sách đến
trường được thầy cô giáo cho học những câu:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Trên đất nước Việt Nam từ Bắc chí Nam rất nhiều nơi
có sen – tự mọc hoặc do con người trồng. Sen được dùng
làm thực phẩm, là vị thuốc trị bệnh, hoa sen được chưng
trên bàn thờ Phật, tổ tiên những ngày đại lễ. Ở Việt Nam và
nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Hy Lạp, Ai Cập, Trung
Quốc..., bông sen được con người tôn vinh vì sự mềm mại,
thanh khiết, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” của nó.
Tại một vùng quê nghèo miền Trung nước ta, ở đây nổi
tiếng con người chịu khó, hiếu học. Nơi đây đã sản sinh rất
nhiều nhân tài cho đất nước. Một trong những người tài ba
xuất chúng đó đã có công lao vĩ đại: tìm đường, dẫn dắt dân
18 NGUYỄN HẢI PHÚ
tộc ta giành độc lập. Đó là Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Ái
Quốc – Bác Hồ kính yêu.
Có một sự trùng hợp rất thú vị về Bác Hồ với bông sen,
xin được nêu ra đây.
Hồ Chủ tịch sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo,
con cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan.
Quê Bác có cái tên Kim Liên còn gọi là làng Sen – vì ở đây
có rất nhiều sen. Chắc rằng quê hương làng Sen đã góp phần
tạo nên khí chất, nhân cách con người Hồ Chí Minh. Đó
là sự thanh cao, trong sạch, vĩ đại... được mọi người dân
Việt Nam và những người yêu chuộng hòa bình, công lý trên
thế giới tôn kính.
Chị ruột của Bác là bà Nguyễn Thị Thanh, còn có tên
là Nguyễn Thị Bạch Liên, nghĩa là sen trắng, thể hiện sự đẹp
đẽ, thanh khiết.
Ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp,
sống giữa bưng biền Đồng Tháp – dù chưa gặp Bác, chỉ nghe
qua tin tức, sách báo, qua người khác kể và đặc biệt qua thu
nhận tình cảm từ người dân Nam bộ đối với Bác, Bảo Định
Giang đã viết:
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”.
Nhà thơ đã thể hiện đúng tấm lòng của biết bao người
nên câu thơ phút chốc lan rộng rồi thành câu nói lời ca cửa
miệng của mỗi người dân Việt.
Năm 1931, Bác Hồ với cái tên Tống Văn Sơ hoạt động
cách mạng ở Hongkong (Trung Quốc). Do một cán bộ của
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 19
Quốc tế Cộng sản bị địch bắt tại Singapore làm lộ, Bác bị
cảnh sát bắt giam vào nhà tù Victoria ở Hongkong. Ông Hồ
Tùng Mậu, một người cùng quê cũng là đồng chí của Bác bị
giam ở đây, vừa được trả tự do gặp được Bác, ông Mậu có
quen biết với luật sư Loseby (Lô-dơ-bi) nên đến nhờ luật sư
giúp đỡ. Từ người chồng tiếp xúc với Bác, phu nhân của luật
sư thường đến nhà tù thăm Bác.
Một ngày nọ, bà Virginia Woolf, nữ văn sĩ, vợ của Phó
Thống đốc Hongkong Thomas Southorns là bạn thân của bà
Loseby, biết bạn mình đi tìm mua hoa sen để tặng cho một
nhà cách mạng đang ngồi tù. Đoán là chuyện ly kỳ, Woolf
mời bạn về nhà mình, bắt kể hết sự việc. Sau đó, hai người
lại ra chợ tìm mua bằng được một bó hoa sen, thứ hoa không
được ưa chuộng tại đây nên rất ít người bán... Họ vào nhà tù
mang tên nữ hoàng Anh Victoria. Nữ văn sĩ hỏi ông Tống về
sinh hoạt trong nhà tù, về đất nước Anh và về những đề nghị
giúp đỡ mà bà có thể làm được. Ông Tống thành thực cảm
ơn, nói rằng bà luật sư đã giúp đỡ ông về nhiều mặt và vì thế
không dám phiền bà Woolf nữa. Nữ văn sĩ rút trong túi xách
một chiếc lọ có sẵn nước và cắm hoa sen vào. Bà Loseby nói:
“Những bông sen này sẽ giúp ông đỡ nhớ nhà”...(1).
Chuyện nhà thơ Bảo Định Giang ví Bác Hồ với bông
sen diễn ra sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã
là lãnh tụ, nhiều người hiểu biết nhân cách của Người. Nhà
thơ viết được câu thơ trên là một sáng kiến tinh tế, một
nhận định rất đúng về Bác Hồ. Dân tộc ta hiểu lãnh tụ của
mình, đó là đương nhiên. Còn sự việc Bác đang bị giam ở
(1) Theo Lê Văn Hiếu, Bản tin Mặt trận số tháng 5-2010.
20 NGUYỄN HẢI PHÚ
Hongkong, khi đó chưa được nhiều người biết đến. Vậy mà
Bác đã được một người nước ngoài nhận rõ phẩm chất đáng
kính của Bác. (Vợ chồng luật sư Loseby là ân nhân của Bác
Hồ và của dân tộc Việt Nam vì đã có công lớn cứu Bác ra
khỏi nhà tù Victoria). Việc bà luật sư Loseby tìm mua bằng
được hoa sen để tặng Bác là hoàn toàn có dụng ý.
Cụ Nguyễn Sinh Sắc – phụ thân Bác Hồ, sau khi từ
quan (tri huyện Bình Khê – Bình Định) đã vào Phan Thiết
rồi nhiều tỉnh Nam kỳ, sang cả Phnom Pênh (Campuchia)
tìm bạn tâm giao, bàn kế cứu nước, bằng nghề coi mạch bốc
thuốc trị bệnh cứu người. Cuối cùng cụ chọn Đồng Tháp
sống đến cuối đời. Tình người, tình đất, hương sen nơi này
đã níu giữ cụ. Sen Kim Liên quê hương nơi cụ chào đời, sen
Đồng Tháp mãi mãi tỏa hương bên lăng mộ cụ.
Sen Kim Liên, sen Tháp Mười, sen Việt Nam và cả sen
nước ngoài đã gần gũi, gắn bó như tấm lòng của biết bao
người đối với người đã khai sáng dân tộc Việt từ trong nô lệ...
Ngày nay Bác Hồ đã đi xa, nhưng mỗi người dân Việt
vẫn giữ sâu nặng tình yêu quý kính trọng Người, vẫn nhớ,
vẫn hát:
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”.
Hiện nay, nhiều gia đình dành nơi trang trọng nhất
trong nhà làm bàn thờ Bác. Cứ đến ngày sinh của Bác, Lễ
độc lập 2-9, Tết Nguyên đán..., họ chưng bông sen lên bàn
thờ để nhớ công ơn của Người.
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 21
Tìm hiểu Tuyên ngôn Độc lập
M
ở đầu Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Quảng trường
Ba Đình (Hà Nội) ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh có trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của
Mỹ, của Pháp:
“Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo
hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được;
trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776
của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân
tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có
quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do...”.
Bà Lady Borton, một người Mỹ gắn bó với Việt Nam có
bài viết về Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh và Tuyên
ngôn Độc lập của Mỹ:
22 NGUYỄN HẢI PHÚ
“Bản Tuyên ngôn của Mỹ viết:
“... Chúng tôi coi đây là chân lý hiển nhiên, rằng mọi
đàn ông (tôi gạch dưới) sinh ra đều bình đẳng...”.
“We hold these truths to be self-evident, that all men
(emphasis mine) are created equal...”.
Khi Tuyên ngôn của Mỹ viết năm 1775(1), “mọi đàn ông”
(all men) là “đàn ông da trắng có sở hữu”, mà “sở hữu” lúc
đó thường là nô lệ da đen. Đàn ông da đen có quyền được đi
bầu 95 năm sau đó; phụ nữ Mỹ được đi bầu 50 năm sau nữa.
Khác với Tuyên ngôn của Mỹ, “Tuyên ngôn Độc lập” của
Hồ Chí Minh bắt đầu bằng câu:
Tất cả mọi người (tôi gạch dưới) đều sinh ra có quyền
bình đẳng...”.
“All people (emphasis mine) are created equal...”.
