BẢN TIN HÔM NAY

Thực hiện Công văn số 5607/BGDĐT-GDNNGDTX ngày 15/9/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025; Công văn số 4050/GDĐT-GDTX-GDMN-CTHSSV ngày 23/9/2025 của Sở GDĐT về việc tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025.Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ năm học của đơn vị .Trường THPT Đặng Huy Trứ xây dựng kế hoạch Hưởng ứng tuần lễ học tập suốt đời năm 2025. Đây là hoạt động thường niên có ý nghĩa thiết thực, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên, học sinh và cộng đồng về vai trò của việc học tập suốt đời trong xây dựng xã hội học tập, góp phần phát triển quê hương Nam Thái Ninh ngày càng văn minh, tiến bộ. Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025 mang chủ đề: “Học để phát triển bản thân, làm chủ tri thức và công nghệ, góp phần xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng”. Chủ đề này nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học, học tập suốt đời gắn với việc chủ động làm chủ tri thức và công nghệ. Trong thời đại công nghệ số, tri thức nhân loại thay đổi từng ngày. Việc học không chỉ diễn ra trong lớp học mà còn ở mọi nơi: qua sách báo, internet, thư viện, các lớp học cộng đồng, hay từ chính những trải nghiệm thực tế trong cuộc sống. Học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người dân. Người lớn học để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, trẻ em học để phát triển toàn diện, người cao tuổi học để sống vui, sống khỏe. Mỗi người học một cách, học ở mọi nơi, mọi lúc - miễn là có khát vọng vươn lên.

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

LIÊN KẾT WEBSITE

SÁCH ĐIỆN TỬ- SGV, SGK

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 14

    SÁCH NÓI

    https://sachnoi.cc/truyen-ngan/truyen-noi-nghin-le-mot-dem-antoine-galland/

    Menu chức năng 15

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7219497009296_5f0ee82ecf936cff10f74cf311b01a0c.jpg Z7219496993044_cee7b7dec674834140fe3f089d1d759e.jpg ANH_LIEN_THONG.PNG Anh_6.jpg Anh_4.jpg Anh_3.jpg Anh_2.jpg Anh_1.jpg Anh_10.jpg Anh_8.jpg Anh_7.jpg Anh_6.jpg Anh_6.jpg Anh_5.jpg Anh_3.jpg Anh_1.jpg 146701loi_gioi_thieu_NhasachMienphicom.mp3

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH THAM KHẢO

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Những ngày xanh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: https://sachmoi.net
    Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
    Ngày gửi: 10h:58' 05-12-2025
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    1

    Những Ngày Xanh
    Nguyên tác: The Green Years
    Ebook miễn phí tại : www.sachmoi.net
    MỤC LỤC
    Lời giới thiệu
    Chương một
    Chương hai
    Chương ba
    Chương bốn
    Chương năm
    Chương sáu
    Chương bảy
    Chương tám
    Chương chín
    Chương mười
    Chương mười một
    Chương mười hai
    Chương mười ba
    Chương mười bốn
    Chương mười lăm
    Chưong mười sáu
    Chương mười bảy
    Chương mười tám
    Chưong mười chín
    Chương hai mươi
    Chương cuối

    2

    Lời giới thiệu

        Archibald Joseph Cronin sinh tại Tô Cách Lan năm 1896.
    Ông học Y khoa ở đại học Glasgow.
    1916, thế chiến thứ nhất ông tình nguyện gia nhập hải quân với cấp bậc Trung úy
    Y sĩ.
     
    Chiến tranh kết thúc, ông trở lại tiếp tục học Y khoa.
    Rồi ông tập sự bốn năm trong những khu vực hầm mỏ phía nam vùng Wales.
     
    Thời gian này ông thu thập được rất nhiều tài liệu về đời sống cơ cực của dân lao
    động nghèo, nhất là đời sống của thợ thuyền trong hầm mỏ.
     
    Sau đó, ông chuyển hẳn về Luân Đôn và mở phòng mạch tại khu vực phía Tây khá
    nhiều năm.
    Kế đến, vì sức khỏe kém ông buộc phải ngừng làm việc để dưỡng bệnh.
     
    Là bác sĩ, A. J. Cronin có nhiều dịp tiếp xúc với đủ hạng người, đầu óc tinh nhạy
    không chỉ trong lĩnh vực nghề nghiệp nên ông hiểu rõ tâm tình, cá tính, mặt tốt
    cũng như mặt xấu của từng người. Nhờ vậy, ông đã tích lũy được số vốn lớn, rất
    quý cho việc trước tác về sau, khi phải bỏ nghề y, vào năm 1930.
     
    Văn nghiệp của ông bắt đầu… và vừa đặt bút, ông thành công ngay ở tác phẩm
    thứ nhất: “Lâu đài người bán nón” (1931). Những tác phẩm khác kế tiếp ra đời
    cũng đều được đón tiếp nồng nhiệt, không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài.
     
