Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Những cánh thư hè

- 0 / 0
Nguồn: https://sachmoi.net
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 10h:19' 09-12-2025
Dung lượng: 632.5 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 10h:19' 09-12-2025
Dung lượng: 632.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
1
Mục Lục:
ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU.
CON DÊ CỦA ÔNG SEGUIN.
CƠN HẤP HỐI CỦA CHIẾC SÉMILLANTE.
BÍ MẬT CỦA LÃO CORNILLE.
NHỮNG VÌ SAO.
CON LỪA CỦA GIÁO CHỦ.
CÁI CHẾT CỦA THÁI TỬ.
HẢI ĐĂNG ĐẢO SANGUINAIRES.
2
ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU.
Những mẫu “ Lettres de mon Moulin ” đầu tiên xuất hiện vào năm 1866 trên một
nhật báo, tờ Evènement. Khi in thành sách ba năm sau, chúng chỉ mới gồm 19
truyện. Về sau (đến năm 1884 ) lại thêm năm truyện nữa với đề tài hơi khác ( Les
Étoiles, Les Douaniers, En Camargue, Les Vieux, Les Trois Messe Basse )
Đây là những câu chuyện đươc mơ tưởng, được viết ra trong một máy xay gió già
nua, tác giả đã ngông mà mua về. Trong giai phẩm con con này, người ta tìm được
đặc tính, vừa của miền Nam nước Pháp, vừa của cả nước Pháp, tác phẩm vừa có
tính cách địa phương, vừa đại đồng, chan chứa tình nhân loại man mác….hương
đồng nội.
Nhà phê bình Lanson cho Alphonse Daudet có biệt tài trong việc miêu tả những gì
lưu luyến đến thiện cảm của mình. Mà Daudet thì tất cả đều khiến cho ông lưu
luyến. Ông có thiện cảm với kẻ nghèo, với thú vật, với cây cỏ, với vạn vật. Đâu
đâu trong mỗi trang, mỗi hàng, ông cũng trút ra một ít lòng mình. Nhưng dù là ký
ức, chuyện xưa, thần thoại hay chỉ là chỉ là những hình ảnh tầm thường rút trong
kho truyện cổ của miền Nam Pháp hay xuất phát từ tâm hồn thi sĩ, điều học được
hay điều nghe thấy, điều tưởng tượng, luôn luôn chúng là những điều rung cảm
chân thành. “ Les Lettres de mon Moulin ” có giá trị nhất và trước tiên nhờ vào
hình thức. Lời văn có mùi vị của rượu ngọt, của bó hoa, ngay cả thể văn cũng súc
tích nhiều hình ảnh đẹp. Bây giờ “ Les Lettres de mon Moulin ” là một tác phẩm
cho học sinh học trong trường, ngang hàng với Fables của La Fontaine và truyện
cổ của Perrault.
Chúng tôi rút bảy truyện thường cho đọc hơn hết trong lớp và thoát dịch chữ “ Les
Lettres de mon Moulin ” thành “ Những cánh thư hè ” gởi đến bạn đọc xa gần.
SAIGON. Năm 1974.
3
CON DÊ CỦA ÔNG SEGUIN.
LA CHÉVRE DE M.SEGUIN.
Mãi mãi rồi anh cũng sẽ không đổi tính, anh Gringoire
[1]
ạ.
Sao! Người ta cho anh một chân ký giả trong một nhật báo giá trị ở Paris, thế mà
anh cả gan từ chối….Nhưng anh hãy nhìn cái áo thủng kìa, cái quần xốc xếch kìa,
gương mặt gầy kêu đói kìa. Ấy thế mà, đấy là nơi mà sự say sưa những vần thơ
đẹp đưa anh đến! Đấy mười năm tận tụy phụng sự thi ca để rồi chỉ có được bấy
nhiêu. Mãi rồi anh không xấu hổ ư?
Anh đi làm ký giả đi, đồ ngu! Anh làm ký giả đi! Anh sẽ lãnh được những đồng
tiền hoa đẹp, anh ăn ở nhà hàng Brébant, và anh có thể hiện diện trong các buổi
[2]
công diễn đầu
, với ngòi bút mới giắt trên mũ bẹt.
Không à? Anh không muốn à? Anh muốn sống tự do tuỳ thích cho đến suốt cuộc
đời ư? Vậy, anh hãy nghe qua câu chuyện “ Con dê của ông Seguin ”. Rồi anh sẽ
thấy muốn sống tự do có lợi hại gì.
Ông Seguin không lần nào được may mắn với bầy dê.
Ông mất chúng cùng một cách như nhau; một buổi sáng đẹp trời, chúng bứt đứt
dây, đi lên núi, và trên ấy, chó sói ăn thịt chúng. Không có những cái vuốt ve của
chủ, không nỗi sợ chó sói, không gì giữ chúng. Hình như đó là những con dê độc
lập muốn sống tự do, giữa khoảng trời to rộng với bất cứ giá nào.
Ông Seguin tốt bụng, không hiểu tí gì về tính tình mấy con vật của mình, lấy làm
buồn khổ lắm.
Ông nói:
- Thế là xong, dê chán ở nhà ta, ta sẽ không giữ được con nào.
Tuy vậy, ông không nản lòng. Và sau khi mất sáu con dê cũng cùng một cách
như nhau, ông bèn mua một con thứ bảy. Có điều phen này, ông cẩn thận lựa con
4
thật nhỏ để nó dễ quen ở lại nhà ông hơn.
Ôi! Gringoire ạ, con dê con của ông Seguin xinh làm sao? Nó xinh làm sao với
đôi mắt dịu hiền, chòm râu con ngạo nghễ, đôi vó đen và bóng, đôi sừng có vằn
ngang và lớp lông dài trắng như cái áo choàng phủ ngoài thân mình nó. Nó cũng
gần dễ thương như con dê nhỏ của Esméralda, anh có nhớ không, Gringoire? Và
lại ngoan, mơn trớn, để cho vắt sữa mà không động đậy, không đặt chân vào đĩa
ăn. Một con dê thật đáng yêu….
Sau nhà ông Seguin có một thửa vườn với vòng rào hoa trắng. Ông để cô khách
mới của mình ở đó. Ông cột nó vào một cây nọc, ở nơi đẹp nhất của sân cỏ, cẩn
thận để cho nó một quãng dây dài và thỉnh thoảng ông đến thăm chừng xem nó có
vừa ý không. Con dê rất lấy làm sung sướng và gặm cỏ một cách sẵn lòng quá,
khiến ông Seguin vui dạ. Tội nghiệp, ông nghĩ:
- Hừ, mãi tới giờ mới có một con không chán nhà mình.
Ông Seguin lầm, con dê của ông đâm chán.
Một hôm nó nhìn ngọn núi, tự nhủ:
- Trên ấy hẳn phải là thích lắm; tung tăng trên bãi cỏ hoang không có cái sợi dây
quái ác này cưa cổ mình thì thật là thú! Lừa hay bò gặm cỏ trong một vòng rào thì
được. Với dê, cần phải có nơi khoáng đạt cho chúng.
Từ khi ấy, cỏ trong vòng rào đối với nó có vẻ nhạt nhẽo. Nó đâm chán nản. Nó
gầy dần, sữa ít đi. Nhìn nó mà thương hại, suốt ngày nó kéo căng sợi dây, đầu
quay nhìn về phía núi, mũi hỉnh ra, miệng kêu bê bê…một cách buồn bã.
Ông Seguin thấy rõ con dê của mình có một cái gì, nhưng ông không biết cái gì đó
như thế nào….Một buổi sáng, ông vừa vắt sữa xong, dê quay lại ông và nói bằng
thổ ngữ của nó:
- Ông nghe tôi, ông Seguin ạ. Tôi chết mòn ở nhà ông, ông hãy cho tôi lên núi đi.
Ông Seguin kinh ngạc, kêu lên:
- Trời ơi! Cả nó nữa – và thoắt cái ông đánh rơi cái đĩa; rồi ngồi phệt xuống cỏ
5
bên cạnh dê, ông hỏi:
- Sao, Blanquette, mày muốn bỏ tao à?
Và Blanquette đáp:
- Phải, ông Seguin ạ.
- Ở đây mày thiếu cỏ ư?
- Không phải thế đâu ông.
- Hay có lẽ dây cột mày ngắn quá, mày có muốn tao nới dài ra không?
- Không phải phiền, ông Seguin ạ.
- Thế mày cần gì? Mày muốn gì?
