Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nhung Nguoi Khon Kho - Victor Hugo

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:22' 07-03-2024
Dung lượng: 11.3 MB
Số lượt tải: 2
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:22' 07-03-2024
Dung lượng: 11.3 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
GIỚI THIỆU
Victor Hugo (26 tháng 2, 1802 tại Besançon - 22 tháng 5,
1885 tại Paris) là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch danh
tiếng nhất của nước Pháp, là nhân vật dẫn đầu phong trào lãng
mạn (The Romantic Movement) của nền văn chương Pháp.
Victor Hugo là con út của ông Joseph Léopold Sigisbert Hugo
(1773-182 và bà Sophie Trébuchet (1772-1821). Ông sinh năm
1802 tại Besançon (thuộc vùng Franche Comté) và ông đã sinh
sống tại Pháp gần hết cuộc đời. Tuy nhiên, ông đã chọn cuộc
sống tha hương dưới thời vua Napoléon III của Pháp, ông đã
sống ở Bỉ (1851), ở đảo Jersey (1852-1855) và ở đảo Guernsey
(1855-1870 và 1872-1873).
Các tác phẩm của ông gồm 45 cuốn với hai cuốn tiểu thuyết
được toàn thế giới biết đến, là cuốn “Nhà Thờ Đức Bà Paris”
(Notre Dame de Paris, 1831) và cuốn «Những Người Khốn
Khổ» (Les Misérables, 1862), với hai nhân vật trong chuyện là
anh gù Quasidomo trong cuốn tiểu thuyết trước và Jean
Valjean trong cuốn sau.
Khả năng sáng tạo của Victor Hugo rất lớn lao, mỗi ngày
ông có thể làm 100 câu thơ hay viết 20 trang tiểu thuyết và qua
các tác phẩm của ông, đã phản ánh các phong trào chính trị và
văn chương của thời đại, đã bộc lộ rõ niềm tin của ông nơi
Khoa Học, nền Dân Chủ và Tự Do. Victor Hugo đã chào đời
vào năm 1802 và qua đời năm 1885, và do các tác phẩm đồ sộ,
thế kỷ 19 với nền văn chương đặc sắc của nước Pháp đã được
gọi là “Thế kỷ của Victor Hugo”.
• Các năm thiếu thời (1802-1830)
Victor Hugo chào đời vào ngày 26 tháng 2 năm 1802 trong
tỉnh Besancon, nước Pháp, là con trai thứ ba của ông Joseph
Léopold Sigisbert Hugo, vốn là con của một người thợ mộc,
nhưng ông Joseph đã phục vụ quân đội Pháp trong thời kỳ
Cách Mạng và lên tới cấp bậc thiếu tá, rồi về sau do lòng dũng
cảm và công trạng chiến trường, trở thành một vị tướng trong
đội quân của Napoléon. Ông Joseph đã trung thành với chế độ
mới, từ Hội Nghị Quốc Ước tới Đế Chế Thứ Nhất, đã phục vụ
cho Joseph Bonaparte và quân vụ đã khiến cho Tướng Hugo
này phải đi làm việc tại nhiều nơi.
Victor Hugo đã đi thăm cha tại nước Ý vào tuổi lên 5 và
theo học trường tiểu học tại Madrid, nước Tây Ban Nha, vào
tuổi lên 9. Ký ức về tuổi trẻ xa xứ đã được Victor Hugo ghi lại
sau này qua các tập thơ và các vở kịch. Trái ngược với người
cha theo Cách Mạng Pháp, bà mẹ của Victor Hugo lại là một
phụ nữ có tính độc lập, cương quyết, theo phe Bảo Hoàng và
không ưa cuộc đời nay đây mai đó của vợ một quân nhân, vì
thế vào năm 1812, bà Joseph Hugo đã định cư tại thành phố
Paris và từ nay, ba người con trai của bà theo đuổi một nền
giáo dục căn bản. Sự khác biệt vì tư tưởng chính trị, vì tính
tình tương phản giữa hai ông bà Hugo đã dẫn đến việc ly dị
chính thức vào năm 1818. Victor Hugo sống với mẹ, nên vào
thời gian đầu, đã theo khuynh hướng Bảo Hoàng.
Victor Hugo là con trai nhỏ nhất, đã theo học tại trường
trung học Louis Le Grand (1816-1818). Cậu Victor này từ nhỏ
đã có thiên khiếu về văn thơ, vào tuổi 15 đã yêu thương cô bạn
gái hàng xóm tên là Adèle Foucher và đã dự tính sau này theo
ngành văn học để có thể kết hôn với người yêu. Tại trường
trung học, Victor Hugo là một học sinh xuất sắc về Toán Học
và Văn Chương. Năm 1817, Victor Hugo lãnh được bằng khen
danh dự của Hàn Lâm Viện Pháp về một bài thơ dự thi rồi tới
năm 1818, đã đoạt giải nhất trong một kỳ thi thơ phú toàn
quốc. Năm 1819, Victor Hugo ghi danh vào Đại Học Luật
Khoa Paris nhưng việc theo học này đã không đều và không
có chủ đích. Các kỷ niệm về thời sinh viên nghèo này đã được
phản ánh qua nhân vật Marius trong cuốn truyện «Những
Người Khốn Khổ».
Luật Khoa không phải là tham vọng của Victor Hugo bởi vì
trong các cuốn sổ của ông đã ghi đầy các bài dịch nhiều vở
kịch, các bài thơ, đặc biệt là các thi phẩm của Virgil. Do sự
khuyến khích của bà mẹ, Victor Hugo đã lập ra tạp chí văn học
“Le Conservateur Littéraire” (Người Bảo Quản Văn Chương,
1819-1821) qua đó, các bài của ông viết về hai nhà thơ
Alphonse De Lamartine và André De Chénier, đã được nhiều
người chú ý. Trong một cuốn sổ ghi, Victor Hugo đã viết: “Tôi
sẽ trở nên một Chateaubriand hoặc chẳng ra gì”. -
Chateaubriand là nhà văn hàng đầu của nước Pháp vào đầu thế
kỷ 19.
Khi bà mẹ qua đời vào năm 1821, Victor Hugo đã từ chối
nhận trợ cấp của cha và chịu đựng cuộc sống thiếu thốn. Cũng
vào năm này, ông cho xuất bản thi phẩm đầu tiên có tên là
“Odes Et Poesies Diverses” (Các bài thơ ngắn và thơ nhiều
loại) qua đó các cảm tình Bảo Hoàng đã khiến cho ông nhận
được món tiền trợ cấp 1.000 quan một năm của Vua Louis 18
rồi nhờ số tiền này, Victor Hugo đã kết hôn với người yêu
Adèle Foucher và họ đã có với nhau 4 người con.
Năm 1823, Victor Hugo phổ biến cuốn truyện tiểu thuyết
đầu tiên tên là Han d'Islande (Đại Hãn Của Ireland), mô tả sự
man rợ của một bộ lạc chặt đầu người bằng búa đá và uống
máu kẻ địch. Cuốn truyện này được dịch sang tiếng Anh vào
năm 1825 và được nhà báo Charles Nodier cho là có giá trị
nên ông này đã mời Victor Hugo tham gia vào nhóm các nhà
viết văn thuộc trường phái Lãng Mạn (Romanticism). Nhóm
văn hữu này mang danh hiệu là Cénacle và cũng do mối liên
lạc này mà Victor Hugo quen biết Saint Beuve, một nhà phê
bình văn chương Pháp độc đáo của thế kỷ 19. Nhóm văn hữu
Cénacle họp mặt thường xuyên tại thư viện Arsenal, họ đã đề
cao tự do là các nguyên tắc của nghệ thuật và đời sống. Vào
thời kỳ này, Victor Hugo đã phổ biến một loại báo văn học có
khuynh hướng ôn hòa với tên là Muse Francaise (Thi Thần
Nước Pháp, 1823-1824). Năm 1824, Victor Hugo cho xuất bản
tập thơ ngắn Nouvelles Odes (Các bài thơ ngắn mới) rồi 2 năm
sau, xuất hiện cuốn tiểu thuyết Bug Jargal (bản dịch tiếng Anh
là The Slave King - Nhà Vua Nô Lệ). Tập thơ Odes Et
Ballades (Thơ ngắn và thơ ba tiết ba lát) là một ấn bản năm
1826, bao gồm nhiều bài thơ Victor Hugo đã làm ra trước kia
và các bài thơ sau này mang tính lãng mạn, sau đó là tập thơ
Les Orientales (Đông Phương, 1829) gợi lên các phong vị lãng
mạn và màu sắc của Phương Đông. Bằng các tập thơ ngắn này
và qua cách dùng các nhịp thơ, các hình ảnh rực rỡ, Victor
Hugo dần dần trở nên một nhà thơ lãng mạn.