Hơn nữa, cách chọn từ của Hồ Chí Minh trong lời kêu
gọi của mình: “Hỡi đồng bào cả nước”, rõ ràng chỉ ra được ý
định tập hợp mọi người dân. “Đồng bào” là “cùng trong một
bọc trứng” mà theo huyền thoại gốc của Việt Nam do bà Âu
Cơ sinh ra trăm trứng, nở ra trăm người con: 50 người lên
núi và 50 người xuống đồng bằng.
(1) Theo en.wikipedia.org, Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (United States
Declaration of Independence) được viết vào khoảng tháng 6 đến đầu
tháng 7-1776, tác giả chính là Thomas Jefferson (1743 – 1826, tổng
thống thứ ba của Mỹ (1801 – 1809)). Nhưng tôn trọng tác giả, chúng tôi
vẫn trích nguyên văn lời của bà Lady Borton.
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 23
“Tuyên ngôn Độc lập” của Cụ Hồ bao hàm ngôn ngữ
tổng hợp như “dân” (people, common people); “nhân dân
(citizens) và “dân tộc” (nation, the people) cũng là từ chính
thức để chỉ bất kỳ dân tộc nào trong 54 dân tộc của Việt Nam.
Từ tiếng Việt để chỉ “đàn ông” không hề xuất hiện ở đây”.
Trước năm 1945, Việt Nam còn là một xã hội Nho giáo,
phụ nữ phải tam tòng: còn nhỏ phải theo cha, lấy chồng
phải theo chồng, khi chồng chết phải theo con trai. (Câu của
Khổng Tử: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng
tử). Người phụ nữ lúc đó không bao giờ được tự thuộc về
bản thân mình”(1).
Bà Lady Borton giải thích cho người đọc ở Mỹ rằng Bác
Hồ rất giỏi tiếng Anh không dịch sai. Cụ phân biệt được từ
“men” (đàn ông) với “people” (mọi người). “Với việc chỉ sửa
một từ trong bản dịch của mình, Cụ Hồ đã khôn khéo thông
báo được cho nhân dân của Cụ và thế giới một cuộc cách
mạng thứ hai: đó là Hồ Chí Minh đã tuyên bố độc lập cho
phụ nữ Việt Nam”.
Đúng vậy, Bác Hồ đã có nhiều năm làm việc và học
tiếng ở Anh quốc. Dụng ý của Bác còn có điều sâu sắc hơn.
Trong hành trình tìm đường cứu nước, tháng 12-1912
và đầu năm 1915, Bác đã đến nước Mỹ, chắc chắn Người
có tìm đọc “Tuyên ngôn Độc lập” nước Mỹ, nên năm 1927
với tên Lý Thụy tại Quảng Châu (Trung Quốc) sách Đường
kách mệnh viết lần đầu tiên giảng về lịch sử cách mạng Mỹ
(1) Theo Lady Borton, trích trong bài Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập
Mỹ, Tạp chí Xưa & nay, số 81B tháng 11-2000, tr.3
24 NGUYỄN HẢI PHÚ
cho lớp chiến sĩ cách mạng Việt Nam tiên phong, Bác đã ca
ngợi cuộc cách mạng 1776 vì đó thực chất là một cuộc đấu
tranh giải phóng, rồi dịch bản Tuyên ngôn bằng một lời lẽ
thật độc đáo:
“Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính
mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng. Hễ chính phủ
nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ
chính phủ ấy đi”. Nhưng Bác lại kết luận: “Nhưng bây giờ
(1927) chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách
mệnh... Mỹ tuy cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay,
nhưng công – nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ tính cách mệnh
lần thứ hai...”(1).
Những cứ liệu trên cho ta nhận thấy: khi trích dẫn từ
Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ đã được Bác chọn lọc và
dùng có chủ đích: lấy ý chính rồi nâng lên theo yêu cầu của
công cuộc cách mạng Việt Nam. Cách mạng Việt Nam có
yêu cầu cao hơn, tiến bộ hơn nên Tuyên ngôn Bác viết cũng
khác hơn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ ra đời 169 năm
trước. Đây là điểm đáng chú ý về sự tiến bộ của Tuyên ngôn
Độc lập do Hồ Chí Minh viết so với Tuyên ngôn Độc lập
của Mỹ.
Bác Hồ là người nhìn xa trông rộng, đi tiên phong và
nắm vững thời cơ giành độc lập, đưa nước ta chuyển sang
thời đại mới, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân – chế độ
(1) Theo Dương Trung Quốc, trích trong bài Bác Hồ với nước Mỹ, Tạp chí
đã dẫn, tr.7
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 25
xã hội tiến bộ nhất Đông Nam Á, trong lúc ở châu Á, châu
Phi nhiều nước còn là nô lệ của một số nước phương Tây.
Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 là một văn kiện
không chỉ có giá trị lịch sử, văn học của Việt Nam mà còn
có giá trị đối với nhiều nước, nhiều học giả tiến bộ trên thế
giới. Chúng ta có quyền tự hào về bản Tuyên ngôn bất hủ đó.
26 NGUYỄN HẢI PHÚ
Bài thơ Xuân đặc biệt
của Bác Hồ
C
ứ mỗi độ Xuân về, quân dân cả nước trông chờ
nghe Bác đọc thơ chúc Tết trên Đài Tiếng nói
Việt Nam hoặc nhận được thiệp thơ Bác chúc Tết
do các cơ quan gửi tặng.
Từ 1955, Bác Hồ luôn có thơ chúc Tết đều đặn hàng
năm. Ở miền Bắc, thiệp chúc mừng năm mới của Chủ tịch
Hồ Chí Minh do Văn Phòng Chủ tịch nước in màu đỏ, có
Quốc huy trang trọng, phát hành đến cơ sở. Ở miền Nam,
trong hoàn cảnh chiến tranh, thơ Bác do từng tỉnh in và phát
hành. Tại khu Sài Gòn – Gia Định, Ban Tuyên huấn Khu ủy
tổ chức làm thiệp thơ Bác Hồ chúc Tết rất đặc biệt để phục
vụ nhiều đối tượng khác nhau, trong đó có các trí thức, văn
nghệ sĩ... ở nội thành. Từ ngày 1-1 Dương lịch, thơ Bác đã
được gửi vào theo đường vô tuyến. Trước tiên anh Đoàn Vi
Đức (Sáu Tích), tổ trưởng tổ in litho, người viết chữ rất đẹp
được vinh dự viết trên giấy bóng cứng, chữ to. Kế đến anh
Tư Họa (Đào Hữu Phước – họa sĩ) kẻ chữ nhan đề và trang
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 27
trí ảnh Bác. Sau cùng đến anh Dương Thanh Phong (Hai
Hình), tổ trưởng tổ nhiếp ảnh chụp lại, in trên giấy ảnh, làm
ra hàng loạt nhỏ bằng tấm danh thiếp, vừa gọn, đẹp, dễ cất
giữ, khi cần lấy ra xem để nhớ và làm theo lời dạy của Bác
nên ai được tấm thiệp thơ chúc Tết của Bác Hồ là vui lắm.
Đây là món quà quý không phải ai cũng có (số lượng có hạn,
không đủ cho tất cả).
Ở chung với các anh, một căn cứ trong rừng mấy năm,
tôi nhận công tác mới đi nơi khác, nhưng Tết năm nào các
anh cũng gửi tặng tôi thiệp thơ Bác Hồ chúc Tết đều đặn.
Trước Tết Mậu Thân 1968, trực thăng Mỹ đổ quân, lọt vòng
vây, tôi bị bắt, địch giam ở Phú Quốc.
Bài thơ Xuân năm 1969 của Bác Hồ được anh em mới
vào truyền lại:
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên, chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.
Bài thơ đã góp phần củng cố niềm tin, tiếp sức cho
chúng tôi thêm vững vàng vượt qua mọi âm mưu thâm độc
của quân thù, chiến thắng trở về với Đảng với dân sau Hiệp
định Paris đầu năm 1973.
Sau ngày giải phóng miền Nam gặp lại anh Hai Hình,
anh nói: “Từ năm 1970 mình vẫn in bài thơ Bác Hồ chúc Tết
năm 1969 để mọi người nhớ lời Bác, hoàn thành nhiệm vụ
28 NGUYỄN HẢI PHÚ
Bác trao”. Bài thơ “cũ” của Bác, nhưng với cán bộ, chiến sĩ ở
chiến trường, nhân dân ở hậu phương vẫn còn mới. Bác như
vẫn đi thăm ruộng đồng, nhà máy. Bác cùng các đoàn quân ra
mặt trận. Bác đang thúc giục mọi người xông lên chiến đấu...