- Thưa ông Seguin tôi muốn đi lên núi.
- Nhưng, khốn nạn, mày không biết trên núi có chó sói sao? Khi nó đến, mày sẽ
làm gì?
- Thưa ông Seguin, tôi sẽ húc nó.
- Sói nó sợ quái gì sừng của mày. Nó ăn mất của tao nhiều con dê sừng mạnh hơn
mày….Mày biết đấy, con dê Renaude già ở đây năm rồi. Nó đánh nhau với sói
suốt đêm…rồi đến sáng sói ăn nó mất.
- Tội nghiệp bà Renaude. Nhưng không sao ông Seguin ạ, ông hãy để cho tôi lên
núi đi.
- Chúa ơi! Sao mấy con dê của tôi lại lạ vậy – ông Seguin nói - Lại thêm một con
sắp bị sói ăn mất của tôi thôi. Hừ không, không được. Dù mày không muốn, tao
vẫn cứu mày, con khốn! Và để phòng mày bứt đứt dây, tao đem nhốt mày trong
chuồng và mày sẽ ở mãi trong đó.
Nói xong ông Seguin mang dê vào một cái chuồng tối đen, ông khoá trái cửa
lại. Không may, ông quên mất cửa sổ và ông vừa quay lưng là con bé bỏ đi.
6
Anh cười, phải không Gringoire? Phải tôi tin thế; anh thì anh theo phe dê chống
lại ông Seguin tử tế….Rồi lát nữa, xem anh có cười không.
Khi con dê trắng lên núi, ai nấy đều vui thích. Không bao giờ, mấy bác thông già
lại thấy con vật xinh xắn như vậy. Người ta tiếp đón nó như một bà hoàng nho
nhỏ. Bọn cây dẻ cúi sát xuống đất để vuốt ve nó với đầu cành.
Bọn nhược thảo vẹt ra trên lối nó đi và cố hết sức tiết mùi thật thơm. Tất cả núi
tưng bừng đón nó.
Anh Gringoire thử nghĩ, con dê của chúng ta sung sướng biết mấy! Không dây
cột, không nọc….không gì ngăn nó nhảy nhót, gặm cỏ tùy thích. Ở đây mới thật
có cỏ, cứ ngay trên sừng ấy, bạn ạ…và cỏ, chao, sao mà ngọt ngào, mỏng sợi, có
khía do hàng ngàn thảo mộc hợp thành. Thật là khác hẳn với cỏ non trong vòng
rào. Và còn hoa ấy à!…. Nhưng hoa chuông to xanh, những hoa ngón tay sắc tía
cánh dài, cả một rừng hoa dại tràn đầy vị ngọt dễ say.
Con dê trằng dở say dầm mình trong rừng hoa, hai chân đưa lên trời và lăn dài
theo lề đất, chung lộn với những chiếc lá rơi và mấy trái dẻ. Rồi đột nhiên nó
chồm phắt ngay dậy. Hấp! Nó đi kìa, đầu lủi tới trước, qua các quãng đất rậm cây
và các bụi ngâu, khi trên đỉnh, lúc tận dưới hố sâu, ở trên, ở dưới, khắp nơi nơi…
Người ta tưởng có đến mười con dê của ông Seguin trên núi.
Vì con Blanquette, nó chẳng sợ gì cả.
Nó nhảy phắt một cái qua những khe nước to toé nước mình nó với những hạt bụi
ướt và bọt. Rồi mình ướt dầm nước, nó đến nằm dài trên một hòn đá phẳng nào đó
và phơi nắng. Có lần tiến đến rìa một đồi cao, một ngọn hoa thơm cắn ở miệng, nó
nhìn thấy phía dưới, phía dưới hẳn, trên cánh đồng, ngôi nhà của ông Seguin với
vòng rào phía sau. Cảnh ấy khiến nó cười ra nước mắt:
- Nó bé làm sao! Sao mình lại có thể ở trong ấy được?
Thương hại con bé, thấy mình đứng trên cao quá, nó tưởng ít nữa mình cũng
to bằng thế giới.
Nói chung, với con dê của ông Seguin đó là một ngày tươi đẹp.
Khoảng giữa trưa, chạy loanh quanh sang phải sang trái, nó rơi vào giữa một đàn
hươu đang cắn một cây nho dại một cách ngon lành. Cô bé của chúng ta gây xao
7
động. Người ta nhường cho cô, nới tốt nhất trên cây nho và tất cả các ông đó đều
rất lịch sự.
Thình lình gió mát lại. Núi trở màu tím, chiều đến rồi.
- Chiều rồi! - Dê bé tự nhủ, và nó dừng lại, hết sức ngạc nhiên.
Phía dưới, đồng ruộng chìm trong sương mù. Vòng rào của ông Seguin biến
mất trong làn sương và người ta chỉ còn thấy mái nóc nhà con với một ít khói. Dê
lắng nghe tiếng chuông con của bầy thú người ta xua về và lòng cảm thấy buồn
bã….Một con chim rừng bay về ngang chạm cánh vào nó. Nó rùng mình….rồi có
tiếng tru dài trên núi:
Hu!….Hu!….
Nó nghĩ đến chó sói. Suốt ngày, con bé dại không nghĩ đến điều đó. Cùng một lúc,
một tiếng còi vang xa tít trong thung lũng. Đó là ông Seguin tử tế kia đang cố
gắng một lần chót.
Hu!….Hu!….
- Trở lại! Trở lại đi! - tiếng còi kêu vang.
Blanquette rất muốn trở về. Nhưng nhớ tới nọc, sợi dây, vòng rào, nó nghĩ bây
giờ thì nó không thể thích hợp với đời sống đó nữa và hay hơn là nên ở lại….
Tiếng còi không rít lên nữa….
Dê nghe phía sau có tiếng lá sột sạt. Nó quay lại và thấy trong bóng tối hai lỗ tai
ngắn, thật thẳng, với đôi mắt sáng ngời: con sói.
Sói ngồi chồm hổm ở đấy hình dạng to lớn và im lặng, nó nhìn con dê trắng con
và như nếm dê trước. Vốn biết rất rõ mình sẽ ăn được dê, con sói không vội vàng
gì. Chỉ khi dê quay đầu lại, nó mới cười một cách hung ác.
- Ha! Ha! Con dê của ông Seguin.
Và nó thè cái lưỡi to tướng đỏ lói, liếm đôi mép đen nhánh của nó.
8
Blanquette thấy mình nguy mất rồi. Trong khoảng khắc, nhớ tới câu chuyện bà lão
Renaude đánh nhau suốt đêm với sói để rồi sáng bị ăn thịt, dê tự nhủ có lẽ tốt hơn
để cho sói ăn mình ngay cho rồi; rồi đổi ý, nó đứng giữ thế thủ, đầu cúi xuống,
sừng đưa ra trước, không hổ danh là con dê can đảm của ông Seguin….Không
phải nó có hy vọng giết chết sói – dê không giết sói được - nhưng chỉ để xem nó
có thể cầm cự lâu bằng dê già Renaude không….
Bây giờ, con quái vật tiến lại và đôi sừng con xông tới.
Con dê bé can đảm làm sao! Nó húc thật là hết lòng! Hơn mười lần – tôi không
nói ngoa – Gringoire ạ, nó buộc con sói phải thối lui lại để lấy hơi thở. Những lúc
đình chiến trong giây phút ấy, con tham ăn vội vã ngắt một ngọn cỏ thân yêu rồi
trở lại trận chiến, miệng đầy cỏ….Như thế kéo dài suốt đêm. Thỉnh thoảng con dê
của ông Seguin nhìn những vì sao nhảy nhót trên bầu trời trong sáng và nó tự bảo:
- Miễn mình cầm cự được đến tảng sáng.
Lần lượt các vì sao tắt đi. Blanquette húc nhanh hơn, con sói cắn mạnh hơn.
Một ánh sáng nhạt hiện lên ở chân trời, tiếng gáy rè rè của một con gà vẳng lên từ
một cánh đồng cỏ.
Con vật đáng thương tự bảo:
- Được rồi!.
Nó chỉ đợi đến sáng ngày để mà chết: và nó duỗi dài trên đất, trong bộ lông
trắng đẹp lấm đầy máu.
Bấy giờ con sói xông lên mình dê và ăn thịt nó.
Giã biệt Gringoire!
Câu chuyện mà anh nghe không phải là một truyện tích tôi tưởng tượng ra. Nếu có
đến xứ Provence, các nông gia của chúng tôi sẽ hay kể với anh về con dê của ông
Seguin đánh nhau suốt đêm với sói và rồi đến sáng con sói ăn thịt nó mất.