Thiên tài của Victor Hugo đã thể hiện qua trường phái Lãng
Mạn như là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch qua kịch bản
“Cromwell” xuất bản năm 1827. Kịch bản này nổi tiếng vì lời
tựa dài, soạn công phu, qua đó Victor Hugo đã đề cập tới chủ
thuyết của trường phái Lãng Mạn (A Doctrine Of
Romanticism) trong một kỳ thi thơ phú toàn quốc. Victor
Hugo cho rằng các tương phản của đời người, thiện hay ác,
đẹp hay xấu, vui hay buồn, phải được tự do thể hiện trong các
cách diễn tả và bài tựa của vở kịch “Cromwell” của ông đã
phá vỡ các luật lệ cổ điển chi phối cách viết kịch từ các thời kỳ
trước. Victor Hugo đã cổ vũ cho việc chấp nhận Shakespeare
là một nhà soạn kịch kiểu mẫu, ông ủng hộ lập trường tự do
trong ba nguyên tắc viết kịch về thời gian, nơi chốn và hành
động, và chủ trương rằng trong vở kịch phải có cả các sự việc
bi hài, có cả sự tầm thường lẫn sự cao cả và như vậy, trường
phái Lãng Mạn đã lấn sang điạ hạt sân khấu.
• Giai đoạn thành công (1830-1852)
Vào khoảng năm 1831, Victor Hugo đã ưa chuộng, tôn sùng
Napoléon, ông đã cho xuất hiện tập thơ “À La Colonne” (Xếp
Hàng) và “Lui” (Người), nhưng việc giới hạn tự do báo chí
của Vua Charles X và các cách kiểm duyệt của chính quyền
thời đó lại khiến cho Victor Hugo hướng về lý tưởng tự do, sự
kiện này đã khiến ông gặp gỡ các nhà văn cấp tiến của tờ báo
Le Globe (Địa Cầu). Vở kịch “Marion De Lorme” (1829) của
ông đã bị cấm trình diễn trên sân khấu vì hình ảnh của nhà vua
đã không được trình bày thuận lợi. Victor Hugo đã phản đối
các cấm đoán, các giới hạn bằng vở kịch lịch sử “Trận Chiến
Hernani”, lần đầu tiên trình diễn vào ngày 25-2-1830. Ông viết
vở kịch Hernani này, dùng tới miền đất Tây Ban Nha làm địa
bàn với các đặc tính trung cổ, bí ẩn và độc đáo. Vở kịch
“Hernani” hầu như đã vi phạm tất cả các quy luật cổ điển của
Racine và Corneille. Ngay từ đầu, vở kịch “Hernani” đã bị
những người theo trường phái Cổ Điển la ó, phản đối, và
Théophile Gautier là một nhà văn nổi danh thời đó đã phải ghi
nhận rằng cả hai trường phái đã đối nghịch nhau trong các
cuộc tranh luận văn chương. Vở kịch “Hernani” đã được trình
diễn 45 lần, một thành công đáng kể đối với thời bấy giờ và
cuối cùng, các nhà văn cổ điển đã phải chịu thua. Victor Hugo
được ca ngợi là người đã giết chết “con rồng cổ điển” và
trường phái Lãng Mạn đã toàn thắng về mọi mặt. Victor Hugo
trở thành nhà lãnh đạo của phong trào Văn Chương Lãng Mạn
của nước Pháp. Vở kịch “Hernani” về sau được Giuseppe
Verdi, nhà soạn nhạc người Ý, dựa theo đó mà sáng tác ra nhạc
kịch Ernani vào năm 1844.
Giai đoạn sáng tác phong phú nhất của Victor Hugo là các
năm từ 1829 tới 1843. Năm 1831, cuốn truyện “Nhà Thờ Đức
Bà Paris” (Notre Dame de Paris, dịch sang tiếng Anh là The
Hunchback of Notre Dame, Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà) là
một tiểu thuyết lịch sử, đề cập tới đời sống dưới thời Vua
Louis XI. Cuốn truyện đã lên án xã hội, đã chồng chất các đau
khổ lên đầu các nạn nhân như anh gù Quasidomo và người con
gái “gypsy” tên là Esmeralda. Cuốn tiểu thuyết này đã làm xúc
động lương tâm của quần chúng hơn là cuốn truyện đã được
xuất bản khi trước, với tên là “Ngày Cuối Cùng Của Một Tử
Tội” (Le Dernier Jour d'un condamné, 1829) qua đó Victor
Hugo đã phản kháng án tử hình.
Cuốn truyện “Nhà Thờ Đức Bà Paris” đã được dịch sang
nhiều ngôn ngữ khác. Qua tác phẩm này, Victor Hugo đã mô tả
cuộc sống bi hài của anh gù kéo chuông cũng như vẻ rực rỡ
của ngôi giáo đường và thành phố Paris thời trước. Victor
Hugo cũng xác định rằng một tác phẩm văn học phải là một
công trình của trí tưởng tượng, của các biến đổi và những điều
dị thường. Tác phẩm văn chương “Nhà Thờ Đức Bà Paris” đã
xác nhận Victor Hugo là nhà văn hàng đầu của nước Pháp.
Trong thời gian cuốn truyện “Nhà Thờ Đức Bà Paris” đang
được viết, Vua Louis Philippe đã trở thành vị vua của thể chế
Quân Chủ Lập Hiến sau cuộc Cách Mạng Tháng 7 (The July
Revolution). Nhân dịp này, Victor Hugo đã làm một tập thơ đề
cao sự kiện kể trên với tên là “Dicté après Juillet 1830” (Lời
thơ sau Cuộc Cách Mạng Tháng 7- 1830) và đây là tập thơ đi
trước của loại thơ mang tính chất chính trị của ông.
Cũng vào thời đại Quân Chủ Tháng 7 này, Victor Hugo còn
cho xuất hiện tập thơ “Lá Thu” (Le Feuilles D'automne, 1831)
với các cảm hứng cá nhân và thân thương, “Các Bài Ca Hoàng
Hôn” (Les Chants du Crépuscule, 1835) mang tính chính trị,
“Các Lời Nội Tâm” (Les Voix intérieures, 1837) chứa đựng
các ý tưởng cá nhân và triết học, “Tia Sáng Và Bóng Tối” (Les
Rayons et les Ombres, 1840) qua đó tác giả dùng tới nhiều chi
tiết, màu sắc và hình ảnh. Victor Hugo không chỉ biểu lộ các
cảm tưởng cá nhân, các câu thơ của ông còn là tiếng nói đề
cập tới các vấn đề Chính Trị và Trết Học, mang nhiều băn
khoăn của thời đại. Các bài thơ của Victor Hugo gợi lên nỗi
nghèo khó của người công nhân cùng các vấn đề của thế kỷ.
Victor Hugo cũng dùng thơ phú để ca ngợi sự rực rỡ của
Napoléon và hô hào trở lại các lý tưởng Cộng Hòa. Ông đã nói
ra bằng các lời lẽ hùng hồn, làm xao động tâm hồn của mọi
người.
Khả năng sáng tạo của Victor Hugo rất lớn lao và đã thể
hiện qua các vở kịch. Có hai động lực thúc đẩy ông viết kịch:
Ông cần một diễn đàn để trình bày các tư tưởng chính trị và xã
hội, và lý do nữa là vì cô Juliette Drouet, một diễn viên trẻ
đẹp, mà ông đã quen từ năm 1833. Juliette thực ra không có tài
năng diễn xuất nên không lâu đã từ bỏ sân khấu và trở thành
người tình trung thành và kín miệng, một thư ký và một người
bạn du lịch với nhà văn, cho tới năm 1883 khi cô ta qua đời.
Vở kịch đầu tiên của Victor Hugo là một kịch thơ có tên là
“Le Roi s' amuse” (Nhà Vua Tiêu Khiển - 1832) mô tả các
tình yêu nông nổi của Vua Francis I vào thời kỳ Phục Hưng
Pháp. Cũng giống như cuốn truyện “Nhà Thờ Đức Bà Paris”,
kịch thơ kể trên đã chỉ trích các bất công chính trị và xã hội tại
nước Pháp. Đầu tiên vở kịch “Nhà Vua Tiêu Khiển” đã bị
chính quyền cấm đoán nhưng về sau được phép trình diễn và
lại được nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi dùng làm lời cho nhạc
kịch Rigoletto. Bốn vở kịch thơ kế tiếp của Victor Hugo là
“Lucrèce Borgia” và “Marie Tudor” (1833), “Angelo, Bạo
Chúa Của Thành Padoue” (Angelo, tyran de Padoue,1835),
“Ruy Blas” (1837) và “Les Burgraves” (1843, được dịch qua
tiếng Anh là The Governors - Các Thống Đốc) và vở kịch sau
cùng này đã không thành công.