Mỗi năm trong thơ chúc Tết, Bác đề ra nhiệm vụ để toàn
Đảng, toàn quân, toàn dân cần phấn đấu thực hiện. Đến bài
thơ Xuân 1969, trước khi đi xa, Bác đã nói rất rõ chiến lược
giải phóng miền Nam. Thực tế chiến đấu diễn ra đúng như
lời Bác: “Đánh cho Mỹ cút” đầu năm 1973, rồi tiếp “đánh
cho ngụy nhào” ngày 30-4-1975. Cuộc chiến vô cùng ác liệt,
vùng giải phóng Củ Chi (Gia Định), Bến Cát (Bình Dương),
Trảng Bàng (Tây Ninh), Mỹ dùng máy bay rải chất độc hóa
học, cho xe ủi phát quang cây cối, hầm bí mật nhiều nơi bị
đánh sập chôn vùi nhiều thứ quý giá. Dù vậy, đến ngày đại
thắng, nhiều người còn giữ được tấm thiệp thơ Bác Hồ chúc
Tết do các anh làm từ năm 1969. Cầm tấm thiệp mới chụp
lại do anh Hai Hình tặng, tôi thật cảm động. Tôi nhớ những
kỷ niệm sống, công tác cùng các anh thời gian khổ, thương
tiếc anh Sáu Tích, Tư Họa đã hy sinh vì bom đạn Mỹ!
Bác đã đi xa, nhưng Bác vẫn đang dõi theo công cuộc
xây dựng để đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Lời Bác
vẫn vang vọng khi cán bộ, chiến sĩ, nhân dân làm tốt công
việc, Bác thường nói: “Thế là tốt...”
Bài thơ chúc Tết năm 1969 của Bác Hồ có tính lịch sử
đặc biệt. Đó là bài thơ cuối cùng của Bác, Bác chỉ “đường đi
nước bước” rõ ràng nhất. Bài thơ được dùng lại nhiều lần
vào Tết sau để hiệu triệu tiếp mọi người nhiệm vụ giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ Quốc. Đây cũng là lời “Di chúc
bằng thơ” Bác để lại cho chúng ta trước lúc đi xa!.
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 29
BÁC HỒ Ở PÁC BÓ
N
gày 28-1-1941, Bác Hồ về nước qua cột mốc 108,
thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng,
ở tại nhà ông Máy Lì, một cơ sở của cách mạng.
Sau mấy ngày thấy bất tiện, Bác bàn tìm chỗ vào ở núi.
Theo Hồi ký của đồng chí Lê Quảng Ba, người đã theo
dẫn đường Bác về nước và bảo vệ Bác thời gian ở Pác Bó.
“Bác Hồ đã chỉ thị cho chúng tôi phải nghiên cứu từng nơi
làm việc cho thích hợp, kín đáo hơn. Bác nói đại ý: “Ở đây
dựa vào dân thì có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có cái không
lợi cả cho yêu cầu hoạt động bí mật của ta mà cũng không
tiện cho sinh hoạt của dân, nên phải “sáu sán” thôi... “Sáu
sán” tiếng địa phương có nghĩa là vào núi. Mà đã vào núi thì
phải ở hang hoặc dựng lán... Bác đã hỏi ông Máy Lì ở đây có
chỗ nào mưa không hắt tới không? Như vậy chúng tôi hiểu
ý Bác là phải ở hang. Chúng tôi bàn cách tìm hang. Cụ Máy
Lì cho biết, gia đình cụ có một cái hang sâu và rất kín dùng
lánh nạn khi có phỉ về cướp, giết người. Cụ đưa chúng tôi và
Bác đi xem. Xem hang nhà cụ Máy Lì, Bác ưng ngay. Chúng
30 NGUYỄN HẢI PHÚ
tôi quyết định tiến hành công tác chuẩn bị vào hang. Anh
Phùng Chí Kiên giao cho tôi (Lê Quảng Ba) liên hệ với cơ sở
để chuẩn bị các thứ. Anh Cáp, anh Lộc được phân công trở
lại hang nghiên cứu thêm lối vào, đường ra và tình hình cụ
thể trong hang.
Cụ Máy Lì cho chúng tôi mượn năm tấm ván gỗ nghiến.
Ván hơi ngắn nên khi kê để ngủ phải nằm hơi co mới đủ chỗ
cho năm người. Chúng tôi chặt cây làm một cái giá trên có
líp nứa để Bác và anh em đặt túi đựng quần áo.
Cùng ở hang có có các anh Phùng Chí Kiên, Hoàng
Sâm, Thế An, anh Cáp, anh Lộc và tôi. Nhóm công tác của
chúng tôi do anh Phùng Chí Kiên phụ trách, còn các anh
Quốc Vân, Đức Thanh (tức Đàm Minh Viễn) là đường dây
liên lạc và đồng thời phụ trách lực lượng vũ trang bảo vệ
vòng ngoài.
Ở hang được ít lâu, chúng tôi thấy trong người rất mệt.
Sức khỏe của Bác lúc đó cũng không được tốt lắm. Người
gầy, nước da xấu, ăn uống kham khổ mà Bác lại làm việc
căng thẳng nên chúng tôi rất lo.
Tuy nói là bảo vệ Bác, nhưng thực chất Bác là người
dạy chúng tôi rất nhiều trong công tác bảo vệ. Bác quan tâm
giáo dục chúng tôi rất chi li từng việc rất bổ ích. Những việc
tiếp xúc với dân trước hết phải được nhân dân quý mến, tin
tưởng nhưng đồng thời phải hóa trang hợp lý để đảm bảo
giữ bí mật công việc cách mạng đang làm. Và thực tế chúng
tôi đã làm tốt lời Bác dạy. Những cơ sở cách mạng ở vùng
Pác Bó ngay cả như anh Đại Lâm cũng chỉ biết là có cán bộ
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 31
Trung ương quan trọng về nhưng không biết có bao nhiêu
người, cụ thể là ai, hiện nay ở đâu.
Còn chuyện nhận lương thực do dân giúp đỡ, Bác dạy
mỗi lúc phải có giờ giấc, cách làm cách đi lại khác nhau
không để địch nắm được quy luật hoạt động của ta, ngày
nhận lương thực chuyển đến phải luôn thay đổi, mang lương
thực trên đường phải hóa trang hợp lý và đường đi phải có
hướng thay đổi luôn. Gạo và muối do các cơ sở vận động
quyên góp không nên tập trung để ở một nhà, phải phân tán
mỗi nơi một ít. Đồ dùng cho hậu cần mượn của dân phải mỗi
nhà một thứ, thậm chí có thứ phải mượn nhiều nhà... Bác kể
cho chúng tôi nghe rất nhiều những mẩu chuyện về đời hoạt
động của Bác khi còn ở nước ngoài, nội dung mỗi chuyện
tuy xảy ra ở các nước khác nhau nhưng đều nhằm giáo dục
chúng tôi ý thức giữ bí mật. Cuối cùng Bác dạy: “Trong điều
kiện và hoàn cảnh cách mạng nước ta hiện nay, bí mật phải
được coi là nguyên tắc trong mọi hoạt động của Đảng...”.
Pác Bó lúc đó là khu vực an toàn hơn các khu vực khác
trong vùng, nhưng là nơi kẻ địch luôn dòm ngó, tìm kiếm,
tổ chức phục kích các ngả đường nghi có cán bộ ta đi qua.
Cách nơi Bác ở về phía bản Lũng mười cây số, chúng dựng
đồn với hơn một trung đội lính dõng do Pháp chỉ huy tổ
chức tuần tra, kiểm soát, bắt bớ hoặc càn quét những bản
nghi có cán bộ ta hoạt động. Đồng thời hoạt động của bọn
phỉ này rất táo tợn nên chúng tôi cũng lo lắng, trăn trở về
nhiệm vụ bảo vệ Bác.