Anh nghe tôi rõ chứ, Gringoire?
9
Và rồi đến sáng con sói ăn thịt nó mất.
10
CƠN HẤP HỐI CỦA CHIẾC SÉMILLANTE.
L'AGONIE DE LA SÉMILLANTE.
Ngọn gió tây bắc đêm nọ đã ném chúng tôi vào bờ đảo Corse, thì để tôi thuật cho
bạn nghe một câu chuyện miền biển hãi hùng, mà chiều chiều những người đánh
cá miền ấy thường kể cho nhau và cũng tình cờ tôi thu nhặt được nhiều chi tiết rất
lạ.
….Cách đây hai ba năm.
Tôi ngược xuôi biển Sardaigne cùng với sáu bảy thủy thủ đoàn, với một kẻ mới
nhập nghề như tôi, hành trình gian khổ thật. Suốt trong tháng ba, chúng tôi không
có được một ngày tốt đẹp. Ngọn gió đông bám riết chúng tôi và biển không ngớt
gào thét…
Một chiều chúng tôi thoát chạy trước cơn bão, tầu chúng tôi đến nấp vào cửa eo
biển Bonifacio, giữa một vòm đảo nhỏ….Quang cảnh không có gì là niềm nở:
những tảng đá to nhẵn thín đầy chim, vài bó ngải cứu, những chòm rong biển và
đây đó trong bùn, những mảnh ván đang rữa nát; nhưng thật ra nếu ngủ lại đêm,
những tảng đá lạnh lùng này còn khá hơn là lườn một chiếc ghe già nua ngập hết
phân nửa, sóng ra vào tự do. Và chúng tôi bằng lòng với khung cảnh trước mặt.
[3]
Vừa lên bờ xong, trong khi các thủy thủ đốt lửa để nấu món Bouillabaisse , ông
sếp gọi tôi và chỉ cho một vòng đá trắng nhỏ chìm trong sa mù ở cuối đảo, ông hỏi
tôi:
- Anh có đến nghĩa địa không?
- Nghĩa địa là sao sếp Lionetti? Thế nơi này là nơi nào?
- Chòm đảo Lavezzi, anh ạ. Chính tại đây đã chôn xác sáu trăm người của chiếc
Sémillante, ở ngay nơi chiến thuyền của họ đắm cách đây mười năm….Tội
nghiệp! Họ không được mấy ai đến thăm. Nhân ta đến đây, ít nữa ta cũng nên đến
chào họ…
- Rất sẵn lòng, sếp ạ.
11
Nghĩa địa chiếc Sémillante buồn làm sao! Tôi còn thấy lại nó với vòng tường nhỏ
thấp, cánh cửa sắt rỉ, mở rất khó, cái nhà thờ nhỏ lặng lẽ và hàng trăm chữ thập
đen ẩn sau lớp cỏ. Không một vòng hoa bất diệt, không một kỷ niệm, không gì cả.
Chao! Trong nếp mộ tha hương, những kẻ chết vô phúc lạc loài chắc là phải lạnh
lẽo nhiều.
Chúng tôi ở đó giây lâu, chân quì xuống. Ông sếp cầu nguyện cao giọng. Nhiều
con thủy kê to, kẻ canh giữ duy nhất của nghĩa địa vần vũ trên đầu chúng tôi, hoà
tiếng kêu chát chúa của chúng với tiếng rên rỉ của sóng biển.
Bài kinh dứt, chúng tôi buồn bã trở về góc đảo nơi tầu neo lại. Trong lúc vắng
chúng tôi, các thủy thủ đã không để mất thì giờ. Chúng tôi thấy có ngọn lửa to
bừng cháy, nép bên cạnh một tảng đá và chiếc nồi đang bốc khói. Ai nấy ngồi
quanh, chân hơ trên lửa và không mấy lúc mỗi người đều có hai khoanh bánh mì
đen chan nhiều nước trong một cái bát bằng đất đỏ đặt trên đùi. Bữa ăn im lặng.
Chúng tôi ướt sũng, chúng tôi đói và hơn nữa chúng tôi đang ở cạnh một nghĩa
trang….
Tuy vậy khi bát ăn cạn hết, người ta đốt ống điếu và quay ra nói chuyện lai rai. Cố
nhiên, người ta nói về chiếc Sémillante.
Tôi hỏi ông sếp lúc bấy giờ, đăm chiêu nhìn ngọn lửa, hai tay ôm lấy đầu:
- Nhưng này, câu chuyện đã xảy ra như thế nào?
Ông Lionetti hiền lành trả lời với một tiếng thở dài thườn thượt:
- Câu chuyện đã xảy ra như thế nào? Hừ, anh ạ, không ai trên đời có thể biết được.
[4]
Chúng tôi chỉ biết là chiếc Sémillante chở quân đi Crimée , khởi hành từ
Toulon, chiều hôm trước, lúc trời xấu. Đêm đến càng nguy hại hơn. Nào gió nào
mưa, biển to chưa bao giờ ai từng thấy….Sáng, gió dịu đôi chút, nhưng biển vẫn
luôn gào thét, rồi lại có làn sương mù quỷ quái khiến không thể trông thấy được
một vọng đăng cách đó bốn bước….Thứ sương mù đó, anh ạ, người ta hiểu rõ
rằng chúng bất trắc lắm….Sương mù cũng chẳng hại gì, tôi nghĩ rằng chiếc
Sémillante hẳn đã mất lái buổi sáng, lý do sương mù không đứng vững được, vì
nếu không hư hại vật nào, không bao giờ thuyền trưởng lại chịu tấp vào đây. Ông
là người đi biển lão luyện. Tất cả chúng tôi đều biết ông. Ông đã chỉ huy căn cứ ở
Corse trong ba năm và thuộc rành rẽ miền duyên hải cũng như tôi, vốn không biết
gì khác hơn…
12
- Thế người ta độ chiếc Sémillante đắm khoảng mấy giờ?
- Chắc hẳn là lúc Ngọ, phải anh ạ, đúng vào giờ Ngọ. Nhưng với sương mù của
biển, cái đúng Ngọ đó không hơn gì một đêm tối mịt như họng con sói…
[5]
- Một người lính đoan
ở bờ biển hôm ấy, kể cho tôi nghe khoảng mười một giờ
rưỡi hắn ta bước ra khỏi cái nhà con của mình để cột mấy lá sách cửa, bị gió thổi
nón bay đi, hắn bèn cắm cổ đuổi dọc theo bờ, nguy hiểm đến có thể bị ngọn sóng
cuốn mất. Anh biết đấy, lính đoan không giầu có gì, và giá một cái mũ không phải
là rẻ. Thế rồi, hình như đến một lúc nọ, anh chàng của chúng ta ngẩng đầu lên,
trông thấy gần bên hắn, trong sương mù, có một chiếc tầu to buồm cuốn lại, vùn
vụt trước gió về phía chòm đảo Lavezzi. Tầu này đi nhanh quá, nhanh đến nỗi
người lính đoan không có thì giờ để kịp nhìn kỹ. Tuy vậy, tất cả chứng tỏ rằng đó
là chiếc Sémillante, bởi lẽ nửa giờ sau, người chăn dê trên đảo nghe trên mấy hòn
đá này….Nhưng kìa, đúng lúc có người chăn dê tôi nói với anh kia, anh ạ….Chào
lão, Palombo, đến đây sưởi một tí nào, đừng sợ.
Một người phủ vải cùng mình, tiến đến bên chúng tôi một cách sợ sệt, từ lúc nãy
tôi vẫn thấy hắn quanh quẩn bên ngọn lửa, và tôi lầm là một người trong đoàn, vì
tôi không biết trên đảo có người chăn dê.
Đó là một người hủi già, ngờ nghệch, mắc một chứng bủng thịt nào đó khiến môi
lão sưng mọng lên, to tướng trông thật gớm ghiếc. Người ta giải thích một cách
khó khăn cho lão hiểu đầu đề câu chuyện ra sao. Bấy giờ, ngón tay nâng vành môi
đau, ông lão kể cho chúng tôi rằng quả thật như thế. Hôm ấy, khoảng giờ Ngọ, từ
trong lều của mình, lão nghe có tiếng nứt vỡ kinh khủng trên mấy tảng đá. Vì đảo
ngập cả nước, lão không ra ngoài được. Và chỉ sáng hôm sau, mở cửa, lão thấy bờ
biển ngổn ngang những mảnh ván và xác chết sóng tấp vào đó. Hoảng sợ, lão tất
tả chạy ra chiếc ghe của mình chèo đi Bonifacio tìm người.