Tháng 9 năm 1843, người con gái của Victor Hugo tên là
Léopoldine mới kết hôn, đã bị chết đuối cùng người chồng
trong một tai nạn, sự việc này đã khiến cho Victor Hugo rất
đau buồn. Ông đã ngưng sáng tác trong vài năm, một phần
cũng vì các xáo trộn chính trị và xã hội của thời cuộc. Xã hội
của nước Pháp vào giai đoạn này gặp nhiều bất ổn chính trị và
thay đổi. Các nhà văn lãng mạn thấy rằng nhiệm vụ của họ
không phải là chỉ viết ra các tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp, điều
hay, mà tài năng của họ còn phải được dùng vào việc nói lên
các điều bất công trong xã hội và việc giúp đỡ các người
nghèo, các người bị áp bức. Nhận định này đã chấm dứt thời
kỳ văn chương lãng mạn và bắt đầu thời kỳ hiện thực và tự
nhiên (Realistic Naturalistic period).
Trong khi chính trị và xã hội của nước Pháp thay đổi, thì lập
trường chính trị của Victor Hugo cũng biến đổi theo thời gian.
Từ khuynh hướng Bảo Hoàng của người mẹ, Victor Hugo dần
dần mở rộng quan điểm chính trị, dàn hòa với người cha vào
năm 1822 để rồi trở nên một người Cộng Hòa ôn hòa. Sau
cuộc Cách Mạng năm 1848, Victor Hugo được bầu làm đại
biểu của thành phố Paris vào Hội Nghị Lập Hiến rồi về sau là
Hội Nghị Lập Pháp. Ông đã ủng hộ ông hoàng Louis
Napoléon lúc đầu, nhưng vào tháng 2 năm 1851 đã xẩy ra một
cuộc đảo chính và Louis Napoléon đã hủy bỏ chế độ Cộng
Hòa, thành lập Đế Chế Thứ Hai (the Second Empire) và trở
nên Vua Napoléon III. Do thất bại trong cuộc tập hợp các công
nhân của thành phố Paris biểu tình chống lại nhà vua mới,
Victor Hugo phải cải trang thành một công nhân và trốn qua
đất Bỉ.
• Giai đoạn lưu vong (1851-1870)
Ngày 17 tháng 7 năm 1851, Victor Hugo đã trình bày trước
Quốc Hội Pháp một bài đả kích ông hoàng Louis Napoléon.
Ông đã giận dữ tuyên bố rằng “Chúng ta đã có Napoléon Đại
Đế, phải chăng chúng ta cần có Napoléon Bé Nhỏ ” (Napoléon
le Petit). Lời nói “Napoléon Bé Nhỏ” đã là một câu hô hào
chống lại Vua Napoléon III trong 19 năm. Sau khi nhà vua này
đã dẹp tan được mọi chống đối, lệnh truy nã Victor Hugo được
ký vào ngày 3 tháng 12-1851 khiến cho ông phải chạy qua
nước Bỉ rồi các hoạt động chính trị của ông đã khiến cho chính
quyền Bỉ đã phải yêu cầu ông ra đi. Victor Hugo chạy qua
nước Anh, đầu tiên cư ngụ trên đảo Jersey thuộc vùng biển
Channel từ năm 1852 tới năm 1855. Victor Hugo đã dùng các
bài viết đầu tiên của thời kỳ lưu vong vào việc châm biếm và
kết tội Vua Napoléon Bé Nhỏ, mô tả nhà vua này là kẻ cắp, kẻ
hèn nhát và bạo chúa. Khi nước Anh và nước Pháp trở nên
đồng minh chống lại nước Nga trong trận chiến tranh Crimea,
các chỉ trích của Victor Hugo đã làm cho chính quyền Anh bối
rối và ông bị trục xuất khỏi đảo Jersey. Ông dời sang hòn đảo
Guernsey, là nơi có thể nhìn thấy bờ biển của nước Pháp.
Thời gian gần 20 năm sống lưu vong này là thời kỳ sáng tác
phong phú nhất của Victor Hugo. Ông đã làm các lời thơ châm
biếm trong các tập thơ “Napoléon Bé Nhỏ” (Napoléon le petit,
1852), “Trừng Phạt” (Les Chatiments, 1853) và đây là một
trong các tập thơ chỉ trích mạnh mẽ nhất của ngôn ngữ Pháp.
Trong thời gian sống lưu vong trên đảo Guernsey, Victor Hugo
đã dùng văn chương mô tả các sự thật sâu xa nhất mà ông đã
trải qua. Tập thơ “Suy Tưởng” (Les Comtemplations, 1856) là
tập thơ được chia làm hai phần, là “Ngày Trước” (Autrefois)
và “Ngày Nay” (Aujourd'hui) ngăn cách bằng ngày qua đời
của cô con gái Leopoldine. Victor Hugo đã đề cập tới thiên
nhiên, tình yêu và sự chết. Bằng tập thơ anh hùng ca “Truyền
thuyết Của Các Thế Kỷ” (La Légend des Siècles, 1859),
Victor Hugo đã nói về các tiến bộ của nhân loại qua các thế
kỷ. Ông đã bàn luận tới sự tranh đấu của con người giữa điều
tốt và điều xấu, con người giải phóng chính mình ra khỏi mọi
tôn giáo để đi tới sự thật toàn diện và ông cũng tiên liệu sự tiến
bộ của Khoa Học và của Kiến Thức.
Khi Vua Napoléon III công bố lệnh ân xá cho mọi người lưu
vong vì chống đối, Victor Hugo đã viết rằng: “Cam kết với
lương tâm của tôi, tôi chia xẻ cuộc sống luu vong với Tự Do.
Khi nào Tự Do trở về, tôi sẽ trở về”. Trong thời gian sống lưu
vong, Victor Hugo trở nên biểu tượng của Tự Do đối với nhân
dân Pháp. Ông đã viết ra trong thời gian này các thi phẩm anh
hùng ca bất hủ đồng thời hoàn thành cuốn tiểu thuyết dài nhất
và danh tiếng nhất: «Những Người Khốn Khổ» (Les
Misérables,1862), một cuốn truyện mô tả rõ ràng và kết án sự
bất công của xã hội trong thế kỷ 19.
Vào năm 1848 trước khi tham gia vào các hoạt động chính
trị, Victor Hugo đã phác thảo cuốn truyện “Những Đau Khổ”
(Les Misères) nhưng tới khi phải sống lưu vong vào năm
1960, ông trở lại với bản thảo cũ. Victor Hugo đã viết: “Dante
đã tạo ra một địa ngục từ thơ phú, tôi thử tạo ra một thứ địa
ngục khác từ thực tế”. Cuốn truyện «Những Người Khốn Khổ»
với hơn 1.200 trang, ngay từ đầu đã được mọi người công
nhận là tiểu thuyết của thế kỷ và được dịch sang nhiều ngôn
ngữ. Cuốn truyện này đã lên án các loại địa ngục nhân tạo trên
mặt đất với ba vấn đề của thời đại, đó là sự hạ giá nhân phẩm
do nghèo khó, sự suy tàn của phụ nữ vì đói khổ và sự thu hẹp
thời niên thiếu của trẻ em cả về tinh thần lẫn vật chất. Xã hội
của con người còn ngột ngạt khi mà sự ngu dốt và nghèo khó
còn tồn tại trên mặt đất.
Ngoài tác phẩm lừng danh «Những Người Khốn Khổ»,
Victor Hugo còn viết viết tác phẩm khảo luận có tên là
“William Shakepeare” (1864) qua đó bộc lộ các tư tưởng của
ông và hai tiểu thuyết khác với tên là “Les Travailleurs de la
Mer” (Những Người Lao Động Trên Biển, 1866) viết ra để
tặng cho hòn đảo Guernsey và các thủy thủ của nơi này, và
“L'homme qui rit” (Người Cười, 1869), một cuốn tiểu thuyết
về người dân nước Anh chống lại chế độ phong kiến của thế
kỷ 17. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Victor Hugo là cuốn
“Chín Mươi Ba” (Quatrevingt Treize, 1874), tập trung vào
năm 1793 đầy chính biến tại nước Pháp, đề cập tới sự công
bằng và bác ái chống lại hậu trường của cuộc Cách Mạng
Pháp.
• Trở về nước Pháp
Trong 19 năm, Victor Hugo đã báo trước sự sụp đổ của chế
độ độc tài của Vua Napoléon III và cảnh cáo về những tai họa
theo sau. Năm 1870, Vua Napoléon III đầu hàng tại Sédan vì
nước Pháp thua trận trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ và từ
nay tới lượt “Vua Napoléon Bé Nhỏ” bị đưa đi lưu vong.