    Tại Việt Nam, chúng ta được đọc khá nhiều sách ông qua các bản dịch, tiêu biểu
    nhất, ngoài “Lâu đài người bán nón” còn có “Thành trì”, “Gươm công lý”, “Số
    phận của Robert Shannon” v.v…
     
    Ông có lối viết giản dị, chân thật, chính xác, đầy hấp lực. Từ kẻ hung bạo, vô
    lương, thâm độc đến người thuần phác, đôn hậu, vị tha, qua ngòi bút tinh sắc của
    ông họ đều như sống thật, đi lại, nói năng, hành động… Cá tính họ nổi bật rất tự
    nhiên, không chút gượng ép. Văn ông giàu tình tiết, hết sức lôi cuốn mà không sa
    đà. Ông tả hạng người thế nào thì phong cách biểu hiện đúng như thế. Điều đáng
    kể nhất là tác phẩm ông chan chứa lòng nhân mà không hề có giọng dạy đời,

    3

    công thức.
     
    Hiển nhiên, chúng tôi không xác quyết là văn ông hay nhất. Tuy vậy, có một điều
    quan trọng để người thưởng ngoạn đánh giá tác phẩm, ấy là sau khi đọc xong ta
    cảm thấy yêu đời hơn lên, muốn phấn đấu chớ không nản lòng, bỏ cuộc.
     
    Với niềm tin ấy, chúng tôi gửi đến bạn đọc quyển sách nhỏ này.
      

    4

    Chương một
       Nắm chặt tay bà ngoại, tôi bước ra khỏi nhà ga tối om, tiến vào thành phố xa
    lạ, sương mù bao phủ.
    Hôm nay, lần đầu tiên gặp mặt ngoại tôi nhưng tôi sẵn sàng chờ đợi bàn tay dịu
    hiền che chở của người. Tôi cũng sẵn sàng để yêu thương, tin tưởng bà tôi dù là
    tình cảm trong lòng không được… tự nhiên mấy và dù bà tỏ ra rất vồn vã, săn đón
    đứa cháu mồ côi, bạc phước của người… Bên cái máy tự động bán sô cô la, bà tôi
    mua cho tôi một miếng, đó là thứ quà tôi rất thích, song tôi vẫn khó mà vui cho
    được.
    Có lẽ do bà cháu tôi gặp nhau đột ngột quá, và phần nữa bởi khuôn mặt bà tôi cằn
    cỗi, chất chứa đầy lo lắng khác hẳn khuôn mặt xinh xắn, tươi đẹp của mẹ tôi, cho
    nên dù tôi đã được người ta cho biết trước đó là người đã sinh ra mẹ tôi, tôi vẫn
    ngỡ ngàng, bối rối.
       Bà cháu tôi khởi hành từ Winton và suốt cuộc hành trình dài dặc bà tôi ngồi đối
    diện với tôi trong toa xe hỏa hạng ba. Bà tôi phục sức đơn giản, áo vải màu xám
    sờn cổ, một khăn quàng bằng lông thú mỏng quấn quanh cổ, đôi hoa tai đen, nhỏ,
    lủng lẳng và một món nữ trang rẻ tiền nhận hột đá đo đỏ, nom bà còn buồn bã hơn
    cả chính tôi.
    Đôi mắt không ngớt nhìn ra khung cửa sổ, đôi môi mấp máy như đang nói mà
    không thành lời, thỉnh thoảng bà ngoại đưa khăn lên phất phất vài cái trước mắt
    như để đuổi những con ruồi lì lợm: dáng bộ bà hết sức nôn nả.
    Xuống ga, bà ngoại vui vẻ một chút, mỉm cười âu yếm và nắm chặt tay tôi:
    - Con không khóc nữa! Con ngoan quá! Con có thể đi bộ về nhà với bà chớ?
    Không xa lắm đâu, con ạ!
    Muốn người vui lòng, tôi quả quyết rằng tôi đi bộ được. Trong thoáng chốc chiếc
    xe ngựa độc nhất đón khách bỏ xa chúng tôi, rời ga.
    Vừa đi, bà tôi vừa chỉ cho tôi những dãy nhà to lớn, cốt để tôi được thêm hăng
    hái. Chúng tôi đi sâu vào con đường lớn dẫn vào thành phố.
    Con đường như thể lắc lư theo nhịp bước, tai tôi vẫn còn ù ù vì tiếng sóng gầm
    trên mặt bể Ái Nhĩ Lan.
    Ngang một dinh thự khá đẹp có những hàng cột đồ sộ bằng đá mài, trước mặt tiền
    có bày hai khẩu đại bác và một cột buồm cao, bà tôi cất giọng hãnh diện:
    - Robert này, đây là Tòa Đô sảnh của Levenford. Đẹp ghê không? Ông ngoại con
    làm việc trong đó. Ông lo việc Vệ sinh Công cộng.
    Tôi băn khoăn suy luận thầm: ông ngoại? À! Chắc là chồng bà ngoại, mà bà ngoại
    là mẹ của mẹ mình vậy thì ông là cha của mẹ mình?... Ông có hiền không? Ông ấy
    là cha của mẹ mình chớ không phải là cha mình, vậy thì…
    Tôi bắt đầu mỏi chân và bà tôi nhận biết điều này, giọng bà ái ngại:

    5

    - Thật không may cho bà cháu ta, hôm nay tàu điện không chạy, xe ngựa đắt
    tiền…
    Tôi thấm mệt và hơi lo sợ nữa. Buổi trưa tháng 8 trời xám xịt, tiếng ồn ào trên
    công lộ làm tôi càng cau có vì nhớ lại những tiếng động quen thuộc thường vọng
    lên tận cửa sổ nhà tôi ở Phoenix Terrace. Tiếng búa gõ chan chát từ một xưởng
    đóng tàu gần đó… Ngoại giơ bàn tay (với chiếc găng rẻ tiền, xấu xí) chỉ cho tôi
    thấy một hãng đồ nhôm và tôi nhận thấy ánh lửa lập lòe, khói tuôn lên cuồn cuộn.
    Rồi bà cháu rẽ vào một con đường nhỏ hơn, đến ngã tư, gió thổi mạnh tạt bụi vào
    mắt tôi làm tôi ho sặc lên.
    Chúng tôi đã bỏ lại phía sau sự náo động nhức đầu, tiến gần một công viên nhỏ,
    có hồ nước lấp lánh và một quán nhạc. Rồi ra ngoại ô. Nơi này nom như một làng
    nhỏ xinh xắn và êm ả nằm dưới chân một ngọn đồi xanh tươi. Nhiều khóm cây,
    bồn cỏ, vài quán tạp hóa nhỏ, một lò rèn phía trước có chỗ cho ngựa nghỉ chân,
    uống nước và cũng có những biệt thự mới tinh đáng ghét, mang những cái tên
    kiểu cách như: "Helensville" hay "Glenelg" khắc trên tấm bảng vàng chói gắn
    ngay trước cổng.
    Cuối cùng, chúng tôi dừng lại trên đường Drumbuck, trước một căn nhà song lập
    cao ráo, bằng đá xám, cửa sổ treo rèm màu kem và mang tên "Lomond View".
    Đây là căn nhà nghèo nàn nhất của con đường êm ả này. Chỉ những khung cửa ra
    vào và cửa sổ mới được tô xi măng. Mặt tiền căn nhà bớt vẻ buồn thảm, nặng nề
    nhờ những hàng cúc nở vàng khắp chân thềm và lác đác quanh đó.
    - Đến nơi rồi, con ạ!
    Ngoại tôi thở phào khoan khoái vì đã tới nhà, vui vẻ tiếp:
    - Vào những ngày nắng ấm, chúng ta có thể ngắm khắp vùng từ cửa sổ trên kia.
    Chúng ta ở gần làng Drumbuck, con ạ! Levenford chỉ là một thị trấn nhỏ đầy khói
    nhưng mấy vùng lân cận thì rất đẹp… Nào! Hãy tỏ ra ngoan ngoãn nhé? Lau mặt
    đi con! Rồi theo ngoại…
    Tôi đã đánh mất khăn tay trong khi khóc nhưng vẫn tuân lời bà, đi dạo một vòng
    quanh nhà, tim đập loạn xạ trong lồng ngực lép xẹp, vì nghĩ đến cuộc sống mới,
    giữa những kẻ xa lạ, chưa hề biết mặt. Những lời nói chứa đầy xót thương, ái ngại
    do bà Chapman thốt ra – bà là láng giềng của mẹ tôi ở Dublin - vẫn còn vẳng ở tai
    tôi: "Tội nghiệp cho con, bé bỏng thế mà đã mồ côi cả cha lẫn mẹ… Số phận con
    rồi đây không biết sẽ ra sao". Phải! Bà ta nói thế trong khi hôn từ biệt tôi ở ga
    Winton, trước khi giao tôi cho bà ngoại. Bà khóc, nước mắt ướt đẫm má tôi.
    Đến cửa sau, ngoại tôi dừng chân trước một thanh niên, anh ta cỡ 20 tuổi dáng bộ
    nặng nề, lạnh nhạt, nước da xanh mét, tóc màu đen và đôi mắt cận thị giấu sau cặp
    kính dày cộm; anh ta đang quỳ xới đất. Thấy bà cháu tôi, anh ta đứng lên, tay vẫn
    khư khư cán cuốc. Bà tôi trách nhẹ:
    - Mẹ bắt gặp con rồi đấy nhá? Murdoch nhá!
    Đoạn, bà đẩy tôi tới trước, tiếp:

    6

    - Đây! Cháu Robert đã về đây, con ạ!
    Thanh niên nhìn tôi chăm chú một giây rồi giọng cậu cất lên nồng nhiệt:
    - Cậu rất vui được gặp cháu, Robert ạ! Chúng ta sẽ là bạn thân với nhau, cháu chịu
    không?
    Và cậu quay sang bà tôi:
    - Mẹ ơi! Hạt giống này do bác làm vườn cho con đó, chẳng tốn xu nào hết.
    - Dù vậy, con cũng nên rửa tay trước khi ba trở về. Con đừng quên là ba con
    không thích thấy con làm vườn, Murdoch ạ!      
    - Thưa mẹ, gần xong rồi, con sẽ vào ngay.
    Trước khi tiếp tục công việc, cậu ấy còn bảo bà tôi, giọng hãnh diện:
    - Con đã luộc khoai tây giúp mẹ rồi, mẹ ạ!
    Bà dắt tôi vào nhà bếp, bàn ghế tại đây không mấy tiện nghi, bằng gỗ đào chạm
    trổ, vách dán giấy kẻ ô được dùng làm phòng ăn và nơi tụ họp trong gia đình. Một
    đồng hồ quả lắc treo trên tường, tiếng tích tắc to một cách kỳ khôi.
    Giọng dịu dàng, bà bảo tôi ngồi xuống rồi cởi mũ, áo choàng mắc vào cái tủ khuất
    sau tấm màn cũ kỹ. Mang tấm tạp dề xanh vào, nom bà tôi như vừa lấy lại được tự
    tin, bà thoải mái nhìn quanh căn nhà quen thuộc bằng ánh mắt âu yếm và bắt tay
    vào việc tức thì.
    Còn tôi? Tôi ngồi thật thẳng trên ghế - nhưng nép vào một góc – cạnh lò sưởi và
    chỉ dám thở nhẹ như tuồng không dám làm kinh động ngôi nhà xa lạ bằng tiếng
    thở của mình.
    Ngoại tôi ôn tồn bảo:
    - Hôm nay đặc biệt, vì bà bận đi đón con nên bữa ăn chính của chúng ta sẽ là bữa
    chiều. Con nhớ khi ông ngoại về cố gắng tươi tỉnh lên một chút nhé? Ông con
    cũng có nhiều điều lo âu, bực bội, đừng làm ông con… Tội nghiệp ông con, ông
    cực nhọc vì trách nhiệm ở công sở quá…
    Bà ngoại ngừng lại để thở rồi tiếp:
    - Dì Kate của con cũng sắp về đây, dì con là giáo viên. Có lẽ mẹ con có nói đến dì
    với con chớ?
    Thấy đôi môi tái nhợt của tôi run run, ngoại an ủi:
    - Bà biết, dù con là con trai lớn nhưng gặp họ hàng lần đầu chắc cũng làm cho con
    lo lắng chút đỉnh. Không sao đâu, con ạ! Con phải biết rõ họ hàng, còn cậu Adam,
    con trai trưởng của bà nữa, cậu làm việc tại hãng Bảo hiểm ở Winton. Cậu không
    ở đây nhưng cậu rất hay về thăm nhà mỗi khi có dịp. Con cũng phải để ý đến cụ
    cố, mẹ của ông ngoại con (tuy hiện giờ cụ đi nghỉ mát ở nhà một người bạn rất xa,
    mỗi năm cụ ở đây với chúng ta sáu tháng). Sau hết là cụ cố ngoại, cha của bà
    ngoại đây…
    Hình như bà biết tôi mệt nhoài với các nhân vật vừa kể, vội vàng mỉm cười âu
    yếm:
    - Hiếm có đứa trẻ nào cỡ tuổi con mà có diễm phúc được còn thấy ông cố ngoại.