Hằng ngày, sau giờ làm việc buổi chiều, Bác thường đi
dạo leo núi, nhưng thực ra Bác đi nắm tình hình khu vực,
32 NGUYỄN HẢI PHÚ
phần lớn anh em chúng tôi hoạt động ở vùng này lâu nay
quen với lội suối trèo đèo nhưng đôi lúc phải vừa đi, vừa
chạy mới theo kịp Bác. Có nhiều việc rất đơn giản nhưng
Bác hỏi, anh em chúng tôi không trả lời được. Cũng có việc
chúng tôi đã làm nhưng khi nghe Bác giảng giải mới biết
mình còn đơn giản và khờ dại quá. Ý thức cảnh giác có nghĩ
đến nhưng cách giữ bí mật còn tùy tiện, non kém. Bác dạy
chúng tôi hoạt động ở vùng núi, dân thưa, khi đi công tác tốt
...
NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ
của
NGUYỄN HẢI PHÚ
NGUYỆN LÀM
NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ
của
N H À X U ẤT B Ả N VĂ N H Ó A - VĂ N N G H Ệ
6 NGUYỄN HẢI PHÚ
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 7
LỜI TÁC GIẢ
T
hưa các đồng chí và các bạn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những vĩ
nhân của nhân loại trong thế kỷ XX. Những
người tiến bộ trên khắp các châu lục dành những lời tốt đẹp
ca ngợi Bác. Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên
hiệp quốc (UNESCO) đã vinh danh Người là Anh hùng giải
phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn của Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời tìm đường và dẫn dắt
dân tộc ta giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Công
lao của Người đối với dân tộc ta, nhân dân ta như trời biển.
Tư tưởng của Người là đuốc sáng dẫn đường cho Đảng ta,
dân tộc ta. Đức độ của Người chúng ta học suốt đời.
Hồ Chí Minh là bóng mát che chở cho từng con người
lao khổ. Người là động lực, là nguồn sống, là chỗ dựa tinh
thần và cảm hứng cho chúng ta vượt mọi khó khăn, gian
khổ, quyết chiến và quyết thắng.
Thời chiến tranh, tôi bị Mỹ bắt bỏ tù ở trại giam tù binh
Phú Quốc. Những lúc bị địch khủng bố, đánh đập, tra tấn dã
man, ác liệt, tôi nhớ đến Bác Hồ, như được Bác tiếp thêm
sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, mọi âm mưu thâm
8 NGUYỄN HẢI PHÚ
độc của kẻ thù. Nghĩ về Bác, tôi luôn vững niềm tin vào con
đường mình đã chọn, vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng
Việt Nam.
Nay nghỉ hưu, có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu về Bác,
lòng kính yêu Bác càng sâu sắc hơn. Tôi chợt nhớ câu thơ
của Tố Hữu trong bài Sáng tháng Năm: “Ta bên Người, Người
tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn ở bên Người một chút...”. Tôi
nguyện phấn đấu là một người học trò nhỏ của Bác Hồ.
Qua mấy năm chú tâm viết về Bác Hồ, về công tác xây
dựng Đảng, tôi chọn một số bài cảm thấy có chút ưng ý đã
đăng trên Tạp chí Sổ tay Xây dựng Đảng và Báo Văn nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh để in thành cuốn sách này với tâm
niệm góp phần nhỏ bé của mình vào việc quảng bá tư tưởng,
tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về công tác
xây dựng Đảng. Cuốn sách như là một sự tri ân đối với sự
giáo dục, rèn luyện của Đảng, của Bác Hồ trong suốt quá
trình phấn đấu là người đảng viên cộng sản của bản thân tôi.
Trong một số bài viết, tôi có trích dẫn một vài tư liệu
của các tác giả nghiên cứu về Bác Hồ. Do không có điều
kiện để xin ý kiến, tôi chỉ cố gắng ghi chú nguồn rõ ràng và
mong quý vị thông cảm, niệm thứ cho. Kính gửi đến các tác
giả lòng biết ơn chân thành nhất của tôi.
Rất mong được lắng nghe những ý kiến đóng góp cho
cuốn sách của quý bạn đọc.
Trân trọng.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Tư, 2016.
TÁC GIẢ
BÁC HỒ
LUÔN Ở TRONG TRÁI TIM TÔI
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 11
BÁC HỒ
LUÔN Ở TRONG TRÁI TIM TÔI
N
gày Cách mạng Tháng Tám thành công, tôi mới
có 4 tuổi, thấy các anh chị thanh niên trong làng
vác tầm vông vạt nhọn tập quân sự, đi đều một
hai, một hai, tuy chưa hiểu gì nhưng cũng thấy thích thích.
Chín năm kháng chiến chống Pháp, quê tôi nằm trong vùng
độc lập do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản
lý, tôi được học dưới mái trường cách mạng suốt các lớp
tiểu học. Lúc bấy giờ địch bao vây kinh tế vùng độc lập, có
những năm bị thiếu đói do địch tăng cường đánh phá gây
tổn thất về kinh tế nên đời sống người dân gặp nhiều khó
khăn. Nhưng ai cũng một lòng một dạ với Cụ Hồ, ủng hộ
công cuộc kháng chiến giành thắng lợi.
Quê tôi là nơi sản xuất muối, một nguồn thu tài chánh
lớn từ thuế, góp phần đáng kể cho kháng chiến. Do đó thường
xuyên có một trung đội bộ đội địa phương túc trực bảo vệ
chống địch càn lên phá hoại. Các anh bộ đội là con em của
nhân dân, họ cùng ăn cùng ở cùng làm với dân. Những dịp
12 NGUYỄN HẢI PHÚ
lễ, tết các anh dạy cho thiếu niên nhi đồng chúng tôi học hát,
múa, diễn kịch quanh đống lửa trại, thật hào hứng vui tươi.
Cùng với những bài học trong trường, tôi lớn dần từ thể chất
đến tâm hồn, gắn tình cảm với cách mạng ngày một nhiều
hơn. Thời ấy, quê tôi là vùng tự do hoàn toàn không có đồn
giặc ở gần. Chỉ lâu lâu chúng cho tàu thủy từ biển vào đổ
quân lên phá muối rồi rút xuống ngay, nên cuộc sống tuy
thiếu thốn, nhưng khá yên bình. Hình ảnh về Bác Hồ cũng
không có nhiều để treo trong nhà, chỉ có ảnh Bác trên những
tờ giấy bạc gọi là tín phiếu lưu hành ở Liên khu 5, và những
buổi lễ mới thấy có ảnh Bác và cả ảnh Các Mác, Lênin treo
trên khán đài lễ. Những bài văn về Bác cũng không nhiều, vì
tôi mới học tiểu học (sau đổi lại là cấp I).
Rồi giữa ta và Pháp ký Hiệp định Genève năm 1954, cán
bộ, bộ đội tập kết ra miền Bắc, miền Nam dưới ách thống trị
của Ngô Đình Diệm, máu người kháng chiến lại chảy dài do
bị chúng tra tấn dã man.
Những năm 1956-1961, tôi sống ở Sài Gòn, lao động
nuôi thân đi học, thấy rõ chế độ Mỹ - Diệm quá bất công,
tàn ác, người nghèo khổ càng bị bóc lột đủ điều, lòng tôi
luôn nhớ và tìm kiếm may gặp được tổ chức Học sinh Sinh
viên Giải phóng Khu Sài Gòn - Gia Định và tham gia công
tác khá sớm, năm 1961. Chính những bài hát, bài thơ cách
mạng tôi học những năm Tiểu học và khi tham gia hoạt
động cách mạng ở Sài Gòn những năm 60 đã nung nấu ý
chí, khơi dậy trong tôi tình yêu cách mạng, theo con đường
của Bác Hồ đã chọn.
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 13
Khi thoát ly ra vùng giải phóng, may mắn cho tôi được
vào công tác ở Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu Sài Gòn – Gia
Định, làm công tác in mỹ thuật nên có điều kiện tiếp xúc
nhiều tài liệu sách báo, hình ảnh về Bác Hồ. Sự kính yêu Bác
lớn dần trong tôi như nước nguồn ngày càng dâng cao trên
bước đường kháng chiến.
Cuối năm 1963, tôi bị viêm ruột thừa cấp, địch đang
càn vào vùng giải phóng, bác sĩ tập trung ra mặt trận, khi có
người mổ thì ruột thừa bị vỡ mủ, may cho tôi ruột thừa vỡ
trong lúc đang mổ nên vượt qua được tử thần, nhưng ảnh
hưởng nặng đến sức khỏe, không lao động nặng được nữa.