Victor Hugo trở về thành phố Paris trong tiếng chào mừng trên
đường phố, trước khách sạn mọi người đều hô to câu “Victor
Hugo muôn năm”. Nhưng Văn Hào Hugo đã không an hưởng
được hòa bình. Thành phố Paris còn bị quân đội Phổ vây hãm
và Victor Hugo đã kêu gọi người Đức nên thiết lập lại hòa
bình giữa hai nước Pháp và Đức bởi vì Đế Chế Thứ Hai đã sụp
đổ. Ông viết: “Hãy xóa biên giới. Giòng sông Rhine nên được
dùng cho mọi người. Chúng ta hãy ở trong một liên bang, liên
bang của châu Âu… Hãy duy trì hòa bình quốc tế. Bây giờ hãy
bắt tay với nhau và hãy giúp đỡ lẫn nhau…”. Nhưng mặc dù
các lời kêu gọi thống thiết của văn hào, vẫn còn các hận thù
giữa người Pháp và người Đức, vẫn còn sự chia rẽ giữa phái tả
và phái hữu tại nước Pháp, một chính quyền ổn định chỉ là một
ảo tưởng. Văn hào Victor Hugo được bầu làm đại biểu của
Quốc Hội Pháp vào năm 1871 nhưng sau một tháng, ông đã từ
chức. Victor Hugo đã tình nguyện rời khỏi nước Pháp một
cách cay đắng và trở về đảo Guernsey vào năm 1872 và từ
đây, ông đã trải qua nhiều năm hướng nhìn về Tổ Quốc.
Năm 1873, Victor Hugo trở lại thành phố Paris và được bầu
vào Thượng Viện (The Senate). Ông luôn luôn chống lại các
hình thức độc tài mới, chẳng hạn như ngăn trở các tham vọng
của Thống Chế Mac Mahon. Vào năm 1868, bà vợ Adèle của
văn hào Hugo qua đời, để lại cho ông nỗi buồn vô hạn, rồi sau
đó là hai cái tang của hai người con trai, chết vào năm 1871 và
1873. Năm 1882 tới lượt cô Juliette Drouet qua đời, cô là thư
ký và cũng là người tình, người bạn đồng hành trung thành của
văn hào Hugo. Cùng vào năm 1882, lễ thượng thọ 80 của văn
hào được nước Pháp tổ chức long trọng với Đại Lộ d'Eylau
được đổi thành Đại Lộ Victor Hugo và văn hào được ca ngợi
như một vị anh hùng quốc gia.
Sức khỏe của Victor Hugo suy yếu dần. Vào mùa hè năm
1883, văn hào đã để lại những điều dặn dò, được coi như lời di
chúc: “Tôi cho những kẻ nghèo 50.000 quan. Tôi ước mong
được mang tới nghĩa trang trong quan tài của người nghèo
khó. Tôi từ chối các lời cầu nguyện của tất cả nhà thờ. Tôi tin
tưởng nơi Thượng Đế”.
Victor Hugo từ trần vào ngày 22 tháng 5 năm 1885. Mặc dù
ước vọng của ông là được chôn cất trong hoàn cảnh của kẻ
nghèo, chiếc quan tài của ông được đặt tại Khải Hoàn Môn
(Arc De Triomph) với 12 nhà thơ lớn đứng kế bên, có nhiều
kỵ binh cầm đuốc xếp hàng chung quanh và tang lễ được cử
hành long trọng như một quốc lễ để tôn kính nhà văn vĩ đại
nhất của nước Pháp. Vào ngày tang lễ, dân chúng đứng xếp
hàng dài từ Khải Hoàn Môn tới Quảng Trường Concorde. Văn
hào Victor Hugo được chôn trong Điện Panthéon, nơi an nghỉ
của các vĩ nhân của nước Pháp.
Victor Hugo là nhà văn, nhà thơ vĩ đại nhất của nước Pháp.
Sự rộng lượng trong các tư tưởng của ông, sự ân cần trong
cách diễn tả đã làm rung động tâm hồn người đọc bởi vì ông là
nhà thơ của người bình dân, đã viết ra văn, làm ra thơ với đặc
tính giản dị nhưng bao hàm bên trong sức mạnh, đề cập cả về
niềm vui lẫn nỗi buồn của nhiều người. Khi được hỏi ai là nhà
thơ lớn nhất của nước Pháp, văn hào André Gide đã trả lời:
“Vẫn là Victor Hugo”. Victor Hugo có thể bị chỉ trích về sự
nông cạn của tâm hồn tác giả và sự tầm thường của các nhân
vật trong chuyện, nhưng tầm vóc tài năng của ông về văn
chương, bao gồm cả kịch nghệ và thơ phú, thật là bao la,
không có ai sánh kịp trong lịch sử văn học kể từ thời
Shakespeare và Goethe. Mặc dù không phải là nhà tư tưởng
sâu sắc, Victor Hugo vẫn là nhà văn chân thành, hiến mình cho
“Chân, Thiện, Mỹ” và ông là văn hào được dân chúng Pháp
yêu chuộng nhất.
Về Kịch Nghệ, Victor Hugo là người phát ngôn của trường
phái Lãng Mạn, ông đã lên án sự cứng rắn về ngôn ngữ và
hình thức của trường phái Cổ Điển, chỉ quen dùng đề tài là các
vua chúa Hy Lạp hay các anh hùng La Mã. Victor Hugo đề
nghị dùng lịch sử cận đại với nhân vật trong các vở kịch có thể
là một người tư sản, một tên cướp… nhưng vẫn mang vẻ cao
thượng trên kịch trường và như vậy đã chuyển hướng Kịch
Nghệ về đường lối Hiện Thực.
Về phương diện tiểu thuyết, Victor Hugo đã đề cập tới các
vấn đề luân lý với các nhân vật trong truyện làm các hành
động đơn giản nhưng không thể quên được. Cuốn truyện “Nhà
Thờ Đức Bà Paris” là một tiểu thuyết lịch sử, với thời điểm là
các năm 1400 tại thành phố Paris. Cuốn tiểu thuyết “Chín
Mươi Ba” nói về các biến cố của cuộc Cách Mạng Pháp, còn
cuốn «Những Người Khốn Khổ» được đặt vào trong khung
cảnh của nước Pháp cùng thời đại với nhà văn, với nhân vật
Jean Valjean phấn đấu để có thể thực hiện một đời sống hữu
ích mặc dù các thành kiến của một xã hội tàn ác. Như vậy
cuốn truyện đã phản ảnh niềm tin của tác giả vào khả năng tự
quyết của cá nhân đối với các thói đời. Cuốn truyện đã mô tả
bản chất của xã hội và bản chất của con người. Victor Hugo
cho rằng các điều kiện xã hội phải thay đổi để cho các trẻ em
được nuôi dưỡng đầy đủ, đàn ông có công việc làm ăn, đàn bà
được che chở, nền giáo dục nên dành cho mọi người, cơ hội
phải công bằng và giữa con người với nhau phải có tình huynh
đệ. Cuốn tiểu thuyết «Những Người Khốn Khổ» đã đặt ra
nhiều vấn đề liên quan tới chính trị, xã hội, văn chương, lý
tưởng nhân đạo và hướng thiện. Ngoài ra, nhiều tác phẩm của
Victor Hugo còn được coi là xuất sắc vì cách canh tân về ngôn
ngữ và hình thức văn chương, vì cách vận dụng chủ đề theo
trừu tượng. Đại Văn Hào Victor Hugo xứng đáng được kể là
nhà văn đại diện lớn nhất cho Tinh Thần của nước Pháp và
Châu Âu vào Thế Kỷ 19.
Các tác phẩm của ông rất đa dạng như: Tiểu thuyết, thơ,
kịch, các bài diễn văn chính trị,… Tiêu biểu cho các tác phẩm
của ông là hai tác phẩm mang đậm tính nhân bản: «Những
Người Khốn Khổ» (Les Misérables) và Nhà Thờ Đức Bà Paris
(Notre Dame De Paris).
• Tác phẩm
— Kịch: Cromwell (1827), Hernani (1830), Marion
Delorme (1831), Le Roi s'amuse (1832), Lucrèce Borgia
(1833), Marie Tudor (1833), Angelo, tyran de Padoue (1835),
Ruy Blas (1838), Les Burgraves (1843), Torquemada (1882),
Théâtre en liberté (1886).
— Tiểu thuyết
Bug-Jargal (1820), Han d'Islande (1823), Le Dernier Jour
d'un condamné (1829), Nhà Thờ Đức Bà Paris (Notre Dame
de Paris, 1831), Claude Gueux (1834), Những Người Khốn
Khổ (Les Misérables) (1862), Les Travailleurs de la mer
(1866), Người Cười (L'Homme qui rit, 1869), Chín Mươi Ba
(Quatre-vingt-treize, 1874).