    7

    Ngoại nói thật đó, con ạ! Nhưng ngoại có ý kiến này: con không gọi hai cụ cố
    bằng cố mà gọi là ông và là bà, còn bà và ông ngoại con thì con gọi bằng ba mẹ,
    nghe không? Chốc nữa đây, con bưng cơm lên cho ông nghe? Như vậy, con vừa
    giúp bà… quên, giúp mẹ và có thể dễ dàng làm quen với ông nữa.
    Bà tôi – mà kể từ phút này, tôi sẽ gọi bằng mẹ - đặt bàn ăn cho năm người. Đoạn,
    bà dọn một mâm riêng, trên đó có ba khoanh bánh mì, một bát sứ đựng nước trà, ít
    mứt, phô mai. Tôi tò mò hỏi:
    - Thưa ngoại, ông không ăn chung với chúng ta sao?
    Bà ngoại bối rối một giây:
    - Không con ạ! Ông dùng riêng trong phòng (bà đưa mâm cho tôi) con giúp ngoại
    được chứ? Lên thang gác, ở tận cùng đó. Cẩn thận kẻo ngã, nhé!
    Tôi run rẩy, hai tay giữ chặt cái mâm bằng sơn mài, bước lên các bậc thang bằng
    gỗ đánh bóng. Ánh sáng yếu ớt của buổi xế rọi qua khung cửa sổ tròn trên mái
    nhà. Đến nơi, tôi thấy hai cánh cửa đối diện nhau, cửa thứ nhất khóa. Tôi run tay
    vặn quả nắm cửa thứ hai và cửa bật ra ngay.
    Gian phòng ông cố ngoại tôi bừa bãi không thể tả: trên giường cao, bốn trụ đồng
    đã mất nước bóng, treo rèm sặc sỡ; chăn gối vứt lung tung. Dưới chân giường có
    tấm thảm bằng da gấu được cuộn tròn trong một góc. La va bô ngả màu vàng, cũ
    kỹ, khăn mặt thì như thể là giẻ lau bàn.
    Một cái đồng hồ đen nằm trên mặt lò sưởi. Quanh phòng phảng phất mùi thuốc lá,
    mùi thức ăn, mùi hơi người tạo thành một thứ mùi hỗn tạp, thứ mùi của một gian
    phòng nhỏ có người ở thường xuyên.
    Ông cố tôi ngồi trong cái ghế bành xiêu vẹo cũng già như ông, cạnh lò sưởi. Đôi
    giày vải trong chân ông rách mướp, bộ áo quần dày cũ mèm. Trước mặt ông là cái
    bàn thấp trải khăn màu lá úa, ông đang cắm cúi ghi chép, tập tài liệu dày cộm trải
    trước mắt ông, và tờ giấy mà ông đang ghi chi chít chữ, đều đặn xinh đẹp. Bàn tay
    ông sử dụng cán bút một cách vững vàng. Cạnh ông, vừa tầm tay là một lô toàn
    gậy chống. Bên kia bàn, một hộp diêm và nhiều ống điếu bằng đất sét có nắp kim
    khí.
    Dáng dấp cao lớn, đôi vai rộng, nét mặt tươi tắn, mái tóc hoe đỏ lấm tấm bạc song
    ánh sáng rọi vào hóa thành vàng rực, râu ông cùng màu với tóc ông. Lòng trắng
    mắt hơi vàng, nhưng con ngươi màu xanh trong trẻo, sáng quắc, đây không phải là
    thứ màu xanh lờ đờ như mắt bà ngoại tôi mà là màu xanh của hoa lưu ly, trông
    thật đáng yêu! Điều làm tôi hơi bất mãn trên khuôn mặt ông cố tôi chỉ là cái mũi:
    cái mũi kỳ cục, thật to, đỏ và sần sùi. Thật tôi chưa hề thấy người nào có cái mũi
    như vậy, nó gần như muốn lấn hết các phần khác trên mặt ông cố tôi, giông giống
    như một quả dâu tây chín tới.
    Chợt thấy tôi, ông cụ ngừng tay, cài bút lên mang tai, quay lại. Cử động của ông
    làm cho cái ghế kêu lên ken két như thể đánh dấu phút quan trọng giữa ông cố và
    đứa cháu.