Năm 1964, lãnh đạo Ban Tuyên huấn Khu ủy cho tôi đi học
lớp sư phạm Trung cấp ở R, về chuyển sang công tác Giáo
dục vùng giải phóng Củ Chi.
Rồi không may, tháng 9-1967, tôi bị trực thăng đổ quân
chụp trên đường tôi đi họp, bị lọt vòng vây quân Mỹ bắt đày
ở trại giam tù binh Phú Quốc. Hơn 5 năm rưỡi trong nhà tù
Mỹ – ngụy, tôi trải qua bao lần đối mặt với quân thù. Đây
là thử thách khắc nghiệt nhất mà tôi chịu đựng. Kẻ thù luôn
tìm mọi mưu mô từ gian xảo, mua chuộc đến khủng bố, tra
tấn đánh đập dã man, nhốt chuồng cọp, biệt giam, bắn cả
vào trại giam hòng đè bẹp ý chí kháng cự của người tù quyết
trung thành với Đảng. Bản thân tôi cũng bị địch tra tấn, nhốt
biệt giam, có lúc tưởng không sống được. Nhưng mỗi lần gặp
khó khăn, gian nguy là tôi nhớ đến Bác Hồ, đọc lại những bài
thơ của Bác làm trong nhà tù Quốc Dân Đảng Trung Hoa,
những bài thơ Bác chúc Tết... tự nhiên như được Người tiếp
thêm sức lực vượt qua ác liệt. Lúc tình hình dễ thở, chúng
tôi tổ chức học văn hóa, chính trị, kỷ niệm những ngày lễ
14 NGUYỄN HẢI PHÚ
của đất nước như 2-9, 19-5 sinh nhật Bác. Trong cảnh tù đày
tuy chỉ làm kỷ niệm đơn sơ nhưng ý nghĩa thật lớn lao. Mỗi
lần tổ chức lễ trong tù là mỗi lần chúng tôi nhớ Bác, nguyện
trung thành với lý tưởng của Bác. Cũng có những anh em bị
địch tra tấn vô cùng dã man, biết không thể sống được đã
dõng dạc hô to khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm” nhiều
lần trước mặt quân thù. Những tiếng hô đó đã truyền thêm
sức mạnh cho anh em còn sống chiến đấu kiên cường, vượt
qua gian nan. Qua tôi luyện trong nanh vuốt kẻ thù, tình yêu
đối với Đảng, với Bác Hồ trong lòng tôi càng sâu đậm hơn
thêm, tôi đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của
Bác, nhờ vậy nên giữ vững được khí tiết người cộng sản cho
tới ngày được trao trả sau hiệp định Paris 1973.
Được về trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa thân yêu, điều
đầu tiên là tôi vô nhà sách mua ảnh Bác Hồ về treo ngay
ở phòng mình. Khi trở về Nam, hành trang của tôi cũng là
những tấm ảnh Bác để treo trong nhà mình và dành tặng
người thân. Suốt từ đó nhà tôi luôn có ảnh Bác treo nơi trang
trọng nhất.
Nhiều năm qua, tôi luôn tìm đọc các sách viết về Bác
Hồ để học tập và làm theo đạo đức, tác phong của Người.
Càng đọc tôi càng thấm, hiểu sâu về Bác, một con người vĩ
đại, nhưng cũng là con người đời thường hơn bất cứ người
dân thường nào trên đất nước ta. Công lao của Bác đối với
dân tộc cao như núi Thái Sơn, rộng như đại dương không
thể nào kể hết. Đức hy sinh của Bác thật vô bờ bến. Suốt
cuộc đời Bác chỉ vì dân vì nước, không bao giờ chịu hưởng
thụ cái gì làm hao tốn tiền bạc của cải nhân dân. Một lãnh
tụ mà mặc áo vá, đi dép lốp, đi xe hơi cũ, không dùng máy
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 15
lạnh điều hòa không khí, chỉ dùng quạt nan, từ chối ở nhà
lầu sang trọng, ở một căn nhà sàn bình thường như một
nông dân nghèo của bất cứ nơi nào trên đất nước ta. Người
sống quá giản dị, từ ăn mặc đến sinh hoạt đều tiết kiệm từng
đồng cho đất nước. Khi biết bộ đội phòng không trên Hội
trường Ba Đình thiếu nước uống Bác đã rút toàn bộ tiền tiết
kiệm của mình tặng bộ đội. Người không có một chút gì là
riêng tư cho bản thân! Người đã để lại một hình tượng quá
vĩ đại mà gần gũi cho chúng ta học tập noi theo. Phải nói
rằng dù học suốt đời cũng không thể nào hết được điều cần
làm theo Bác.
Học Bác những ngày còn công tác, tôi luôn tiết kiệm
không bao giờ dùng lãng phí dù chỉ là sơ ý để đèn quạt chạy
khi không làm việc. Cả một tờ giấy viết cũng theo gương
Bác, tận dụng mặt chưa viết để thảo văn bản khi làm việc.
Tôi cũng học Bác cả chuyện tận dụng bì thư đã dùng lộn mặt
trong ra dán lại dùng tiếp lần nữa. Còn sinh hoạt cá nhân
cũng luôn làm theo Bác, không bao giờ lãng phí tiền bạc khi
không cần phải mua sắm. Ngay như chuyện quần áo, tôi tận
dụng đồ cũ còn tốt mặc từ ngày nghỉ hưu tới nay đã 14 năm
không phải may nữa.
Từ khi tôi biết dùng internet vào mạng tìm tài liệu, đọc
được nhiều bài viết rất phong phú của nhiều tác giả viết về
Bác Hồ, làm cho tôi hiểu sâu sắc thêm về Bác. Nhưng cũng
gặp những bài viết của bọn chống cộng cực đoan nước ngoài,
của kẻ bất mãn trong nước xuyên tạc, bịa đặt về Bác với dụng
ý làm lu mờ hình ảnh tốt đẹp của Bác mà chúng ta đang tôn
vinh học tập. Những bịa đặt, xuyên tạc ấy quá tồi bại và đê
16 NGUYỄN HẢI PHÚ
hèn rất dễ nhận ra nên tôi cũng đủ sức phản bác và củng cố
niềm tin cho mình ngày càng vững vàng hơn.
Học và làm theo Bác, tôi thấy luôn bổ ích từ việc nhỏ
đến việc lớn, từ việc công đến việc riêng, chỉ có lợi không
có thiệt thòi gì cả. Tôi thấy vui khi học và làm được điều tốt
theo lời dạy của Bác. Vì vậy, tôi nguyện còn sống còn thở
là còn học tập và làm theo những điều Bác làm, Bác dạy.
Tình yêu của tôi đối với Bác ngày càng sâu đậm hơn, đã ăn
sâu trong huyết quản thành máu thịt của tôi, dù Bác đã đi
xa. Ngày nay, có người tuy nói học và làm theo Bác, nhưng
thực tế lại làm những điều trái với ý Bác mong, gây xấu hình
ảnh người cán bộ, đảng viên, thật là đáng khinh thay. Nhưng
những việc ấy không tác động được tôi, không giảm lòng tin
yêu của tôi đối với Bác mà càng thương nhớ Bác hơn.
Con người ai rồi cũng phải từ giã cõi đời, phải sống sao
cho trọn vẹn một lòng vì Đảng vì Bác kính yêu, để lại tiếng
thơm cho mọi người tin yêu, thế mới là người học trò nhỏ
của Bác, không phản bội Bác.
Nhớ ngày Bác Hồ qua đời 2-9-1969 – 2-9-2015.
Bác Hồ vÀ Bông Sen
N
hiều người vẫn nhớ thời thơ ấu khi cắp sách đến
trường được thầy cô giáo cho học những câu:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Trên đất nước Việt Nam từ Bắc chí Nam rất nhiều nơi
có sen – tự mọc hoặc do con người trồng. Sen được dùng
làm thực phẩm, là vị thuốc trị bệnh, hoa sen được chưng
trên bàn thờ Phật, tổ tiên những ngày đại lễ. Ở Việt Nam và
nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Hy Lạp, Ai Cập, Trung
Quốc..., bông sen được con người tôn vinh vì sự mềm mại,
thanh khiết, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” của nó.