— Thơ
Odes et poésies diverses (1822), Nouvelles Odes (1824),
Odes et Ballades (1826), Les Orientales (1829), Les Feuilles
d'automne (1831), Les Chants du crépuscule (1835), Les Voix
intérieures (1837), Les Rayons et les ombres (1840), Les
Châtiments (1853), Les Contemplations (1856), Première série
de la Légende des Siècles (1859), Les Chansons des rues et
des bois (1865), L'Année terrible (1872), L'Art d'être grandpère (1877), Nouvelle série de la Légende des Siècles (1877),
Religions et religion (1880), Les Quatre Vents de l'esprit
(1881), Série complémentaire de la Légende des Siècles
(1883), La Fin de Satan (1886), Toute la Lyre (1888), Dieu
(1891), Toute la Lyre - nouvelle série (1893), Les Années
funestes (1890), Dernière Gerbe (1902), Océan Tas de pierres
(1942).
• Tác phẩm khác
Mặt Trời Lặn (1853-1855), Bạch Tuộc Và Những Cái Xúc
Tu (1866), Étude sur Mirabeau (1834), Littérature et
philosophie mêlées (1834), Le Rhin (1842), Napoléon le Petit
(pamphlet, 1852), Lettres à Louis Bonaparte (1855), William
Shakespeare (1864), Paris-Guide (1867), Mes Fils (1874),
Actes et paroles - Avant l'exil (1875), Actes et paroles Pendant l'exil (1875), Actes et paroles - Depuis l'exil (1876),
Histoire d'un crime - 1re partie (1877), Histoire d'un crime 2e partie (1878), Le Pape (1879), L'Âne (1880), L'Archipel de
la Manche (1883), Œuvres posthumes Choses vues - 1re série
(1887), Alpes et Pyrénées (1890), France et Belgique (1892),
Correspondances - Tome I (1896), Correspondances - Tome II
(1899), Choses vues - 2e série (1900), Post-scriptum de ma vie
(1901), Mille Francs de récompense (1934), Pierres (1951).
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Victor Hugo là nhà văn lãng mạn lớn nhất của nước Pháp, thế kỷ
XIX. Cuộc đời chiến đấu không ngừng của ông, những tác phẩm văn
chương của ông phản ánh trung thành những biến cố lịch sử lớn lao,
những cuộc Cách Mạng của nhân dân Pháp suốt thế kỷ XIX. Tác
phẩm của ông tiêu biểu cho ý chí tự do, lòng tha thiết yêu hòa bình,
lòng tin tưởng cao cả vào con người lao động. Bởi vậy, ngày nay ở
mọi nước, người ta đều công nhận Victor Hugo là một nhà văn tiến
bộ không những của nước Pháp mà còn là của toàn thể nhân loại.
Năm 1952, nhân dân khắp thế giới đã tổ chức long trọng lễ kỷ
niệm ngày sinh nhật lần thứ 150 của Hugo tại Vienne, thủ đô nước
Áo. Tác phẩm của ông đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế
giới.
Victor Marie Hugo sinh ngày 26 tháng 2 năm 1802 ở Besançon,
một tỉnh nhỏ ở miền Đông nước Pháp. Bố ông là một sĩ quan cao
cấp thời kỳ Napoléon Đệ Nhất. Mẹ ông thuộc một gia đình theo Chủ
Nghĩa Quân Chủ và ngoan đạo. Lúc còn nhỏ, Hugo sống với mẹ,
chịu ảnh hưởng tư tưởng của mẹ. Nhưng từ thời thơ ấu, ông đã ở
Paris “quê hương” của ông, quê hương của Cách Mạng Pháp, nên
ông sớm hấp thụ những tư tưởng Cách Mạng, tinh thần dân chủ.
Những năm còn nhỏ tuổi, Hugo theo bố mẹ sang Ý rồi sang Tây Ban
Nha. Cảnh vật chói lọi ở những nước này sẽ để lại trong thơ văn của
ông những hình ảnh tươi sáng, những kỷ niệm sâu sắc. Từ năm lên
mười, Hugo ở hẳn Paris, học tại trường trung học Louis Le Grand.
Năm mười bốn tuổi, Hugo bắt đầu làm nhiều thơ, năm mười lăm
tuối được giải thưởng thơ của Viện Hàn Lâm Pháp. Năm mười bảy
tuổi, ông bỏ học để chuyên sáng tác.
Những tác phẩm đầu tiên của ông gợi lại thời kỳ Trung Cổ phong
kiến, biểu hiện tư tưởng Quân Chủ rõ nét, những đồng thời cũng đã
có mầm mống của tư tưởng nhân đạo, chống đối lại chế độ nô lệ lúc
bấy giờ.
Từ 1820 đến 1830, Hugo liên lạc với nhóm nhà văn lãng mạn và
trở nên lãnh tụ của nhóm này. Ông mang hết thiên tài lỗi lạc và trái
tim nồng nhiệt đấu tranh cho một nền văn học mới, tự do, chống đối
lại thứ nghệ thuật gò bó, giả tạo của Chủ Nghĩa Cổ Điển lúc ấy đã
lỗi thời. Năm 1827, ông viết vở kịch Cromwell, bài tựa của vở này
được coi như bản tuyên ngôn của Phái Lãng Mạn. Hugo chủ trương
phá bỏ tất cả những luật lệ cổ điển, khắt khe và đòi hỏi phải tôn
trọng hiện thực, đòi hỏi tự do tưởng tượng. Vở kịch Hernani, diễn
năm 1830, gây ra những cuộc chiến đấu và những cuộc tranh luận
kịch liệt giữa phái cũ và phái mới. Nghệ thuật lãng mạn hoàn toàn
thắng lợi. Trên những nguyên tắc hoàn toàn mới về kịch, Hugo viết
một loạt những vở kịch lãng mạn: Marion Delorme (1829), Lucrèce
Borgia (1833), Marie Tudor (1833) và đặc biệt Ruy Blas (1838).
Ông đưa lên sân khấu những hoàn cảnh vĩ đại, những con người đầy
nhiệt huyết, những mâu thuẫn gay gắt nóng bỏng, những trái tim
nồng cháy. Người ta chú ý nhất đến vở Ruy Blas, trình bày nhân vật
chính là một người đầy tớ có tâm hồn cao thượng và yêu tha thiết
Hoàng Hậu Tây Ban Nha. Đó là cả một cuộc Cách Mạng về quan
niệm kịch của Hugo, trái hẳn lại với quan niệm kịch cổ điển.
Từ sau 1830, bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời, cũng như
trong sáng tác của Hugo. Phong trào Cách Mạng Pháp càng ngày
càng mạnh mẽ. Từ 1830 đến 1832 tại một số thành phố lớn ở Pháp,
nhất là Paris và Lyon, nhân dân lao động nổi dậy chống chính quyền
tư sản phản động, Hugo có cảm tình đặc biệt với phong trào Cách
Mạng. Trong bài tựa cuốn Lucrèce Borgia (1833), ông tuyên bố nhà
văn phải “sáng tác đồng thời với đấu tranh chính trị”. Từ 1830,
Hugo không ngừng sáng tác và không ngừng tích cực tham gia đấu
tranh chính trị. Phái lãng mạn thành hình từ 1810, đã có sự chia rẽ:
Một bên chủ trương nghệ thuật vì nghệ thuật, đứng đầu là Théophile
Gautier; một bên chủ trương nghệ thuật phục vụ dân sinh; Victor
Hugo là người sáng lập ra dòn...
Victor Hugo (26 tháng 2, 1802 tại Besançon - 22 tháng 5,
1885 tại Paris) là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch danh
tiếng nhất của nước Pháp, là nhân vật dẫn đầu phong trào lãng
mạn (The Romantic Movement) của nền văn chương Pháp.
Victor Hugo là con út của ông Joseph Léopold Sigisbert Hugo
(1773-182 và bà Sophie Trébuchet (1772-1821). Ông sinh năm
1802 tại Besançon (thuộc vùng Franche Comté) và ông đã sinh
sống tại Pháp gần hết cuộc đời. Tuy nhiên, ông đã chọn cuộc
sống tha hương dưới thời vua Napoléon III của Pháp, ông đã
sống ở Bỉ (1851), ở đảo Jersey (1852-1855) và ở đảo Guernsey
(1855-1870 và 1872-1873).
Các tác phẩm của ông gồm 45 cuốn với hai cuốn tiểu thuyết
được toàn thế giới biết đến, là cuốn “Nhà Thờ Đức Bà Paris”
(Notre Dame de Paris, 1831) và cuốn «Những Người Khốn
Khổ» (Les Misérables, 1862), với hai nhân vật trong chuyện là
anh gù Quasidomo trong cuốn tiểu thuyết trước và Jean
Valjean trong cuốn sau.