Mệt nhọc vì nói nhiều về câu chuyện, lão chăn dê ngồi xuống và ông sếp tiếp lời:
- Phải anh ạ, chính lão già đáng thương này đã đến phi báo cho chúng tôi. Lão gần
như điên lên vì sợ và thần kinh lão còn rối loạn vì cảnh tượng khủng khiếp. Mà
thật thì như vậy là phải. Anh hãy cứ tưởng tượng, sáu trăm xác chất đống trên cát,
chung lộn với những mảnh ván vỡ, những cánh buồm tả tơi. Thương hại chiếc
Sémillante! Biển nghiền nát nó ra tan tành, đến trong tất cả những mảnh ván vụn
của nó, lão chăn dê Palombo khó nhọc lắm mới nhặt đủ để làm một vòng rào
13
chung quanh chòi mình…. Về người, gần như không nhìn mặt được, nát bét một
cách thảm hại. Nhìn họ bám kẻ này kẻ nọ từng dề mà não cả lòng. Chúng tôi tìm
thấy được thuyền trưởng mặc lễ phục, thầy cả với chiếc tràng hạt ở cổ, trong một
góc giữa hai hòn đá, một thằng bé tập sự mắt mở trao tráo….Người ta tưởng nó
còn sống, nhưng không, đã bảo là không một người nào thoát.
Tới đây ông sếp ngừng lại, nói to:
- Nardi, coi chừng, lửa tắt kìa.
Nardi quẳng vào đống lửa hai ba mảnh ván tráng dầu phừng cháy lên, và Lionetti
tiếp tục:
- Trong câu chuyện này có một điều buồn hơn cả là như sau: Ba tuần trước tai
nạn, một chiến thuyền nhỏ cũng đi Crimée như chiếc Sémillante đã bị đắm, một
cách tương tợ gần như ở cùng một nơi. Có điều là lần ấy, chúng tôi cứu thoát được
[6]
thủy thủ đoàn và hai mươi quân nhân thông vận
trên thuyền. Anh cũng biết
đấy, các thông vận binh vô phúc này không quen với việc đắm thuyền. Người ta
đưa họ về Bonifacio và chúng tôi giữ họ hai ngày ở bến tầu. Khô ráo rồi, bình
phục rồi thì chào các anh, chúc may mắn, họ trở về Toulon để rồi ít lâu sau, người
ta họ lên tầu đi Crimée. Anh thử đoán xem tầu nào? Chiếc Sémillante anh ạ.
Chúng tôi gặp họ lại được tất cả, tất cả hai mươi người nằm giữa các xác chết ở
ngay nơi chúng ta đương ngồi….Riêng tôi, tôi nhận ra một anh cai xinh xắn có
một bộ râu lấm tấm, một anh tóc vàng gốc Paris mà tôi đã cho ngủ ở nhà, và đã
làm chúng tôi cười suốt ngày vì những câu chuyện vui của anh ta. Thấy anh nằm
đó, mà lòng tôi se thắt. Chúa ôi!
Đến đây cảm động quá, ông Lionetti rẩy tàn thuốc ống điếu và lăn tròn trong chiếc
áo tơi, sau khi chúc tôi ngủ ngon….Trong giây lâu nữa, các thủy thủ còn thầm thì
với nhau…..Rồi lần lượt các ống điếu tắt ngấm….Người ta không nói chuyện
nữa….Lão chăn dê bỏ đi….Và tôi chỉ còn một mình để mơ tưởng giữa đoàn thủy
thủ ngủ say.
Vẫn còn chìm trong cảm giác gây nên do câu chuyện hãi hùng vừa nghe, tôi cố tạo
lại trong tư tưởng chiếc thuyền vô phúc quá cố và câu chuyện hấp hối mà chỉ có
mấy con thủy kê là những kẻ làm chứng duy nhất. Vài chi tiết đập vào mắt tôi, vị
thuyền trưởng mặc lễ phục, chiếc vòng tràng hạt của thầy cả, hai mươi thông vận
binh, giúp tôi đoán được tất cả những biến chuyển của thảm kịch…. Tôi thấy
14
chiếc thuyền rời Toulon trong đêm….Thuyền ra khỏi cảng. Biển xấu, gió đáng sợ
nhưng thuyền trưởng của mọi người là một thủy thủ đảm lược và mọi người trên
thuyền đều yên dạ.
Buổi sáng, sương mù nổi dậy. Người ta bắt đầu lo lắng. Tất cả thủy thủ đều ở trên.
Thuyền trưởng không rời boong. Trong boong giữa, nơi nhốt các binh sĩ, tối đen:
không khí nóng. Vài người ốm nằm trên túi xách của họ. Thuyền chóng chành
một cách ghê sợ; không tài nào đứng vững được. Người ta ngồi dưới sàn từng
nhóm và bám vào vách mà chuyện trò; phải la to mới nghe được. Trong số, có
người bắt đầu sợ. Nghe đây họ kể. Ở quãng này thuyền vẫn đắm luôn, cứ hỏi mấy
anh thông vận binh thì biết và những gì họ thuật không làm cho người ta yên dạ
chút nào. Nhất là anh cai của họ, một người Paris lúc nào cũng nói đùa, làm cho
họ rởn da gà, với những câu cà rởn của anh ta:
- Đắm thuyền à? Vui lắm chứ sao, đắm thuyền. Chỉ tắm nước đá một chuyến và
rồi người ta đưa mình về Bonifacio để ăn ở nhà ông sếp Lionetti.
Và bọn lính cười ồ….
Thình lình có tiếng nứt vỡ. Gì vậy? Chuyện gì vậy?
- Bánh lái vừa trôi mất - Một thủy thủ vừa chạy ngang vừa nói, mình mẩy ướt
đẫm.
- Hành trình vui vẻ nhé – Anh cai bướng bỉnh kêu to. Nhưng lời anh không làm ai
cười nữa.
Hỗn loạn trên boong. Sương mù ngăn trở không cho thấy nhau. Mấy thủy thủ
chạy qua chạy lại, sờ soạng, kinh hãi….Không còn bánh lái, không điều khiển gì
nữa được. Chiếc Sémillante không lái vùn vụt dưới gió. Chính vào lúc này mà
người lính đoan thấy thuyền trôi qua. Khi ấy mười một giờ rưỡi. Phía trước chiến
thuyền, người ta nghe như một tiếng đại bác. Đá rạn! đá rạn!….Thôi rồi, không
còn hy vọng gì nữa, tầu đi ngay vào phía bờ….Thuyền trưởng xuống căn buồng
của mình. Chập sau, ông trở lại trên boong – mình mặc lễ phục….Ông muốn
người ông đẹp đẽ để mà chết.
Trong boong giữa, quân sĩ lo lắng, nhìn nhau không nói gì….Mấy người ốm cố
trỗi dậy….Anh cai nhỏ bé không cười nữa….Lúc bấy giờ, cửa mở và thầy cả hiện
ra, vòng tràng hạt trong tay.
15
- Quì xuống, các con.
Mọi người nghe theo. Với một giọng oang oang, thầy cả bắt đầu bài cầu nguyện
của những người sắp chết.
Đột nhiên, một tiếng va chạm khủng khiếp, một tiếng kêu, một tiếng kêu duy nhất,
một tiếng kêu mênh mông, những cánh tay đưa ra, những bàn tay bấu víu nhau,
những cái nhìn kinh hãi trong ấy hình ảnh của cái chết thoáng qua nhanh như tia
chớp.
Chúa ơi!
Suốt đêm tôi mơ tưởng như thế, gợi lại cách nhau mười năm, linh hồn chiếc
thuyền vô phúc mà những mảnh vụn bao quanh tôi….Đàng xa, trong eo biển,
giông tố bão bùng; ngọn lửa nhóm đêm cuốn đi dưới ngọn cuồng phong, và tôi
nghe chiếc tầu của chúng tôi bập bềnh dưới chân đá. Khua dây neo kêu lên.
16
BÍ MẬT CỦA LÃO CORNILLE.
LE SECRET DE MAITRE CORNILLE.
Francet Mamai, một lão thổi sáo già thỉnh thoảng vẫn đến họp đêm tại nhà tôi,
một chiều nọ vừa uống rượu nấu, vừa kể cho tôi một tấn kịch con con trong làng,
tấn kịch mà cối xay gió của tôi được chứng
Mục Lục:
ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU.