Tại một vùng quê nghèo miền Trung nước ta, ở đây nổi
tiếng con người chịu khó, hiếu học. Nơi đây đã sản sinh rất
nhiều nhân tài cho đất nước. Một trong những người tài ba
xuất chúng đó đã có công lao vĩ đại: tìm đường, dẫn dắt dân
18 NGUYỄN HẢI PHÚ
tộc ta giành độc lập. Đó là Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Ái
Quốc – Bác Hồ kính yêu.
Có một sự trùng hợp rất thú vị về Bác Hồ với bông sen,
xin được nêu ra đây.
Hồ Chủ tịch sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo,
con cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan.
Quê Bác có cái tên Kim Liên còn gọi là làng Sen – vì ở đây
có rất nhiều sen. Chắc rằng quê hương làng Sen đã góp phần
tạo nên khí chất, nhân cách con người Hồ Chí Minh. Đó
là sự thanh cao, trong sạch, vĩ đại... được mọi người dân
Việt Nam và những người yêu chuộng hòa bình, công lý trên
thế giới tôn kính.
Chị ruột của Bác là bà Nguyễn Thị Thanh, còn có tên
là Nguyễn Thị Bạch Liên, nghĩa là sen trắng, thể hiện sự đẹp
đẽ, thanh khiết.
Ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp,
sống giữa bưng biền Đồng Tháp – dù chưa gặp Bác, chỉ nghe
qua tin tức, sách báo, qua người khác kể và đặc biệt qua thu
nhận tình cảm từ người dân Nam bộ đối với Bác, Bảo Định
Giang đã viết:
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”.
Nhà thơ đã thể hiện đúng tấm lòng của biết bao người
nên câu thơ phút chốc lan rộng rồi thành câu nói lời ca cửa
miệng của mỗi người dân Việt.
Năm 1931, Bác Hồ với cái tên Tống Văn Sơ hoạt động
cách mạng ở Hongkong (Trung Quốc). Do một cán bộ của
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 19
Quốc tế Cộng sản bị địch bắt tại Singapore làm lộ, Bác bị
cảnh sát bắt giam vào nhà tù Victoria ở Hongkong. Ông Hồ
Tùng Mậu, một người cùng quê cũng là đồng chí của Bác bị
giam ở đây, vừa được trả tự do gặp được Bác, ông Mậu có
quen biết với luật sư Loseby (Lô-dơ-bi) nên đến nhờ luật sư
giúp đỡ. Từ người chồng tiếp xúc với Bác, phu nhân của luật
sư thường đến nhà tù thăm Bác.
Một ngày nọ, bà Virginia Woolf, nữ văn sĩ, vợ của Phó
Thống đốc Hongkong Thomas Southorns là bạn thân của bà
Loseby, biết bạn mình đi tìm mua hoa sen để tặng cho một
nhà cách mạng đang ngồi tù. Đoán là chuyện ly kỳ, Woolf
mời bạn về nhà mình, bắt kể hết sự việc. Sau đó, hai người
lại ra chợ tìm mua bằng được một bó hoa sen, thứ hoa không
được ưa chuộng tại đây nên rất ít người bán... Họ vào nhà tù
mang tên nữ hoàng Anh Victoria. Nữ văn sĩ hỏi ông Tống về
sinh hoạt trong nhà tù, về đất nước Anh và về những đề nghị
giúp đỡ mà bà có thể làm được. Ông Tống thành thực cảm
ơn, nói rằng bà luật sư đã giúp đỡ ông về nhiều mặt và vì thế
không dám phiền bà Woolf nữa. Nữ văn sĩ rút trong túi xách
một chiếc lọ có sẵn nước và cắm hoa sen vào. Bà Loseby nói:
“Những bông sen này sẽ giúp ông đỡ nhớ nhà”...(1).
Chuyện nhà thơ Bảo Định Giang ví Bác Hồ với bông
sen diễn ra sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã
là lãnh tụ, nhiều người hiểu biết nhân cách của Người. Nhà
thơ viết được câu thơ trên là một sáng kiến tinh tế, một
nhận định rất đúng về Bác Hồ. Dân tộc ta hiểu lãnh tụ của
mình, đó là đương nhiên. Còn sự việc Bác đang bị giam ở
(1) Theo Lê Văn Hiếu, Bản tin Mặt trận số tháng 5-2010.
20 NGUYỄN HẢI PHÚ
Hongkong, khi đó chưa được nhiều người biết đến. Vậy mà
Bác đã được một người nước ngoài nhận rõ phẩm chất đáng
kính của Bác. (Vợ chồng luật sư Loseby là ân nhân của Bác
Hồ và của dân tộc Việt Nam vì đã có công lớn cứu Bác ra
khỏi nhà tù Victoria). Việc bà luật sư Loseby tìm mua bằng
được hoa sen để tặng Bác là hoàn toàn có dụng ý.
Cụ Nguyễn Sinh Sắc – phụ thân Bác Hồ, sau khi từ
quan (tri huyện Bình Khê – Bình Định) đã vào Phan Thiết
rồi nhiều tỉnh Nam kỳ, sang cả Phnom Pênh (Campuchia)
tìm bạn tâm giao, bàn kế cứu nước, bằng nghề coi mạch bốc
thuốc trị bệnh cứu người. Cuối cùng cụ chọn Đồng Tháp
sống đến cuối đời. Tình người, tình đất, hương sen nơi này
đã níu giữ cụ. Sen Kim Liên quê hương nơi cụ chào đời, sen
Đồng Tháp mãi mãi tỏa hương bên lăng mộ cụ.
Sen Kim Liên, sen Tháp Mười, sen Việt Nam và cả sen
nước ngoài đã gần gũi, gắn bó như tấm lòng của biết bao
người đối với người đã khai sáng dân tộc Việt từ trong nô lệ...
Ngày nay Bác Hồ đã đi xa, nhưng mỗi người dân Việt
vẫn giữ sâu nặng tình yêu quý kính trọng Người, vẫn nhớ,
vẫn hát:
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”.
Hiện nay, nhiều gia đình dành nơi trang trọng nhất
trong nhà làm bàn thờ Bác. Cứ đến ngày sinh của Bác, Lễ
độc lập 2-9, Tết Nguyên đán..., họ chưng bông sen lên bàn
thờ để nhớ công ơn của Người.
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 21
Tìm hiểu Tuyên ngôn Độc lập
M
ở đầu Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Quảng trường
Ba Đình (Hà Nội) ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh có trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của
Mỹ, của Pháp:
“Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo
hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được;
trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776
của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân
tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có
quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do...”.
Bà Lady Borton, một người Mỹ gắn bó với Việt Nam có
bài viết về Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh và Tuyên
ngôn Độc lập của Mỹ:
22 NGUYỄN HẢI PHÚ
“Bản Tuyên ngôn của Mỹ viết:
“... Chúng tôi coi đây là chân lý hiển nhiên, rằng mọi
đàn ông (tôi gạch dưới) sinh ra đều bình đẳng...”.
“We hold these truths to be self-evident, that all men
(emphasis mine) are created equal...”.
Khi Tuyên ngôn của Mỹ viết năm 1775(1), “mọi đàn ông”
(all men) là “đàn ông da trắng có sở hữu”, mà “sở hữu” lúc
đó thường là nô lệ da đen. Đàn ông da đen có quyền được đi
bầu 95 năm sau đó; phụ nữ Mỹ được đi bầu 50 năm sau nữa.
Khác với Tuyên ngôn của Mỹ, “Tuyên ngôn Độc lập” của
Hồ Chí Minh bắt đầu bằng câu:
Tất cả mọi người (tôi gạch dưới) đều sinh ra có quyền
bình đẳng...”.
“All people (emphasis mine) are created equal...”.
Hơn nữa, cách chọn từ của Hồ Chí Minh trong lời kêu
gọi của mình: “Hỡi đồng bào cả nước”, rõ ràng chỉ ra được ý
định tập hợp mọi người dân. “Đồng bào” là “cùng trong một
bọc trứng” mà theo huyền thoại gốc của Việt Nam do bà Âu
Cơ sinh ra trăm trứng, nở ra trăm người con: 50 người lên
núi và 50 người xuống đồng bằng.
(1) Theo en.wikipedia.org, Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (United States
Declaration of Independence) được viết vào khoảng tháng 6 đến đầu
tháng 7-1776, tác giả chính là Thomas Jefferson (1743 – 1826, tổng
thống thứ ba của Mỹ (1801 – 1809)). Nhưng tôn trọng tác giả, chúng tôi
vẫn trích nguyên văn lời của bà Lady Borton.