Khả năng sáng tạo của Victor Hugo rất lớn lao, mỗi ngày
ông có thể làm 100 câu thơ hay viết 20 trang tiểu thuyết và qua
các tác phẩm của ông, đã phản ánh các phong trào chính trị và
văn chương của thời đại, đã bộc lộ rõ niềm tin của ông nơi
Khoa Học, nền Dân Chủ và Tự Do. Victor Hugo đã chào đời
vào năm 1802 và qua đời năm 1885, và do các tác phẩm đồ sộ,
thế kỷ 19 với nền văn chương đặc sắc của nước Pháp đã được
gọi là “Thế kỷ của Victor Hugo”.
• Các năm thiếu thời (1802-1830)
Victor Hugo chào đời vào ngày 26 tháng 2 năm 1802 trong
tỉnh Besancon, nước Pháp, là con trai thứ ba của ông Joseph
Léopold Sigisbert Hugo, vốn là con của một người thợ mộc,
nhưng ông Joseph đã phục vụ quân đội Pháp trong thời kỳ
Cách Mạng và lên tới cấp bậc thiếu tá, rồi về sau do lòng dũng
cảm và công trạng chiến trường, trở thành một vị tướng trong
đội quân của Napoléon. Ông Joseph đã trung thành với chế độ
mới, từ Hội Nghị Quốc Ước tới Đế Chế Thứ Nhất, đã phục vụ
cho Joseph Bonaparte và quân vụ đã khiến cho Tướng Hugo
này phải đi làm việc tại nhiều nơi.
Victor Hugo đã đi thăm cha tại nước Ý vào tuổi lên 5 và
theo học trường tiểu học tại Madrid, nước Tây Ban Nha, vào
tuổi lên 9. Ký ức về tuổi trẻ xa xứ đã được Victor Hugo ghi lại
sau này qua các tập thơ và các vở kịch. Trái ngược với người
cha theo Cách Mạng Pháp, bà mẹ của Victor Hugo lại là một
phụ nữ có tính độc lập, cương quyết, theo phe Bảo Hoàng và
không ưa cuộc đời nay đây mai đó của vợ một quân nhân, vì
thế vào năm 1812, bà Joseph Hugo đã định cư tại thành phố
Paris và từ nay, ba người con trai của bà theo đuổi một nền
giáo dục căn bản. Sự khác biệt vì tư tưởng chính trị, vì tính
tình tương phản giữa hai ông bà Hugo đã dẫn đến việc ly dị
chính thức vào năm 1818. Victor Hugo sống với mẹ, nên vào
thời gian đầu, đã theo khuynh hướng Bảo Hoàng.
Victor Hugo là con trai nhỏ nhất, đã theo học tại trường
trung học Louis Le Grand (1816-1818). Cậu Victor này từ nhỏ
đã có thiên khiếu về văn thơ, vào tuổi 15 đã yêu thương cô bạn
gái hàng xóm tên là Adèle Foucher và đã dự tính sau này theo
ngành văn học để có thể kết hôn với người yêu. Tại trường
trung học, Victor Hugo là một học sinh xuất sắc về Toán Học
và Văn Chương. Năm 1817, Victor Hugo lãnh được bằng khen
danh dự của Hàn Lâm Viện Pháp về một bài thơ dự thi rồi tới
năm 1818, đã đoạt giải nhất trong một kỳ thi thơ phú toàn
quốc. Năm 1819, Victor Hugo ghi danh vào Đại Học Luật
Khoa Paris nhưng việc theo học này đã không đều và không
có chủ đích. Các kỷ niệm về thời sinh viên nghèo này đã được
phản ánh qua nhân vật Marius trong cuốn truyện «Những
Người Khốn Khổ».
Luật Khoa không phải là tham vọng của Victor Hugo bởi vì
trong các cuốn sổ của ông đã ghi đầy các bài dịch nhiều vở
kịch, các bài thơ, đặc biệt là các thi phẩm của Virgil. Do sự
khuyến khích của bà mẹ, Victor Hugo đã lập ra tạp chí văn học
“Le Conservateur Littéraire” (Người Bảo Quản Văn Chương,
1819-1821) qua đó, các bài của ông viết về hai nhà thơ
Alphonse De Lamartine và André De Chénier, đã được nhiều
người chú ý. Trong một cuốn sổ ghi, Victor Hugo đã viết: “Tôi
sẽ trở nên một Chateaubriand hoặc chẳng ra gì”. -
Chateaubriand là nhà văn hàng đầu của nước Pháp vào đầu thế
kỷ 19.
Khi bà mẹ qua đời vào năm 1821, Victor Hugo đã từ chối
nhận trợ cấp của cha và chịu đựng cuộc sống thiếu thốn. Cũng
vào năm này, ông cho xuất bản thi phẩm đầu tiên có tên là
“Odes Et Poesies Diverses” (Các bài thơ ngắn và thơ nhiều
loại) qua đó các cảm tình Bảo Hoàng đã khiến cho ông nhận
được món tiền trợ cấp 1.000 quan một năm của Vua Louis 18
rồi nhờ số tiền này, Victor Hugo đã kết hôn với người yêu
Adèle Foucher và họ đã có với nhau 4 người con.
Năm 1823, Victor Hugo phổ biến cuốn truyện tiểu thuyết
đầu tiên tên là Han d'Islande (Đại Hãn Của Ireland), mô tả sự
man rợ của một bộ lạc chặt đầu người bằng búa đá và uống
máu kẻ địch. Cuốn truyện này được dịch sang tiếng Anh vào
năm 1825 và được nhà báo Charles Nodier cho là có giá trị
nên ông này đã mời Victor Hugo tham gia vào nhóm các nhà
viết văn thuộc trường phái Lãng Mạn (Romanticism). Nhóm
văn hữu này mang danh hiệu là Cénacle và cũng do mối liên
lạc này mà Victor Hugo quen biết Saint Beuve, một nhà phê
bình văn chương Pháp độc đáo của thế kỷ 19. Nhóm văn hữu
Cénacle họp mặt thường xuyên tại thư viện Arsenal, họ đã đề
cao tự do là các nguyên tắc của nghệ thuật và đời sống. Vào
thời kỳ này, Victor Hugo đã phổ biến một loại báo văn học có
khuynh hướng ôn hòa với tên là Muse Francaise (Thi Thần
Nước Pháp, 1823-1824). Năm 1824, Victor Hugo cho xuất bản
tập thơ ngắn Nouvelles Odes (Các bài thơ ngắn mới) rồi 2 năm
sau, xuất hiện cuốn tiểu thuyết Bug Jargal (bản dịch tiếng Anh
là The Slave King - Nhà Vua Nô Lệ). Tập thơ Odes Et
Ballades (Thơ ngắn và thơ ba tiết ba lát) là một ấn bản năm
1826, bao gồm nhiều bài thơ Victor Hugo đã làm ra trước kia
và các bài thơ sau này mang tính lãng mạn, sau đó là tập thơ
Les Orientales (Đông Phương, 1829) gợi lên các phong vị lãng
mạn và màu sắc của Phương Đông. Bằng các tập thơ ngắn này
và qua cách dùng các nhịp thơ, các hình ảnh rực rỡ, Victor
Hugo dần dần trở nên một nhà thơ lãng mạn.
Thiên tài của Victor Hugo đã thể hiện qua trường phái Lãng
Mạn như là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch qua kịch bản
“Cromwell” xuất bản năm 1827. Kịch bản này nổi tiếng vì lời
tựa dài, soạn công phu, qua đó Victor Hugo đã đề cập tới chủ
thuyết của trường phái Lãng Mạn (A Doctrine Of
Romanticism) trong một kỳ thi thơ phú toàn quốc. Victor
Hugo cho rằng các tương phản của đời người, thiện hay ác,
đẹp hay xấu, vui hay buồn, phải được tự do thể hiện trong các
cách diễn tả và bài tựa của vở kịch “Cromwell” của ông đã
phá vỡ các luật lệ cổ điển chi phối cách viết kịch từ các thời kỳ
trước. Victor Hugo đã cổ vũ cho việc chấp nhận Shakespeare
là một nhà soạn kịch kiểu mẫu, ông ủng hộ lập trường tự do
trong ba nguyên tắc viết kịch về thời gian, nơi chốn và hành
động, và chủ trương rằng trong vở kịch phải có cả các sự việc
bi hài, có cả sự tầm thường lẫn sự cao cả và như vậy, trường
phái Lãng Mạn đã lấn sang điạ hạt sân khấu.