    8

    Hai chúng tôi cùng im lặng khá lâu, cho đến khi cái mũi dễ sợ kia không còn "đe
    dọa" tôi nữa, tôi mới cảm thấy bối rối vì nghĩ đến bộ dạng tiều tụy của tôi lúc này:
    thân hình gầy như cái que trong bộ quần áo nâu đen, dây giày thì tuột ra, khuôn
    mặt xanh xao, nhem nhuốt nước mắt, tóc bù rối.
    Ông cố lẳng lặng đẩy giấy tờ qua một bên, ra hiệu cho tôi đặt mâm cơm lên bàn.
    Rồi ông bắt đầu ăn rất mau, mắt vẫn không rời tôi. Vội vàng cho xong bữa, uống
    nước trà, đoạn ông chùi râu cẩn thận và vói tay lấy một ống điếu hút.
    -Robert đó hẳn?
    Giọng ông cố thân thiện, cởi mở. Tôi ấp úng thưa:
    - Thưa ông cố, vâng, con đây ạ!
    - Con đi đường khỏe chứ?
    - Thưa ông, khỏe.
    - Ờ, đó là những chiếc tàu có hạng. Hồi ta còn làm ở quan thuế, ta thấy chúng cập
    bến hoài. Chiếc Adder có một lằn sơn trắng trên sườn tàu, rất đặc biệt. Này,
    Robert, con biết chơi cờ "dame" không?
    - Thưa ông cố, không ạ!
    - Được rồi, ta sẽ dạy con nếu con ở đây.
    - Thưa ông cố, chắc con phải ở đây. Bà Chapman có nói với con là con không còn
    nơi nào nương tựa nữa.
    Thốt nhiên, nỗi thống khổ lại dâng lên chẹn lấy cổ họng tôi. Tôi muốn được ông
    thương yêu, tôi rất cần một người để trút gánh nặng đang đè tôi xuống. Ông há
    không biết rằng cha tôi chết vì bệnh lao và chứng bệnh di truyền đó đã giết cả hai
    cô tôi lẫn mẹ tôi ư? Láng giềng xì xầm bàn tán rằng tôi cũng đã nhiễm bệnh rồi,
    nhưng còn… nhẹ, kia mà? Than ôi! Ông tôi vẫn ngậm ống điếu, mép hơi nhếch,
    đổi hướng câu chuyện:
    - Robert, con lên tám phải không?
    - Thưa ông cố, chưa, con chưa được tám tuổi…
    Tôi muốn tỏ cho ông biết là tôi còn nhỏ lắm, nhưng lúng túng vì vẻ cứng rắn của
    ông:
    - Con lớn rồi, Robert ạ!
    Chúa ơi! Tôi mà lớn rồi? Tôi, tôi chưa đầy tám tuổi tròn mà đã mất cha mất mẹ,
    tôi khổ sở thế này… Giọng ông vang lên sang sảng:
    - Vào tuổi con, lại là con trai, phải có can đảm… Này, con thích đi bộ chứ?
    - Thưa, con chưa bao giờ đi xa.
    - Được rồi, ta sẽ dắt con đi dạo mát. Không khí trong lành của Tô Cách Lan sẽ có
    ích cho con.
    Ông thấp giọng xuống, tâm sự:
    - Ta rất bằng lòng về màu tóc của con, con có màu tóc của họ nhà ta… Người mẹ
    đáng thương của con đã thừa hưởng màu tóc này, Robert ạ!
    Tôi không thể không nén được nữa, nước mắt trào ra. Kể từ tuần trước, sau khi

    9

    chôn mẹ tôi, hễ ai nhắc đến bà là tôi khóc ròng, và sự thương hại của mọi người
    càng có cớ cho tôi khóc khỏe. Vậy mà hôm nay đây, không có bà Chapman để bà
    ôm chặt tôi vào lòng, cũng chẳng có cha sở để ông cúi xuống an ủi, vỗ về tôi…
    Tôi biết rằng nước mắt của tôi làm cố tôi phật ý nên cố nén và cũng hết sức khó
    chịu. Tôi nén khóc cho đến nỗi bật ra tiếng ho. Và tôi ho dữ dội, thót cả bụng lại
    vì ho. Một trận ho xứng đáng, không thua chi những cơn ho đáng sợ của cha tôi.
    Chờ khi cơn ho thật dứt, tôi đưa mắt nhìn ông dò xét.
    Cố tôi không hề tìm lời an ủi tôi, không nói gì cả, ông lẳng lặng rút trong túi áo
    choàng ra một hộp kẹo bằng thiếc, thong thả mở nắp và lấy ra viên kẹo to. Chắc
    ông sẽ cho mình? Tôi tự hỏi, song tôi thất vọng biết bao khi thấy ông cho viên kẹo
    vào miệng, không lý gì đến tôi cả. Tôi càng tủi thân thêm.
    Giây lâu, ông mới lên tiếng, giọng nghiêm khắc:
    - Này cháu! Có một điều ta không kham nổi, đó là đụng phải một đứa con trai mít
    ướt. Robert! Con mau nước mắt quá đi! Con phải tỏ ra can đảm coi!
    Ông rút viết từ mang tai xuống, vươn vai thở mạnh đoạn nói tiếp:
    - Ta đây, ta cũng gặp vô số chuyện khó khăn, nếu ta yếu đuối, làm sao ta có thể
    vượt qua?
    Bài đại luận của cố tôi chắc sẽ còn dài hơn nữa, dài ngoằng, nếu đúng lúc ấy
    không có tiếng chuông reo từ nhà dưới. Cố tôi ngừng lại, ra hiệu cho tôi đem mâm
    xuống. Trước khi khép cửa, tôi ngoái lại, thấy ông đã cầm bút trên tay, cắm cúi
    ghi.