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 23
“Tuyên ngôn Độc lập” của Cụ Hồ bao hàm ngôn ngữ
tổng hợp như “dân” (people, common people); “nhân dân
(citizens) và “dân tộc” (nation, the people) cũng là từ chính
thức để chỉ bất kỳ dân tộc nào trong 54 dân tộc của Việt Nam.
Từ tiếng Việt để chỉ “đàn ông” không hề xuất hiện ở đây”.
Trước năm 1945, Việt Nam còn là một xã hội Nho giáo,
phụ nữ phải tam tòng: còn nhỏ phải theo cha, lấy chồng
phải theo chồng, khi chồng chết phải theo con trai. (Câu của
Khổng Tử: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng
tử). Người phụ nữ lúc đó không bao giờ được tự thuộc về
bản thân mình”(1).
Bà Lady Borton giải thích cho người đọc ở Mỹ rằng Bác
Hồ rất giỏi tiếng Anh không dịch sai. Cụ phân biệt được từ
“men” (đàn ông) với “people” (mọi người). “Với việc chỉ sửa
một từ trong bản dịch của mình, Cụ Hồ đã khôn khéo thông
báo được cho nhân dân của Cụ và thế giới một cuộc cách
mạng thứ hai: đó là Hồ Chí Minh đã tuyên bố độc lập cho
phụ nữ Việt Nam”.
Đúng vậy, Bác Hồ đã có nhiều năm làm việc và học
tiếng ở Anh quốc. Dụng ý của Bác còn có điều sâu sắc hơn.
Trong hành trình tìm đường cứu nước, tháng 12-1912
và đầu năm 1915, Bác đã đến nước Mỹ, chắc chắn Người
có tìm đọc “Tuyên ngôn Độc lập” nước Mỹ, nên năm 1927
với tên Lý Thụy tại Quảng Châu (Trung Quốc) sách Đường
kách mệnh viết lần đầu tiên giảng về lịch sử cách mạng Mỹ
(1) Theo Lady Borton, trích trong bài Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập
Mỹ, Tạp chí Xưa & nay, số 81B tháng 11-2000, tr.3
24 NGUYỄN HẢI PHÚ
cho lớp chiến sĩ cách mạng Việt Nam tiên phong, Bác đã ca
ngợi cuộc cách mạng 1776 vì đó thực chất là một cuộc đấu
tranh giải phóng, rồi dịch bản Tuyên ngôn bằng một lời lẽ
thật độc đáo:
“Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính
mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng. Hễ chính phủ
nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ
chính phủ ấy đi”. Nhưng Bác lại kết luận: “Nhưng bây giờ
(1927) chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách
mệnh... Mỹ tuy cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay,
nhưng công – nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ tính cách mệnh
lần thứ hai...”(1).
Những cứ liệu trên cho ta nhận thấy: khi trích dẫn từ
Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ đã được Bác chọn lọc và
dùng có chủ đích: lấy ý chính rồi nâng lên theo yêu cầu của
công cuộc cách mạng Việt Nam. Cách mạng Việt Nam có
yêu cầu cao hơn, tiến bộ hơn nên Tuyên ngôn Bác viết cũng
khác hơn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ ra đời 169 năm
trước. Đây là điểm đáng chú ý về sự tiến bộ của Tuyên ngôn
Độc lập do Hồ Chí Minh viết so với Tuyên ngôn Độc lập
của Mỹ.
Bác Hồ là người nhìn xa trông rộng, đi tiên phong và
nắm vững thời cơ giành độc lập, đưa nước ta chuyển sang
thời đại mới, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân – chế độ
(1) Theo Dương Trung Quốc, trích trong bài Bác Hồ với nước Mỹ, Tạp chí
đã dẫn, tr.7
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 25
xã hội tiến bộ nhất Đông Nam Á, trong lúc ở châu Á, châu
Phi nhiều nước còn là nô lệ của một số nước phương Tây.
Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 là một văn kiện
không chỉ có giá trị lịch sử, văn học của Việt Nam mà còn
có giá trị đối với nhiều nước, nhiều học giả tiến bộ trên thế
giới. Chúng ta có quyền tự hào về bản Tuyên ngôn bất hủ đó.
26 NGUYỄN HẢI PHÚ
Bài thơ Xuân đặc biệt
của Bác Hồ
C
ứ mỗi độ Xuân về, quân dân cả nước trông chờ
nghe Bác đọc thơ chúc Tết trên Đài Tiếng nói
Việt Nam hoặc nhận được thiệp thơ Bác chúc Tết
do các cơ quan gửi tặng.
Từ 1955, Bác Hồ luôn có thơ chúc Tết đều đặn hàng
năm. Ở miền Bắc, thiệp chúc mừng năm mới của Chủ tịch
Hồ Chí Minh do Văn Phòng Chủ tịch nước in màu đỏ, có
Quốc huy trang trọng, phát hành đến cơ sở. Ở miền Nam,
trong hoàn cảnh chiến tranh, thơ Bác do từng tỉnh in và phát
hành. Tại khu Sài Gòn – Gia Định, Ban Tuyên huấn Khu ủy
tổ chức làm thiệp thơ Bác Hồ chúc Tết rất đặc biệt để phục
vụ nhiều đối tượng khác nhau, trong đó có các trí thức, văn
nghệ sĩ... ở nội thành. Từ ngày 1-1 Dương lịch, thơ Bác đã
được gửi vào theo đường vô tuyến. Trước tiên anh Đoàn Vi
Đức (Sáu Tích), tổ trưởng tổ in litho, người viết chữ rất đẹp
được vinh dự viết trên giấy bóng cứng, chữ to. Kế đến anh
Tư Họa (Đào Hữu Phước – họa sĩ) kẻ chữ nhan đề và trang
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 27
trí ảnh Bác. Sau cùng đến anh Dương Thanh Phong (Hai
Hình), tổ trưởng tổ nhiếp ảnh chụp lại, in trên giấy ảnh, làm
ra hàng loạt nhỏ bằng tấm danh thiếp, vừa gọn, đẹp, dễ cất
giữ, khi cần lấy ra xem để nhớ và làm theo lời dạy của Bác
nên ai được tấm thiệp thơ chúc Tết của Bác Hồ là vui lắm.
Đây là món quà quý không phải ai cũng có (số lượng có hạn,
không đủ cho tất cả).
Ở chung với các anh, một căn cứ trong rừng mấy năm,
tôi nhận công tác mới đi nơi khác, nhưng Tết năm nào các
anh cũng gửi tặng tôi thiệp thơ Bác Hồ chúc Tết đều đặn.
Trước Tết Mậu Thân 1968, trực thăng Mỹ đổ quân, lọt vòng
vây, tôi bị bắt, địch giam ở Phú Quốc.
Bài thơ Xuân năm 1969 của Bác Hồ được anh em mới
vào truyền lại:
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên, chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.
Bài thơ đã góp phần củng cố niềm tin, tiếp sức cho
chúng tôi thêm vững vàng vượt qua mọi âm mưu thâm độc
của quân thù, chiến thắng trở về với Đảng với dân sau Hiệp
định Paris đầu năm 1973.
Sau ngày giải phóng miền Nam gặp lại anh Hai Hình,
anh nói: “Từ năm 1970 mình vẫn in bài thơ Bác Hồ chúc Tết
năm 1969 để mọi người nhớ lời Bác, hoàn thành nhiệm vụ
28 NGUYỄN HẢI PHÚ
Bác trao”. Bài thơ “cũ” của Bác, nhưng với cán bộ, chiến sĩ ở
chiến trường, nhân dân ở hậu phương vẫn còn mới. Bác như
vẫn đi thăm ruộng đồng, nhà máy. Bác cùng các đoàn quân ra
mặt trận. Bác đang thúc giục mọi người xông lên chiến đấu...