• Giai đoạn thành công (1830-1852)
Vào khoảng năm 1831, Victor Hugo đã ưa chuộng, tôn sùng
Napoléon, ông đã cho xuất hiện tập thơ “À La Colonne” (Xếp
Hàng) và “Lui” (Người), nhưng việc giới hạn tự do báo chí
của Vua Charles X và các cách kiểm duyệt của chính quyền
thời đó lại khiến cho Victor Hugo hướng về lý tưởng tự do, sự
kiện này đã khiến ông gặp gỡ các nhà văn cấp tiến của tờ báo
Le Globe (Địa Cầu). Vở kịch “Marion De Lorme” (1829) của
ông đã bị cấm trình diễn trên sân khấu vì hình ảnh của nhà vua
đã không được trình bày thuận lợi. Victor Hugo đã phản đối
các cấm đoán, các giới hạn bằng vở kịch lịch sử “Trận Chiến
Hernani”, lần đầu tiên trình diễn vào ngày 25-2-1830. Ông viết
vở kịch Hernani này, dùng tới miền đất Tây Ban Nha làm địa
bàn với các đặc tính trung cổ, bí ẩn và độc đáo. Vở kịch
“Hernani” hầu như đã vi phạm tất cả các quy luật cổ điển của
Racine và Corneille. Ngay từ đầu, vở kịch “Hernani” đã bị
những người theo trường phái Cổ Điển la ó, phản đối, và
Théophile Gautier là một nhà văn nổi danh thời đó đã phải ghi
nhận rằng cả hai trường phái đã đối nghịch nhau trong các
cuộc tranh luận văn chương. Vở kịch “Hernani” đã được trình
diễn 45 lần, một thành công đáng kể đối với thời bấy giờ và
cuối cùng, các nhà văn cổ điển đã phải chịu thua. Victor Hugo
được ca ngợi là người đã giết chết “con rồng cổ điển” và
trường phái Lãng Mạn đã toàn thắng về mọi mặt. Victor Hugo
trở thành nhà lãnh đạo của phong trào Văn Chương Lãng Mạn
của nước Pháp. Vở kịch “Hernani” về sau được Giuseppe
Verdi, nhà soạn nhạc người Ý, dựa theo đó mà sáng tác ra nhạc
kịch Ernani vào năm 1844.
Giai đoạn sáng tác phong phú nhất của Victor Hugo là các
năm từ 1829 tới 1843. Năm 1831, cuốn truyện “Nhà Thờ Đức
Bà Paris” (Notre Dame de Paris, dịch sang tiếng Anh là The
Hunchback of Notre Dame, Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà) là
một tiểu thuyết lịch sử, đề cập tới đời sống dưới thời Vua
Louis XI. Cuốn truyện đã lên án xã hội, đã chồng chất các đau
khổ lên đầu các nạn nhân như anh gù Quasidomo và người con
gái “gypsy” tên là Esmeralda. Cuốn tiểu thuyết này đã làm xúc
động lương tâm của quần chúng hơn là cuốn truyện đã được
xuất bản khi trước, với tên là “Ngày Cuối Cùng Của Một Tử
Tội” (Le Dernier Jour d'un condamné, 1829) qua đó Victor
Hugo đã phản kháng án tử hình.
Cuốn truyện “Nhà Thờ Đức Bà Paris” đã được dịch sang
nhiều ngôn ngữ khác. Qua tác phẩm này, Victor Hugo đã mô tả
cuộc sống bi hài của anh gù kéo chuông cũng như vẻ rực rỡ
của ngôi giáo đường và thành phố Paris thời trước. Victor
Hugo cũng xác định rằng một tác phẩm văn học phải là một
công trình của trí tưởng tượng, của các biến đổi và những điều
dị thường. Tác phẩm văn chương “Nhà Thờ Đức Bà Paris” đã
xác nhận Victor Hugo là nhà văn hàng đầu của nước Pháp.
Trong thời gian cuốn truyện “Nhà Thờ Đức Bà Paris” đang
được viết, Vua Louis Philippe đã trở thành vị vua của thể chế
Quân Chủ Lập Hiến sau cuộc Cách Mạng Tháng 7 (The July
Revolution). Nhân dịp này, Victor Hugo đã làm một tập thơ đề
cao sự kiện kể trên với tên là “Dicté après Juillet 1830” (Lời
thơ sau Cuộc Cách Mạng Tháng 7- 1830) và đây là tập thơ đi
trước của loại thơ mang tính chất chính trị của ông.
Cũng vào thời đại Quân Chủ Tháng 7 này, Victor Hugo còn
cho xuất hiện tập thơ “Lá Thu” (Le Feuilles D'automne, 1831)
với các cảm hứng cá nhân và thân thương, “Các Bài Ca Hoàng
Hôn” (Les Chants du Crépuscule, 1835) mang tính chính trị,
“Các Lời Nội Tâm” (Les Voix intérieures, 1837) chứa đựng
các ý tưởng cá nhân và triết học, “Tia Sáng Và Bóng Tối” (Les
Rayons et les Ombres, 1840) qua đó tác giả dùng tới nhiều chi
tiết, màu sắc và hình ảnh. Victor Hugo không chỉ biểu lộ các
cảm tưởng cá nhân, các câu thơ của ông còn là tiếng nói đề
cập tới các vấn đề Chính Trị và Trết Học, mang nhiều băn
khoăn của thời đại. Các bài thơ của Victor Hugo gợi lên nỗi
nghèo khó của người công nhân cùng các vấn đề của thế kỷ.
Victor Hugo cũng dùng thơ phú để ca ngợi sự rực rỡ của
Napoléon và hô hào trở lại các lý tưởng Cộng Hòa. Ông đã nói
ra bằng các lời lẽ hùng hồn, làm xao động tâm hồn của mọi
người.
Khả năng sáng tạo của Victor Hugo rất lớn lao và đã thể
hiện qua các vở kịch. Có hai động lực thúc đẩy ông viết kịch:
Ông cần một diễn đàn để trình bày các tư tưởng chính trị và xã
hội, và lý do nữa là vì cô Juliette Drouet, một diễn viên trẻ
đẹp, mà ông đã quen từ năm 1833. Juliette thực ra không có tài
năng diễn xuất nên không lâu đã từ bỏ sân khấu và trở thành
người tình trung thành và kín miệng, một thư ký và một người
bạn du lịch với nhà văn, cho tới năm 1883 khi cô ta qua đời.
Vở kịch đầu tiên của Victor Hugo là một kịch thơ có tên là
“Le Roi s' amuse” (Nhà Vua Tiêu Khiển - 1832) mô tả các
tình yêu nông nổi của Vua Francis I vào thời kỳ Phục Hưng
Pháp. Cũng giống như cuốn truyện “Nhà Thờ Đức Bà Paris”,
kịch thơ kể trên đã chỉ trích các bất công chính trị và xã hội tại
nước Pháp. Đầu tiên vở kịch “Nhà Vua Tiêu Khiển” đã bị
chính quyền cấm đoán nhưng về sau được phép trình diễn và
lại được nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi dùng làm lời cho nhạc
kịch Rigoletto. Bốn vở kịch thơ kế tiếp của Victor Hugo là
“Lucrèce Borgia” và “Marie Tudor” (1833), “Angelo, Bạo
Chúa Của Thành Padoue” (Angelo, tyran de Padoue,1835),
“Ruy Blas” (1837) và “Les Burgraves” (1843, được dịch qua
tiếng Anh là The Governors - Các Thống Đốc) và vở kịch sau
cùng này đã không thành công.
Tháng 9 năm 1843, người con gái của Victor Hugo tên là
Léopoldine mới kết hôn, đã bị chết đuối cùng người chồng
trong một tai nạn, sự việc này đã khiến cho Victor Hugo rất
đau buồn. Ông đã ngưng sáng tác trong vài năm, một phần
cũng vì các xáo trộn chính trị và xã hội của thời cuộc. Xã hội
của nước Pháp vào giai đoạn này gặp nhiều bất ổn chính trị và
thay đổi. Các nhà văn lãng mạn thấy rằng nhiệm vụ của họ
không phải là chỉ viết ra các tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp, điều
hay, mà tài năng của họ còn phải được dùng vào việc nói lên
các điều bất công trong xã hội và việc giúp đỡ các người
nghèo, các người bị áp bức. Nhận định này đã chấm dứt thời
kỳ văn chương lãng mạn và bắt đầu thời kỳ hiện thực và tự
nhiên (Realistic Naturalistic period).
Trong khi chính trị và xã hội của nước Pháp thay đổi, thì lập
trường chính trị của Victor Hugo cũng biến đổi theo thời gian.
Từ khuynh hướng Bảo Hoàng của người mẹ, Victor Hugo dần
dần mở rộng quan điểm chính trị, dàn hòa với người cha vào
năm 1822 để rồi trở nên một người Cộng Hòa ôn hòa. Sau
cuộc Cách Mạng năm 1848, Victor Hugo được bầu làm đại
biểu của thành phố Paris vào Hội Nghị Lập Hiến rồi về sau là
Hội Nghị Lập Pháp. Ông đã ủng hộ ông hoàng Louis
Napoléon lúc đầu, nhưng vào tháng 2 năm 1851 đã xẩy ra một
cuộc đảo chính và Louis Napoléon đã hủy bỏ chế độ Cộng
Hòa, thành lập Đế Chế Thứ Hai (the Second Empire) và trở
nên Vua Napoléon III. Do thất bại trong cuộc tập hợp các công
nhân của thành phố Paris biểu tình chống lại nhà vua mới,
Victor Hugo phải cải trang thành một công nhân và trốn qua
đất Bỉ.