    10

    Chương hai
        Xuống nhà, tôi thấy ông ngoại tôi, bà ngoại tôi, dì Kate, cậu Murdoch đang
    đợi tôi nơi bếp. Họ cùng nói chuyện và họ ngưng bặt đột ngột làm tôi hiểu ngay là
    họ đang bàn tán về tôi. Là con một, tôi hết sức nhút nhát và tính này càng tăng
    thêm gấp bội trong tình cảnh tôi, nhất là tôi đoán được lờ mờ cái hố sâu ngăn cách
    giữa mẹ và ông ngoại (mẹ tôi đã cãi lời cha, lấy một người nghèo).
    Tay chân tôi cứng đờ khi ông tiến lại gần tôi, nắm tay tôi cúi xuống hôn tôi:
    - Ông rất vui được gặp con, ông rất tiếc là không gặp con sớm hơn.
    Giọng ông buồn bã nhưng âu yếm, không cáu kỉnh như tôi tưởng. Tôi nhớ lời bà,
    cố ngăn không cho nước mắt trào ra. Dì Kate cũng dịu dàng hôn tôi.
    - Thôi, bây giờ ngồi vào bàn! Cháu tôi đói lắm rồi đó.
    Bằng giọng vui vẻ giả tạo, bà ngoại chỉ chỗ cho tôi. Khi mọi người ngồi hết rồi,
    ông tôi ngồi chỗ đầu bàn, đọc to một bài kinh lạ hết sức, tôi chưa từng nghe và
    ông cũng không làm dấu thánh giá chi cả. Đoạn, ông cắt miếng thịt bò bốc khói
    đặt trong cái dĩa hình thuẫn trước mặt ông trong khi bà tôi cho mọi người su và
    khoai tây. Ông thì chia cho tôi miếng thịt to nhất.
    Ông ngoại tôi trên dưới 50 tuổi, người nhỏ nhắn, khuôn mặt hẹp, mắt cũng nhỏ,
    râu chải cẩn thận, vài lọn tóc xõa trên trán (chừng để che bớt cái trán hói chi
    đây?). Cổ áo hồ cứng, phía trước có thắt nơ đen. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn hết
    là cái áo bằng nỉ xanh lơ đính nút đồng. Sau lưng ông, trên buýp phê đặt một cái
    mũ cát két tựa như mũ của sĩ quan hàng hải. Ông không có gì nổi bật.
    Ông có vẻ cần cù, an phận, tuy tin rằng tài năng mình chưa được dùng đúng chỗ.
    - Robert! Con phải ăn su với thịt, bổ lắm. Đừng bỏ phí!
    Khiếp hãi vì bao nhiêu đôi mắt chăm chắm nhìn mình, tôi cầm dao nĩa một cách
    vụng về, lúng túng, phần thì nĩa dao đều lớn quá đối với tuổi tôi - Hừ! Vậy mà
    ông cố bảo tôi lớn rồi! - Tệ nhất là món su nhão nhoét tôi vốn ghét, còn thịt bò thì
    dai và mặn ghê hồn.
    Hồi còn cha tôi, luôn luôn trên bàn ăn có thức ăn ngon. Mỗi bận về nhà, cha tôi
    đều có mứt cho tôi hay kẹo, bánh. Than ơi! Tôi là đứa con cưng cho nên rất kén
    ăn. Ngay cả khi cha tôi mất rồi, mỗi lần muốn cho tôi chịu ngồi xuống ăn món
    cánh gà, mẹ tôi phải hứa cho tôi 6 pence (1) và kèm một cái hôn, tôi mới chịu.
    Song giờ đây, tôi đã biết thân, tôi hiểu rằng không nên làm phật ý ông ngoại tôi,
    tôi cố nuốt món su đáng sợ.
    Ngỡ tôi mãi ăn, ông ngoại liếc nhìn và và trở lại câu chuyện bỏ dở lúc nãy:
    - Bà Chapman không đòi gì hết sao?
    - Không! Tôi xem ra bà ta đã cạn túi vì mua vé và mọi phí tổn khác. Tôi nhận thấy
    bà ta là một người nhân hậu, rất tốt bụng, tuy...
    Bà tôi trả lời nhỏ. Ông ngoại thở một hơi dài như thể vừa trút được gánh nặng