CON DÊ CỦA ÔNG SEGUIN.
CƠN HẤP HỐI CỦA CHIẾC SÉMILLANTE.
BÍ MẬT CỦA LÃO CORNILLE.
NHỮNG VÌ SAO.
CON LỪA CỦA GIÁO CHỦ.
CÁI CHẾT CỦA THÁI TỬ.
HẢI ĐĂNG ĐẢO SANGUINAIRES.
2
ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU.
Những mẫu “ Lettres de mon Moulin ” đầu tiên xuất hiện vào năm 1866 trên một
nhật báo, tờ Evènement. Khi in thành sách ba năm sau, chúng chỉ mới gồm 19
truyện. Về sau (đến năm 1884 ) lại thêm năm truyện nữa với đề tài hơi khác ( Les
Étoiles, Les Douaniers, En Camargue, Les Vieux, Les Trois Messe Basse )
Đây là những câu chuyện đươc mơ tưởng, được viết ra trong một máy xay gió già
nua, tác giả đã ngông mà mua về. Trong giai phẩm con con này, người ta tìm được
đặc tính, vừa của miền Nam nước Pháp, vừa của cả nước Pháp, tác phẩm vừa có
tính cách địa phương, vừa đại đồng, chan chứa tình nhân loại man mác….hương
đồng nội.
Nhà phê bình Lanson cho Alphonse Daudet có biệt tài trong việc miêu tả những gì
lưu luyến đến thiện cảm của mình. Mà Daudet thì tất cả đều khiến cho ông lưu
luyến. Ông có thiện cảm với kẻ nghèo, với thú vật, với cây cỏ, với vạn vật. Đâu
đâu trong mỗi trang, mỗi hàng, ông cũng trút ra một ít lòng mình. Nhưng dù là ký
ức, chuyện xưa, thần thoại hay chỉ là chỉ là những hình ảnh tầm thường rút trong
kho truyện cổ của miền Nam Pháp hay xuất phát từ tâm hồn thi sĩ, điều học được
hay điều nghe thấy, điều tưởng tượng, luôn luôn chúng là những điều rung cảm
chân thành. “ Les Lettres de mon Moulin ” có giá trị nhất và trước tiên nhờ vào
hình thức. Lời văn có mùi vị của rượu ngọt, của bó hoa, ngay cả thể văn cũng súc
tích nhiều hình ảnh đẹp. Bây giờ “ Les Lettres de mon Moulin ” là một tác phẩm
cho học sinh học trong trường, ngang hàng với Fables của La Fontaine và truyện
cổ của Perrault.
Chúng tôi rút bảy truyện thường cho đọc hơn hết trong lớp và thoát dịch chữ “ Les
Lettres de mon Moulin ” thành “ Những cánh thư hè ” gởi đến bạn đọc xa gần.
SAIGON. Năm 1974.
3
CON DÊ CỦA ÔNG SEGUIN.
LA CHÉVRE DE M.SEGUIN.
Mãi mãi rồi anh cũng sẽ không đổi tính, anh Gringoire
[1]
ạ.
Sao! Người ta cho anh một chân ký giả trong một nhật báo giá trị ở Paris, thế mà
anh cả gan từ chối….Nhưng anh hãy nhìn cái áo thủng kìa, cái quần xốc xếch kìa,
gương mặt gầy kêu đói kìa. Ấy thế mà, đấy là nơi mà sự say sưa những vần thơ
đẹp đưa anh đến! Đấy mười năm tận tụy phụng sự thi ca để rồi chỉ có được bấy
nhiêu. Mãi rồi anh không xấu hổ ư?
Anh đi làm ký giả đi, đồ ngu! Anh làm ký giả đi! Anh sẽ lãnh được những đồng
tiền hoa đẹp, anh ăn ở nhà hàng Brébant, và anh có thể hiện diện trong các buổi
[2]
công diễn đầu
, với ngòi bút mới giắt trên mũ bẹt.
Không à? Anh không muốn à? Anh muốn sống tự do tuỳ thích cho đến suốt cuộc
đời ư? Vậy, anh hãy nghe qua câu chuyện “ Con dê của ông Seguin ”. Rồi anh sẽ
thấy muốn sống tự do có lợi hại gì.
Ông Seguin không lần nào được may mắn với bầy dê.
Ông mất chúng cùng một cách như nhau; một buổi sáng đẹp trời, chúng bứt đứt
dây, đi lên núi, và trên ấy, chó sói ăn thịt chúng. Không có những cái vuốt ve của
chủ, không nỗi sợ chó sói, không gì giữ chúng. Hình như đó là những con dê độc
lập muốn sống tự do, giữa khoảng trời to rộng với bất cứ giá nào.
Ông Seguin tốt bụng, không hiểu tí gì về tính tình mấy con vật của mình, lấy làm
buồn khổ lắm.
Ông nói:
- Thế là xong, dê chán ở nhà ta, ta sẽ không giữ được con nào.
Tuy vậy, ông không nản lòng. Và sau khi mất sáu con dê cũng cùng một cách
như nhau, ông bèn mua một con thứ bảy. Có điều phen này, ông cẩn thận lựa con
4
thật nhỏ để nó dễ quen ở lại nhà ông hơn.
Ôi! Gringoire ạ, con dê con của ông Seguin xinh làm sao? Nó xinh làm sao với
đôi mắt dịu hiền, chòm râu con ngạo nghễ, đôi vó đen và bóng, đôi sừng có vằn
ngang và lớp lông dài trắng như cái áo choàng phủ ngoài thân mình nó. Nó cũng
gần dễ thương như con dê nhỏ của Esméralda, anh có nhớ không, Gringoire? Và
lại ngoan, mơn trớn, để cho vắt sữa mà không động đậy, không đặt chân vào đĩa
ăn. Một con dê thật đáng yêu….
Sau nhà ông Seguin có một thửa vườn với vòng rào hoa trắng. Ông để cô khách
mới của mình ở đó. Ông cột nó vào một cây nọc, ở nơi đẹp nhất của sân cỏ, cẩn
thận để cho nó một quãng dây dài và thỉnh thoảng ông đến thăm chừng xem nó có
vừa ý không. Con dê rất lấy làm sung sướng và gặm cỏ một cách sẵn lòng quá,
khiến ông Seguin vui dạ. Tội nghiệp, ông nghĩ:
- Hừ, mãi tới giờ mới có một con không chán nhà mình.
Ông Seguin lầm, con dê của ông đâm chán.
Một hôm nó nhìn ngọn núi, tự nhủ:
- Trên ấy hẳn phải là thích lắm; tung tăng trên bãi cỏ hoang không có cái sợi dây
quái ác này cưa cổ mình thì thật là thú! Lừa hay bò gặm cỏ trong một vòng rào thì
được. Với dê, cần phải có nơi khoáng đạt cho chúng.
Từ khi ấy, cỏ trong vòng rào đối với nó có vẻ nhạt nhẽo. Nó đâm chán nản. Nó
gầy dần, sữa ít đi. Nhìn nó mà thương hại, suốt ngày nó kéo căng sợi dây, đầu
quay nhìn về phía núi, mũi hỉnh ra, miệng kêu bê bê…một cách buồn bã.
Ông Seguin thấy rõ con dê của mình có một cái gì, nhưng ông không biết cái gì đó
như thế nào….Một buổi sáng, ông vừa vắt sữa xong, dê quay lại ông và nói bằng
thổ ngữ của nó:
- Ông nghe tôi, ông Seguin ạ. Tôi chết mòn ở nhà ông, ông hãy cho tôi lên núi đi.
Ông Seguin kinh ngạc, kêu lên:
- Trời ơi! Cả nó nữa – và thoắt cái ông đánh rơi cái đĩa; rồi ngồi phệt xuống cỏ
5
bên cạnh dê, ông hỏi:
- Sao, Blanquette, mày muốn bỏ tao à?
Và Blanquette đáp:
- Phải, ông Seguin ạ.
- Ở đây mày thiếu cỏ ư?
- Không phải thế đâu ông.
- Hay có lẽ dây cột mày ngắn quá, mày có muốn tao nới dài ra không?
- Không phải phiền, ông Seguin ạ.
- Thế mày cần gì? Mày muốn gì?
- Thưa ông Seguin tôi muốn đi lên núi.
- Nhưng, khốn nạn, mày không biết trên núi có chó sói sao? Khi nó đến, mày sẽ
làm gì?