Mỗi năm trong thơ chúc Tết, Bác đề ra nhiệm vụ để toàn
Đảng, toàn quân, toàn dân cần phấn đấu thực hiện. Đến bài
thơ Xuân 1969, trước khi đi xa, Bác đã nói rất rõ chiến lược
giải phóng miền Nam. Thực tế chiến đấu diễn ra đúng như
lời Bác: “Đánh cho Mỹ cút” đầu năm 1973, rồi tiếp “đánh
cho ngụy nhào” ngày 30-4-1975. Cuộc chiến vô cùng ác liệt,
vùng giải phóng Củ Chi (Gia Định), Bến Cát (Bình Dương),
Trảng Bàng (Tây Ninh), Mỹ dùng máy bay rải chất độc hóa
học, cho xe ủi phát quang cây cối, hầm bí mật nhiều nơi bị
đánh sập chôn vùi nhiều thứ quý giá. Dù vậy, đến ngày đại
thắng, nhiều người còn giữ được tấm thiệp thơ Bác Hồ chúc
Tết do các anh làm từ năm 1969. Cầm tấm thiệp mới chụp
lại do anh Hai Hình tặng, tôi thật cảm động. Tôi nhớ những
kỷ niệm sống, công tác cùng các anh thời gian khổ, thương
tiếc anh Sáu Tích, Tư Họa đã hy sinh vì bom đạn Mỹ!
Bác đã đi xa, nhưng Bác vẫn đang dõi theo công cuộc
xây dựng để đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Lời Bác
vẫn vang vọng khi cán bộ, chiến sĩ, nhân dân làm tốt công
việc, Bác thường nói: “Thế là tốt...”
Bài thơ chúc Tết năm 1969 của Bác Hồ có tính lịch sử
đặc biệt. Đó là bài thơ cuối cùng của Bác, Bác chỉ “đường đi
nước bước” rõ ràng nhất. Bài thơ được dùng lại nhiều lần
vào Tết sau để hiệu triệu tiếp mọi người nhiệm vụ giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ Quốc. Đây cũng là lời “Di chúc
bằng thơ” Bác để lại cho chúng ta trước lúc đi xa!.
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 29
BÁC HỒ Ở PÁC BÓ
N
gày 28-1-1941, Bác Hồ về nước qua cột mốc 108,
thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng,
ở tại nhà ông Máy Lì, một cơ sở của cách mạng.
Sau mấy ngày thấy bất tiện, Bác bàn tìm chỗ vào ở núi.
Theo Hồi ký của đồng chí Lê Quảng Ba, người đã theo
dẫn đường Bác về nước và bảo vệ Bác thời gian ở Pác Bó.
“Bác Hồ đã chỉ thị cho chúng tôi phải nghiên cứu từng nơi
làm việc cho thích hợp, kín đáo hơn. Bác nói đại ý: “Ở đây
dựa vào dân thì có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có cái không
lợi cả cho yêu cầu hoạt động bí mật của ta mà cũng không
tiện cho sinh hoạt của dân, nên phải “sáu sán” thôi... “Sáu
sán” tiếng địa phương có nghĩa là vào núi. Mà đã vào núi thì
phải ở hang hoặc dựng lán... Bác đã hỏi ông Máy Lì ở đây có
chỗ nào mưa không hắt tới không? Như vậy chúng tôi hiểu
ý Bác là phải ở hang. Chúng tôi bàn cách tìm hang. Cụ Máy
Lì cho biết, gia đình cụ có một cái hang sâu và rất kín dùng
lánh nạn khi có phỉ về cướp, giết người. Cụ đưa chúng tôi và
Bác đi xem. Xem hang nhà cụ Máy Lì, Bác ưng ngay. Chúng
30 NGUYỄN HẢI PHÚ
tôi quyết định tiến hành công tác chuẩn bị vào hang. Anh
Phùng Chí Kiên giao cho tôi (Lê Quảng Ba) liên hệ với cơ sở
để chuẩn bị các thứ. Anh Cáp, anh Lộc được phân công trở
lại hang nghiên cứu thêm lối vào, đường ra và tình hình cụ
thể trong hang.
Cụ Máy Lì cho chúng tôi mượn năm tấm ván gỗ nghiến.
Ván hơi ngắn nên khi kê để ngủ phải nằm hơi co mới đủ chỗ
cho năm người. Chúng tôi chặt cây làm một cái giá trên có
líp nứa để Bác và anh em đặt túi đựng quần áo.
Cùng ở hang có có các anh Phùng Chí Kiên, Hoàng
Sâm, Thế An, anh Cáp, anh Lộc và tôi. Nhóm công tác của
chúng tôi do anh Phùng Chí Kiên phụ trách, còn các anh
Quốc Vân, Đức Thanh (tức Đàm Minh Viễn) là đường dây
liên lạc và đồng thời phụ trách lực lượng vũ trang bảo vệ
vòng ngoài.
Ở hang được ít lâu, chúng tôi thấy trong người rất mệt.
Sức khỏe của Bác lúc đó cũng không được tốt lắm. Người
gầy, nước da xấu, ăn uống kham khổ mà Bác lại làm việc
căng thẳng nên chúng tôi rất lo.
Tuy nói là bảo vệ Bác, nhưng thực chất Bác là người
dạy chúng tôi rất nhiều trong công tác bảo vệ. Bác quan tâm
giáo dục chúng tôi rất chi li từng việc rất bổ ích. Những việc
tiếp xúc với dân trước hết phải được nhân dân quý mến, tin
tưởng nhưng đồng thời phải hóa trang hợp lý để đảm bảo
giữ bí mật công việc cách mạng đang làm. Và thực tế chúng
tôi đã làm tốt lời Bác dạy. Những cơ sở cách mạng ở vùng
Pác Bó ngay cả như anh Đại Lâm cũng chỉ biết là có cán bộ
NGUYỆN LÀM NGƯỜI HỌC TRÒ NHỎ CỦA BÁC HỒ 31
Trung ương quan trọng về nhưng không biết có bao nhiêu
người, cụ thể là ai, hiện nay ở đâu.
Còn chuyện nhận lương thực do dân giúp đỡ, Bác dạy
mỗi lúc phải có giờ giấc, cách làm cách đi lại khác nhau
không để địch nắm được quy luật hoạt động của ta, ngày
nhận lương thực chuyển đến phải luôn thay đổi, mang lương
thực trên đường phải hóa trang hợp lý và đường đi phải có
hướng thay đổi luôn. Gạo và muối do các cơ sở vận động
quyên góp không nên tập trung để ở một nhà, phải phân tán
mỗi nơi một ít. Đồ dùng cho hậu cần mượn của dân phải mỗi
nhà một thứ, thậm chí có thứ phải mượn nhiều nhà... Bác kể
cho chúng tôi nghe rất nhiều những mẩu chuyện về đời hoạt
động của Bác khi còn ở nước ngoài, nội dung mỗi chuyện
tuy xảy ra ở các nước khác nhau nhưng đều nhằm giáo dục
chúng tôi ý thức giữ bí mật. Cuối cùng Bác dạy: “Trong điều
kiện và hoàn cảnh cách mạng nước ta hiện nay, bí mật phải
được coi là nguyên tắc trong mọi hoạt động của Đảng...”.
Pác Bó lúc đó là khu vực an toàn hơn các khu vực khác
trong vùng, nhưng là nơi kẻ địch luôn dòm ngó, tìm kiếm,
tổ chức phục kích các ngả đường nghi có cán bộ ta đi qua.
Cách nơi Bác ở về phía bản Lũng mười cây số, chúng dựng
đồn với hơn một trung đội lính dõng do Pháp chỉ huy tổ
chức tuần tra, kiểm soát, bắt bớ hoặc càn quét những bản
nghi có cán bộ ta hoạt động. Đồng thời hoạt động của bọn
phỉ này rất táo tợn nên chúng tôi cũng lo lắng, trăn trở về
nhiệm vụ bảo vệ Bác.
Hằng ngày, sau giờ làm việc buổi chiều, Bác thường đi
dạo leo núi, nhưng thực ra Bác đi nắm tình hình khu vực,
32 NGUYỄN HẢI PHÚ
phần lớn anh em chúng tôi hoạt động ở vùng này lâu nay
quen với lội suối trèo đèo nhưng đôi lúc phải vừa đi, vừa
chạy mới theo kịp Bác. Có nhiều việc rất đơn giản nhưng
Bác hỏi, anh em chúng tôi không trả lời được. Cũng có việc
chúng tôi đã làm nhưng khi nghe Bác giảng giải mới biết
mình còn đơn giản và khờ dại quá. Ý thức cảnh giác có nghĩ
đến nhưng cách giữ bí mật còn tùy tiện, non kém. Bác dạy
chúng tôi hoạt động ở vùng núi, dân thưa, khi đi công tác tốt
...
 