    11

    trăm cân:
    - Thật là một điều sung sướng khi được biết trên thế gian này vẫn còn có những
    người lương thiện. À, mà bà có phải thuê xe không?
    - Không, ông ạ! Cháu nó cũng chẳng có đồ đạc gì cả. Áo quần chật hết. Vả lại, tôi
    tin là có gì đáng giá, "họ" cũng chẳng chừa cho đâu.
    Ông cố nhăn mặt như tuồng phải chứng kiến cảnh tượng đau lòng lắm, và ông nói
    như rên:
    - Chúng nó chỉ biết tiêu vung lên, túng đói thế là đáng lắm.
    - Kìa, ông quên là chúng bệnh hoạn...
    - Thì đã hẳn, nhưng sao chúng không lo bảo hiểm nhân mạng chớ? Có phải đỡ
    hơn không?
    Đôi mắt nhỏ của ông chợt nhìn tôi chăm chú và tôi càng cố để nuốt món su. Giọng
    ông trang nghiêm:
    - Robert! Cháu phải ăn hết đi! Ở đây, không được phí phạm món gì cả.
    Dì Kate ngồi đối diện tôi từ nãy chỉ quay ra dán mắt ngoài cửa sổ, không chú ý
    đến câu chuyện bỗng quay lại cười với tôi để khuyến khích tôi.
    Bà tôi cho biết dì nhỏ hơn mẹ tôi ba tuổi, nhưng dì không giống mẹ tôi chút nào
    cả, dì xấu ghê đi: mắt xanh lờ đờ buồn bã, da khô, gò má cao. Tóc mẹ tôi óng ả
    còn tóc dì thì không giống bà ngoại, cũng không giống ông ngoại, nó pha trộn
    giữa hai màu ấy: hung và đen, trông nó làm sao ấy thôi.
    Thình lình dì hỏi tôi:
    - Cháu đi học chưa?
    - Thưa dì, có ạ, cháu học ở lớp do cô Barty, gần nhà...
    Dì Kate gật đầu dáng hài lòng, còn tôi thì đỏ mặt lên.
    - Cháu thích học ở đó chứ?
    - Thưa dì, thích lắm. Mỗi khi cháu trả lời đúng một câu hỏi giáo lý hay ngữ vựng
    cháu được cô cho một viên kẹo. Trong tủ sách cô có đầy kẹo, dì ạ.
    - Ở Levenford có một trường rất đẹp. Dì tin là cháu sẽ thích học.
    Ông ngoại dặng hắng:
    - Kate, ba thấy trường con dạy gần đây cũng được chớ?
    Đột nhiên, mắt dì Kate rời khung cửa sổ, dì quay phắt lại, nhìn ông vẻ bất bình
    gần như giận dữ nữa.
    - Bà biết chứ: trường John Street chả ra cái quái gì hết. Phải cho nó đến Trường
    Trung học như chúng con chứ! Ở địa vị ba, không thể làm khác hơn.
    - Có lẽ con có lý. Nhưng... (ông tôi nhìn xuống mũi giày) không cần phải cho nó
    vào học trước tam cá nguyệt thứ nhì. Con thử hỏi xem cháu học lớp mấy...
    Dì Kate lắc đầu:
    - Chưa phải lúc, nó nhọc mệt suốt ngày nay, đáng lẽ nó phải được nằm từ chiều
    kia.
    Quay sang bà tôi, dì hỏi:

    12

    - Thưa mẹ, cháu ngủ với ai đây?
    Bà tôi lúng túng, có lẽ vì bà chưa kịp nghĩ ra điều này. Bà vỗ vào trán:
    - Xem nào... xem nào... Robert lớn rồi không thể ngủ với dì, ngủ với cậu thì được,
    nhưng giường Murdoch hẹp quá, nó lại hay lăn trở, nó dám hất con xuống đất lắm
    à. Với lại, cậu hay thức khuya dò bài... (với ông ngoại tôi). Này, mình! Má đi
    vắng, ta có thể cho nó ngủ trong phòng má tạm không?
    Ông ngoại tôi lắc đầu quầy quậy:
    - Tầm phơ! Má đã trả tiền phòng khá đắt, không có quyền dùng phòng má mà
    không có ý kiến bà. Vả lại, má sắp về rồi, mình biết mà.
    Từ nãy, cậu tôi vẫn im lặng, cắm cúi ăn. Chốc chốc cậu quay sang đọc cuốn sách
    đặt cạnh dĩa, cậu chúi mũi vào sát cuốn sách cho đến nỗi tôi tưởng cậu đang hít
    mùi giấy. Bất ngờ, cậu ngẩng lên, giọng chắc nịch:
    - Hãy để cháu Robert ngủ với ông ngoại được đó, mẹ ạ!
    Ông ngoại tôi gật đầu song ánh mắt sa sầm lại khi nghe nhắc đến bố vợ. Vậy là
    vấn đề coi như giải quyết ổn thỏa. Phần tôi gần ngủ gật song tim cũng thắt lại và
    trở thành tỉnh táo khi nghĩ đến tai họa mới: đời tôi sẽ gắn liền với con người có cái
    mũi kỳ quặc trên kia?
    Tuy nhiên, tôi đâu dám tỏ lời khiếu nại, vì quá mệt mỏi và vì sợ nữa. Hai mắt tôi
    ríu lại sau đó, trong lúc dì Kate vẫy tôi lại gần và hỏi bà ngoại để lấy nước nóng
    rửa ráy cho tôi.
    - Có đấy, nhưng nhớ đừng dùng nhiều quá, phải chừa cho mẹ rửa bát, con ạ.
    Dắt tôi vào phòng tắm, dì tôi giúp tôi cởi áo quần, mặt dì đỏ lên, chắc dì xấu hổ vì
    thấy tôi trần truồng (!). Bồn tắm lát gạch men trắng đã ngả màu ngà chỉ chứa một
    ít mước chưa quá gối tôi. Dì lấy xà phòng xát khắp thân mình
     
    Gửi ý kiến