- Thưa ông Seguin, tôi sẽ húc nó.
- Sói nó sợ quái gì sừng của mày. Nó ăn mất của tao nhiều con dê sừng mạnh hơn
mày….Mày biết đấy, con dê Renaude già ở đây năm rồi. Nó đánh nhau với sói
suốt đêm…rồi đến sáng sói ăn nó mất.
- Tội nghiệp bà Renaude. Nhưng không sao ông Seguin ạ, ông hãy để cho tôi lên
núi đi.
- Chúa ơi! Sao mấy con dê của tôi lại lạ vậy – ông Seguin nói - Lại thêm một con
sắp bị sói ăn mất của tôi thôi. Hừ không, không được. Dù mày không muốn, tao
vẫn cứu mày, con khốn! Và để phòng mày bứt đứt dây, tao đem nhốt mày trong
chuồng và mày sẽ ở mãi trong đó.
Nói xong ông Seguin mang dê vào một cái chuồng tối đen, ông khoá trái cửa
lại. Không may, ông quên mất cửa sổ và ông vừa quay lưng là con bé bỏ đi.
6
Anh cười, phải không Gringoire? Phải tôi tin thế; anh thì anh theo phe dê chống
lại ông Seguin tử tế….Rồi lát nữa, xem anh có cười không.
Khi con dê trắng lên núi, ai nấy đều vui thích. Không bao giờ, mấy bác thông già
lại thấy con vật xinh xắn như vậy. Người ta tiếp đón nó như một bà hoàng nho
nhỏ. Bọn cây dẻ cúi sát xuống đất để vuốt ve nó với đầu cành.
Bọn nhược thảo vẹt ra trên lối nó đi và cố hết sức tiết mùi thật thơm. Tất cả núi
tưng bừng đón nó.
Anh Gringoire thử nghĩ, con dê của chúng ta sung sướng biết mấy! Không dây
cột, không nọc….không gì ngăn nó nhảy nhót, gặm cỏ tùy thích. Ở đây mới thật
có cỏ, cứ ngay trên sừng ấy, bạn ạ…và cỏ, chao, sao mà ngọt ngào, mỏng sợi, có
khía do hàng ngàn thảo mộc hợp thành. Thật là khác hẳn với cỏ non trong vòng
rào. Và còn hoa ấy à!…. Nhưng hoa chuông to xanh, những hoa ngón tay sắc tía
cánh dài, cả một rừng hoa dại tràn đầy vị ngọt dễ say.
Con dê trằng dở say dầm mình trong rừng hoa, hai chân đưa lên trời và lăn dài
theo lề đất, chung lộn với những chiếc lá rơi và mấy trái dẻ. Rồi đột nhiên nó
chồm phắt ngay dậy. Hấp! Nó đi kìa, đầu lủi tới trước, qua các quãng đất rậm cây
và các bụi ngâu, khi trên đỉnh, lúc tận dưới hố sâu, ở trên, ở dưới, khắp nơi nơi…
Người ta tưởng có đến mười con dê của ông Seguin trên núi.
Vì con Blanquette, nó chẳng sợ gì cả.
Nó nhảy phắt một cái qua những khe nước to toé nước mình nó với những hạt bụi
ướt và bọt. Rồi mình ướt dầm nước, nó đến nằm dài trên một hòn đá phẳng nào đó
và phơi nắng. Có lần tiến đến rìa một đồi cao, một ngọn hoa thơm cắn ở miệng, nó
nhìn thấy phía dưới, phía dưới hẳn, trên cánh đồng, ngôi nhà của ông Seguin với
vòng rào phía sau. Cảnh ấy khiến nó cười ra nước mắt:
- Nó bé làm sao! Sao mình lại có thể ở trong ấy được?
Thương hại con bé, thấy mình đứng trên cao quá, nó tưởng ít nữa mình cũng
to bằng thế giới.
Nói chung, với con dê của ông Seguin đó là một ngày tươi đẹp.
Khoảng giữa trưa, chạy loanh quanh sang phải sang trái, nó rơi vào giữa một đàn
hươu đang cắn một cây nho dại một cách ngon lành. Cô bé của chúng ta gây xao
7
động. Người ta nhường cho cô, nới tốt nhất trên cây nho và tất cả các ông đó đều
rất lịch sự.
Thình lình gió mát lại. Núi trở màu tím, chiều đến rồi.
- Chiều rồi! - Dê bé tự nhủ, và nó dừng lại, hết sức ngạc nhiên.
Phía dưới, đồng ruộng chìm trong sương mù. Vòng rào của ông Seguin biến
mất trong làn sương và người ta chỉ còn thấy mái nóc nhà con với một ít khói. Dê
lắng nghe tiếng chuông con của bầy thú người ta xua về và lòng cảm thấy buồn
bã….Một con chim rừng bay về ngang chạm cánh vào nó. Nó rùng mình….rồi có
tiếng tru dài trên núi:
Hu!….Hu!….
Nó nghĩ đến chó sói. Suốt ngày, con bé dại không nghĩ đến điều đó. Cùng một lúc,
một tiếng còi vang xa tít trong thung lũng. Đó là ông Seguin tử tế kia đang cố
gắng một lần chót.
Hu!….Hu!….
- Trở lại! Trở lại đi! - tiếng còi kêu vang.
Blanquette rất muốn trở về. Nhưng nhớ tới nọc, sợi dây, vòng rào, nó nghĩ bây
giờ thì nó không thể thích hợp với đời sống đó nữa và hay hơn là nên ở lại….
Tiếng còi không rít lên nữa….
Dê nghe phía sau có tiếng lá sột sạt. Nó quay lại và thấy trong bóng tối hai lỗ tai
ngắn, thật thẳng, với đôi mắt sáng ngời: con sói.
Sói ngồi chồm hổm ở đấy hình dạng to lớn và im lặng, nó nhìn con dê trắng con
và như nếm dê trước. Vốn biết rất rõ mình sẽ ăn được dê, con sói không vội vàng
gì. Chỉ khi dê quay đầu lại, nó mới cười một cách hung ác.
- Ha! Ha! Con dê của ông Seguin.
Và nó thè cái lưỡi to tướng đỏ lói, liếm đôi mép đen nhánh của nó.
8
Blanquette thấy mình nguy mất rồi. Trong khoảng khắc, nhớ tới câu chuyện bà lão
Renaude đánh nhau suốt đêm với sói để rồi sáng bị ăn thịt, dê tự nhủ có lẽ tốt hơn
để cho sói ăn mình ngay cho rồi; rồi đổi ý, nó đứng giữ thế thủ, đầu cúi xuống,
sừng đưa ra trước, không hổ danh là con dê can đảm của ông Seguin….Không
phải nó có hy vọng giết chết sói – dê không giết sói được - nhưng chỉ để xem nó
có thể cầm cự lâu bằng dê già Renaude không….
Bây giờ, con quái vật tiến lại và đôi sừng con xông tới.
Con dê bé can đảm làm sao! Nó húc thật là hết lòng! Hơn mười lần – tôi không
nói ngoa – Gringoire ạ, nó buộc con sói phải thối lui lại để lấy hơi thở. Những lúc
đình chiến trong giây phút ấy, con tham ăn vội vã ngắt một ngọn cỏ thân yêu rồi
trở lại trận chiến, miệng đầy cỏ….Như thế kéo dài suốt đêm. Thỉnh thoảng con dê
của ông Seguin nhìn những vì sao nhảy nhót trên bầu trời trong sáng và nó tự bảo:
- Miễn mình cầm cự được đến tảng sáng.
Lần lượt các vì sao tắt đi. Blanquette húc nhanh hơn, con sói cắn mạnh hơn.
Một ánh sáng nhạt hiện lên ở chân trời, tiếng gáy rè rè của một con gà vẳng lên từ
một cánh đồng cỏ.
Con vật đáng thương tự bảo:
- Được rồi!.
Nó chỉ đợi đến sáng ngày để mà chết: và nó duỗi dài trên đất, trong bộ lông
trắng đẹp lấm đầy máu.
Bấy giờ con sói xông lên mình dê và ăn thịt nó.
Giã biệt Gringoire!
Câu chuyện mà anh nghe không phải là một truyện tích tôi tưởng tượng ra. Nếu có
đến xứ Provence, các nông gia của chúng tôi sẽ hay kể với anh về con dê của ông
Seguin đánh nhau suốt đêm với sói và rồi đến sáng con sói ăn thịt nó mất.
Anh nghe tôi rõ chứ, Gringoire?
9
Và rồi đến sáng con sói ăn thịt nó mất.
10
CƠN HẤP HỐI CỦA CHIẾC SÉMILLANTE.
L'AGONIE DE LA SÉMILLANTE.
Ngọn gió tây bắc đêm nọ đã ném chúng tôi vào bờ đảo Corse, thì để tôi thuật cho
bạn nghe một câu chuyện miền biển hãi hùng, mà chiều chiều những người đánh
cá miền ấy thường kể cho nhau và cũng tình cờ tôi thu nhặt được nhiều chi tiết rất
lạ.
….Cách đây hai ba năm.
Tôi ngược xuôi biển Sardaigne cùng với sáu bảy thủy thủ đoàn, với một kẻ mới
nhập nghề như tôi, hành trình gian khổ thật. Suốt trong tháng ba, chúng tôi không
có được một ngày tốt đẹp. Ngọn gió đông bám riết chúng tôi và biển không ngớt
gào thét…
Một chiều chúng tôi thoát chạy trước cơn bão, tầu chúng tôi đến nấp vào cửa eo
biển Bonifacio, giữa một vòm đảo nhỏ….Quang cảnh không có gì là niềm nở:
những tảng đá to nhẵn thín đầy chim, vài bó ngải cứu, những chòm rong biển và
đây đó trong bùn, những mảnh ván đang rữa nát; nhưng thật ra nếu ngủ lại đêm,
những tảng đá lạnh lùng này còn khá hơn là lườn một chiếc ghe già nua ngập hết
phân nửa, sóng ra vào tự do. Và chúng tôi bằng lòng với khung cảnh trước mặt.
[3]
Vừa lên bờ xong, trong khi các thủy thủ đốt lửa để nấu món Bouillabaisse , ông
sếp gọi tôi và chỉ cho một vòng đá trắng nhỏ chìm trong sa mù ở cuối đảo, ông hỏi
tôi:
- Anh có đến nghĩa địa không?
- Nghĩa địa là sao sếp Lionetti? Thế nơi này là nơi nào?
- Chòm đảo Lavezzi, anh ạ. Chính tại đây đã chôn xác sáu trăm người của chiếc
Sémillante, ở ngay nơi chiến thuyền của họ đắm cách đây mười năm….Tội
nghiệp! Họ không được mấy ai đến thăm. Nhân ta đến đây, ít nữa ta cũng nên đến
chào họ…
- Rất sẵn lòng, sếp ạ.
11
Nghĩa địa chiếc Sémillante buồn làm sao! Tôi còn thấy lại nó với vòng tường nhỏ
thấp, cánh cửa sắt rỉ, mở rất khó, cái nhà thờ nhỏ lặng lẽ và hàng trăm chữ thập
đen ẩn sau lớp cỏ. Không một vòng hoa bất diệt, không một kỷ niệm, không gì cả.
Chao! Trong nếp mộ tha hương, những kẻ chết vô phúc lạc loài chắc là phải lạnh
lẽo nhiều.
Chúng tôi ở đó giây lâu, chân quì xuống. Ông sếp cầu nguyện cao giọng. Nhiều
con thủy kê to, kẻ canh giữ duy nhất của nghĩa địa vần vũ trên đầu chúng tôi, hoà
tiếng kêu chát chúa của chúng với tiếng rên rỉ của sóng biển.
Bài kinh dứt, chúng tôi buồn bã trở về góc đảo nơi tầu neo lại. Trong lúc vắng
chúng tôi, các thủy thủ đã không để mất thì giờ. Chúng tôi thấy có ngọn lửa to
bừng cháy, nép bên cạnh một tảng đá và chiếc nồi đang bốc khói. Ai nấy ngồi
quanh, chân hơ trên lửa và không mấy lúc mỗi người đều có hai khoanh bánh mì
đen chan nhiều nước trong một cái bát bằng đất đỏ đặt trên đùi. Bữa ăn im lặng.
Chúng tôi ướt sũng, chúng tôi đói và hơn nữa chúng tôi đang ở cạnh một nghĩa
trang….
Tuy vậy khi bát ăn cạn hết, người ta đốt ống điếu và quay ra nói chuyện lai rai. Cố
nhiên, người ta nói về chiếc Sémillante.
Tôi hỏi ông sếp lúc bấy giờ, đăm chiêu nhìn ngọn lửa, hai tay ôm lấy đầu:
- Nhưng này, câu chuyện đã xảy ra như thế nào?
Ông Lionetti hiền lành trả lời với một tiếng thở dài thườn thượt:
- Câu chuyện đã xảy ra như thế nào? Hừ, anh ạ, không ai trên đời có thể biết được.
[4]
Chúng tôi chỉ biết là chiếc Sémillante chở quân đi Crimée , khởi hành từ
Toulon, chiều hôm trước, lúc trời xấu. Đêm đến càng nguy hại hơn. Nào gió nào
mưa, biển to chưa bao giờ ai từng thấy….Sáng, gió dịu đôi chút, nhưng biển vẫn
luôn gào thét, rồi lại có làn sương mù quỷ quái khiến không thể trông thấy được
một vọng đăng cách đó bốn bước….Thứ sương mù đó, anh ạ, người ta hiểu rõ
rằng chúng bất trắc lắm….Sương mù cũng chẳng hại gì, tôi nghĩ rằng chiếc
Sémillante hẳn đã mất lái buổi sáng, lý do sương mù không đứng vững được, vì
nếu không hư hại vật nào, không bao giờ thuyền trưởng lại chịu tấp vào đây. Ông
là người đi biển lão luyện. Tất cả chúng tôi đều biết ông. Ông đã chỉ huy căn cứ ở
Corse trong ba năm và thuộc rành rẽ miền duyên hải cũng như tôi, vốn không biết
gì khác hơn…
12
- Thế người ta độ chiếc Sémillante đắm khoảng mấy giờ?
- Chắc hẳn là lúc Ngọ, phải anh ạ, đúng vào giờ Ngọ. Nhưng với sương mù của
biển, cái đúng Ngọ đó không hơn gì một đêm tối mịt như họng con sói…
[5]
- Một người lính đoan
ở bờ biển hôm ấy, kể cho tôi nghe khoảng mười một giờ
rưỡi hắn ta bước ra khỏi cái nhà con của mình để cột mấy lá sách cửa, bị gió thổi
nón bay đi, hắn bèn cắm cổ đuổi dọc theo bờ, nguy hiểm đến có thể bị ngọn sóng
cuốn mất. Anh biết đấy, lính đoan không giầu có gì, và giá một cái mũ không phải
là rẻ. Thế rồi, hình như đến một lúc nọ, anh chàng của chúng ta ngẩng đầu lên,
trông thấy gần bên hắn, trong sương mù, có một chiếc tầu to buồm cuốn lại, vùn
vụt trước gió về phía chòm đảo Lavezzi. Tầu này đi nhanh quá, nhanh đến nỗi
người lính đoan không có thì giờ để kịp nhìn kỹ. Tuy vậy, tất cả chứng tỏ rằng đó
là chiếc Sémillante, bởi lẽ nửa giờ sau, người chăn dê trên đảo nghe trên mấy hòn
đá này….Nhưng kìa, đúng lúc có người chăn dê tôi nói với anh kia, anh ạ….Chào
lão, Palombo, đến đây sưởi một tí nào, đừng sợ.
Một người phủ vải cùng mình, tiến đến bên chúng tôi một cách sợ sệt, từ lúc nãy
tôi vẫn thấy hắn quanh quẩn bên ngọn lửa, và tôi lầm là một người trong đoàn, vì
tôi không biết trên đảo có người chăn dê.
Đó là một người hủi già, ngờ nghệch, mắc một chứng bủng thịt nào đó khiến môi
lão sưng mọng lên, to tướng trông thật gớm ghiếc. Người ta giải thích một cách
khó khăn cho lão hiểu đầu đề câu chuyện ra sao. Bấy giờ, ngón tay nâng vành môi
đau, ông lão kể cho chúng tôi rằng quả thật như thế. Hôm ấy, khoảng giờ Ngọ, từ
trong lều của mình, lão nghe có tiếng nứt vỡ kinh khủng trên mấy tảng đá. Vì đảo
ngập cả nước, lão không ra ngoài được. Và chỉ sáng hôm sau, mở cửa, lão thấy bờ
biển ngổn ngang những mảnh ván và xác chết sóng tấp vào đó. Hoảng sợ, lão tất
tả chạy ra chiếc ghe của mình chèo đi Bonifacio tìm người.
Mệt nhọc vì nói nhiều về câu chuyện, lão chăn dê ngồi xuống và ông sếp tiếp lời:
- Phải anh ạ, chính lão già đáng thương này đã đến phi báo cho chúng tôi. Lão gần
như điên lên vì sợ và thần kinh lão còn rối loạn vì cảnh tượng khủng khiếp. Mà
thật thì như vậy là phải. Anh hãy cứ tưởng tượng, sáu trăm xác chất đống trên cát,
chung lộn với những mảnh ván vỡ, những cánh buồm tả tơi. Thương hại chiếc
Sémillante! Biển nghiền nát nó ra tan tành, đến trong tất cả những mảnh ván vụn
của nó, lão chăn dê Palombo khó nhọc lắm mới nhặt đủ để làm một vòng rào
13
chung quanh chòi mình…. Về người, gần như không nhìn mặt được, nát bét một
cách thảm hại. Nhìn họ bám kẻ này kẻ nọ từng dề mà não cả lòng. Chúng tôi tìm
thấy được thuyền trưởng mặc lễ phục, thầy cả với chiếc tràng hạt ở cổ, trong một
góc giữa hai hòn đá, một thằng bé tập sự mắt mở trao tráo….Người ta tưởng nó
còn sống, nhưng không, đã bảo là không một người nào thoát.
Tới đây ông sếp ngừng lại, nói to:
- Nardi, coi chừng, lửa tắt kìa.
Nardi quẳng vào đống lửa hai ba mảnh ván tráng dầu phừng cháy lên, và Lionetti
tiếp tục:
- Trong câu chuyện này có một điều buồn hơn cả là như sau: Ba tuần trước tai
nạn, một chiến thuyền nhỏ cũng đi Crimée như chiếc Sémillante đã bị đắm, một
cách tương tợ gần như ở cùng một nơi. Có điều là lần ấy, chúng tôi cứu thoát được
[6]
thủy thủ đoàn và hai mươi quân nhân thông vận
trên thuyền. Anh cũng biết
đấy, các thông vận binh vô phúc này không quen với việc đắm thuyền. Người ta
đưa họ về Bonifacio và chúng tôi giữ họ hai ngày ở bến tầu. Khô ráo rồi, bình
phục rồi thì chào các anh, chúc may mắn, họ trở về Toulon để rồi ít lâu sau, người
ta họ lên tầu đi Crimée. Anh thử đoán xem tầu nào? Chiếc Sémillante anh ạ.
Chúng tôi gặp họ lại được tất cả, tất cả hai mươi người nằm giữa các xác chết ở
ngay nơi chúng ta đương ngồi….Riêng tôi, tôi nhận ra một anh cai xinh xắn có
một bộ râu lấm tấm, một anh tóc vàng gốc Paris mà tôi đã cho ngủ ở nhà, và đã
làm chúng tôi cười suốt ngày vì những câu chuyện vui của anh ta. Thấy anh nằm
đó, mà lòng tôi se thắt. Chúa ôi!
Đến đây cảm động quá, ông Lionetti rẩy tàn thuốc ống điếu và lăn tròn trong chiếc
áo tơi, sau khi chúc tôi ngủ ngon….Trong giây lâu nữa, các thủy thủ còn thầm thì
với nhau…..Rồi lần lượt các ống điếu tắt ngấm….Người ta không nói chuyện
nữa….Lão chăn dê bỏ đi….Và tôi chỉ còn một mình để mơ tưởng giữa đoàn thủy
thủ ngủ say.
Vẫn còn chìm trong cảm giác gây nên do câu chuyện hãi hùng vừa nghe, tôi cố tạo
lại trong tư tưởng chiếc thuyền vô phúc quá cố và câu chuyện hấp hối mà chỉ có
mấy con thủy kê là những kẻ làm chứng duy nhất. Vài chi tiết đập vào mắt tôi, vị
thuyền trưởng mặc lễ phục, chiếc vòng tràng hạt của thầy cả, hai mươi thông vận
binh, giúp tôi đoán được tất cả những biến chuyển của thảm kịch…. Tôi thấy
14
chiếc thuyền rời Toulon trong đêm….Thuyền ra khỏi cảng. Biển xấu, gió đáng sợ
nhưng thuyền trưởng của mọi người là một thủy thủ đảm lược và mọi người trên
thuyền đều yên dạ.
Buổi sáng, sương mù nổi dậy. Người ta bắt đầu lo lắng. Tất cả thủy thủ đều ở trên.
Thuyền trưởng không rời boong. Trong boong giữa, nơi nhốt các binh sĩ, tối đen:
không khí nóng. Vài người ốm nằm trên túi xách của họ. Thuyền chóng chành
một cách ghê sợ; không tài nào đứng vững được. Người ta ngồi dưới sàn từng
nhóm và bám vào vách mà chuyện trò; phải la to mới nghe được. Trong số, có
người bắt đầu sợ. Nghe đây họ kể. Ở quãng này thuyền vẫn đắm luôn, cứ hỏi mấy
anh thông vận binh thì biết và những gì họ thuật không làm cho người ta yên dạ
chút nào. Nhất là anh cai của họ, một người Paris lúc nào cũng nói đùa, làm cho
họ rởn da gà, với những câu cà rởn của anh ta:
- Đắm thuyền à? Vui lắm chứ sao, đắm thuyền. Chỉ tắm nước đá một chuyến và
rồi người ta đưa mình về Bonifacio để ăn ở nhà ông sếp Lionetti.
Và bọn lính cười ồ….
Thình lình có tiếng nứt vỡ. Gì vậy? Chuyện gì vậy?
- Bánh lái vừa trôi mất - Một thủy thủ vừa chạy ngang vừa nói, mình mẩy ướt
đẫm.
- Hành trình vui vẻ nhé – Anh cai bướng bỉnh kêu to. Nhưng lời anh không làm ai
cười nữa.
Hỗn loạn trên boong. Sương mù ngăn trở không cho thấy nhau. Mấy thủy thủ
chạy qua chạy lại, sờ soạng, kinh hãi….Không còn bánh lái, không điều khiển gì
nữa được. Chiếc Sémillante không lái vùn vụt dưới gió. Chính vào lúc này mà
người lính đoan thấy thuyền trôi qua. Khi ấy mười một giờ rưỡi. Phía trước chiến
thuyền, người ta nghe như một tiếng đại bác. Đá rạn! đá rạn!….Thôi rồi, không
còn hy vọng gì nữa, tầu đi ngay vào phía bờ….Thuyền trưởng xuống căn buồng
của mình. Chập sau, ông trở lại trên boong – mình mặc lễ phục….Ông muốn
người ông đẹp đẽ để mà chết.
Trong boong giữa, quân sĩ lo lắng, nhìn nhau không nói gì….Mấy người ốm cố
trỗi dậy….Anh cai nhỏ bé không cười nữa….Lúc bấy giờ, cửa mở và thầy cả hiện
ra, vòng tràng hạt trong tay.
15
- Quì xuống, các con.
Mọi người nghe theo. Với một giọng oang oang, thầy cả bắt đầu bài cầu nguyện
của những người sắp chết.
Đột nhiên, một tiếng va chạm khủng khiếp, một tiếng kêu, một tiếng kêu duy nhất,
một tiếng kêu mênh mông, những cánh tay đưa ra, những bàn tay bấu víu nhau,
những cái nhìn kinh hãi trong ấy hình ảnh của cái chết thoáng qua nhanh như tia
chớp.
Chúa ơi!
Suốt đêm tôi mơ tưởng như thế, gợi lại cách nhau mười năm, linh hồn chiếc
thuyền vô phúc mà những mảnh vụn bao quanh tôi….Đàng xa, trong eo biển,
giông tố bão bùng; ngọn lửa nhóm đêm cuốn đi dưới ngọn cuồng phong, và tôi
nghe chiếc tầu của chúng tôi bập bềnh dưới chân đá. Khua dây neo kêu lên.
16
BÍ MẬT CỦA LÃO CORNILLE.
LE SECRET DE MAITRE CORNILLE.
Francet Mamai, một lão thổi sáo già thỉnh thoảng vẫn đến họp đêm tại nhà tôi,
một chiều nọ vừa uống rượu nấu, vừa kể cho tôi một tấn kịch con con trong làng,
tấn kịch mà cối xay gió của tôi được chứng
 