• Giai đoạn lưu vong (1851-1870)
Ngày 17 tháng 7 năm 1851, Victor Hugo đã trình bày trước
Quốc Hội Pháp một bài đả kích ông hoàng Louis Napoléon.
Ông đã giận dữ tuyên bố rằng “Chúng ta đã có Napoléon Đại
Đế, phải chăng chúng ta cần có Napoléon Bé Nhỏ ” (Napoléon
le Petit). Lời nói “Napoléon Bé Nhỏ” đã là một câu hô hào
chống lại Vua Napoléon III trong 19 năm. Sau khi nhà vua này
đã dẹp tan được mọi chống đối, lệnh truy nã Victor Hugo được
ký vào ngày 3 tháng 12-1851 khiến cho ông phải chạy qua
nước Bỉ rồi các hoạt động chính trị của ông đã khiến cho chính
quyền Bỉ đã phải yêu cầu ông ra đi. Victor Hugo chạy qua
nước Anh, đầu tiên cư ngụ trên đảo Jersey thuộc vùng biển
Channel từ năm 1852 tới năm 1855. Victor Hugo đã dùng các
bài viết đầu tiên của thời kỳ lưu vong vào việc châm biếm và
kết tội Vua Napoléon Bé Nhỏ, mô tả nhà vua này là kẻ cắp, kẻ
hèn nhát và bạo chúa. Khi nước Anh và nước Pháp trở nên
đồng minh chống lại nước Nga trong trận chiến tranh Crimea,
các chỉ trích của Victor Hugo đã làm cho chính quyền Anh bối
rối và ông bị trục xuất khỏi đảo Jersey. Ông dời sang hòn đảo
Guernsey, là nơi có thể nhìn thấy bờ biển của nước Pháp.
Thời gian gần 20 năm sống lưu vong này là thời kỳ sáng tác
phong phú nhất của Victor Hugo. Ông đã làm các lời thơ châm
biếm trong các tập thơ “Napoléon Bé Nhỏ” (Napoléon le petit,
1852), “Trừng Phạt” (Les Chatiments, 1853) và đây là một
trong các tập thơ chỉ trích mạnh mẽ nhất của ngôn ngữ Pháp.
Trong thời gian sống lưu vong trên đảo Guernsey, Victor Hugo
đã dùng văn chương mô tả các sự thật sâu xa nhất mà ông đã
trải qua. Tập thơ “Suy Tưởng” (Les Comtemplations, 1856) là
tập thơ được chia làm hai phần, là “Ngày Trước” (Autrefois)
và “Ngày Nay” (Aujourd'hui) ngăn cách bằng ngày qua đời
của cô con gái Leopoldine. Victor Hugo đã đề cập tới thiên
nhiên, tình yêu và sự chết. Bằng tập thơ anh hùng ca “Truyền
thuyết Của Các Thế Kỷ” (La Légend des Siècles, 1859),
Victor Hugo đã nói về các tiến bộ của nhân loại qua các thế
kỷ. Ông đã bàn luận tới sự tranh đấu của con người giữa điều
tốt và điều xấu, con người giải phóng chính mình ra khỏi mọi
tôn giáo để đi tới sự thật toàn diện và ông cũng tiên liệu sự tiến
bộ của Khoa Học và của Kiến Thức.
Khi Vua Napoléon III công bố lệnh ân xá cho mọi người lưu
vong vì chống đối, Victor Hugo đã viết rằng: “Cam kết với
lương tâm của tôi, tôi chia xẻ cuộc sống luu vong với Tự Do.
Khi nào Tự Do trở về, tôi sẽ trở về”. Trong thời gian sống lưu
vong, Victor Hugo trở nên biểu tượng của Tự Do đối với nhân
dân Pháp. Ông đã viết ra trong thời gian này các thi phẩm anh
hùng ca bất hủ đồng thời hoàn thành cuốn tiểu thuyết dài nhất
và danh tiếng nhất: «Những Người Khốn Khổ» (Les
Misérables,1862), một cuốn truyện mô tả rõ ràng và kết án sự
bất công của xã hội trong thế kỷ 19.
Vào năm 1848 trước khi tham gia vào các hoạt động chính
trị, Victor Hugo đã phác thảo cuốn truyện “Những Đau Khổ”
(Les Misères) nhưng tới khi phải sống lưu vong vào năm
1960, ông trở lại với bản thảo cũ. Victor Hugo đã viết: “Dante
đã tạo ra một địa ngục từ thơ phú, tôi thử tạo ra một thứ địa
ngục khác từ thực tế”. Cuốn truyện «Những Người Khốn Khổ»
với hơn 1.200 trang, ngay từ đầu đã được mọi người công
nhận là tiểu thuyết của thế kỷ và được dịch sang nhiều ngôn
ngữ. Cuốn truyện này đã lên án các loại địa ngục nhân tạo trên
mặt đất với ba vấn đề của thời đại, đó là sự hạ giá nhân phẩm
do nghèo khó, sự suy tàn của phụ nữ vì đói khổ và sự thu hẹp
thời niên thiếu của trẻ em cả về tinh thần lẫn vật chất. Xã hội
của con người còn ngột ngạt khi mà sự ngu dốt và nghèo khó
còn tồn tại trên mặt đất.
Ngoài tác phẩm lừng danh «Những Người Khốn Khổ»,
Victor Hugo còn viết viết tác phẩm khảo luận có tên là
“William Shakepeare” (1864) qua đó bộc lộ các tư tưởng của
ông và hai tiểu thuyết khác với tên là “Les Travailleurs de la
Mer” (Những Người Lao Động Trên Biển, 1866) viết ra để
tặng cho hòn đảo Guernsey và các thủy thủ của nơi này, và
“L'homme qui rit” (Người Cười, 1869), một cuốn tiểu thuyết
về người dân nước Anh chống lại chế độ phong kiến của thế
kỷ 17. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Victor Hugo là cuốn
“Chín Mươi Ba” (Quatrevingt Treize, 1874), tập trung vào
năm 1793 đầy chính biến tại nước Pháp, đề cập tới sự công
bằng và bác ái chống lại hậu trường của cuộc Cách Mạng
Pháp.
• Trở về nước Pháp
Trong 19 năm, Victor Hugo đã báo trước sự sụp đổ của chế
độ độc tài của Vua Napoléon III và cảnh cáo về những tai họa
theo sau. Năm 1870, Vua Napoléon III đầu hàng tại Sédan vì
nước Pháp thua trận trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ và từ
nay tới lượt “Vua Napoléon Bé Nhỏ” bị đưa đi lưu vong.
Victor Hugo trở về thành phố Paris trong tiếng chào mừng trên
đường phố, trước khách sạn mọi người đều hô to câu “Victor
Hugo muôn năm”. Nhưng Văn Hào Hugo đã không an hưởng
được hòa bình. Thành phố Paris còn bị quân đội Phổ vây hãm
và Victor Hugo đã kêu gọi người Đức nên thiết lập lại hòa
bình giữa hai nước Pháp và Đức bởi vì Đế Chế Thứ Hai đã sụp
đổ. Ông viết: “Hãy xóa biên giới. Giòng sông Rhine nên được
dùng cho mọi người. Chúng ta hãy ở trong một liên bang, liên
bang của châu Âu… Hãy duy trì hòa bình quốc tế. Bây giờ hãy
bắt tay với nhau và hãy giúp đỡ lẫn nhau…”. Nhưng mặc dù
các lời kêu gọi thống thiết của văn hào, vẫn còn các hận thù
giữa người Pháp và người Đức, vẫn còn sự chia rẽ giữa phái tả
và phái hữu tại nước Pháp, một chính quyền ổn định chỉ là một
ảo tưởng. Văn hào Victor Hugo được bầu làm đại biểu của
Quốc Hội Pháp vào năm 1871 nhưng sau một tháng, ông đã từ
chức. Victor Hugo đã tình nguyện rời khỏi nước Pháp một
cách cay đắng và trở về đảo Guernsey vào năm 1872 và từ
đây, ông đã trải qua nhiều năm hướng nhìn về Tổ Quốc.
Năm 1873, Victor Hugo trở lại thành phố Paris và được bầu
vào Thượng Viện (The Senate). Ông luôn luôn chống lại các
hình thức độc tài mới, chẳng hạn như ngăn trở các tham vọng
của Thống Chế Mac Mahon. Vào năm 1868, bà vợ Adèle của
văn hào Hugo qua đời, để lại cho ông nỗi buồn vô hạn, rồi sau
đó là hai cái tang của hai người con trai, chết vào năm 1871 và
1873. Năm 1882 tới lượt cô Juliette Drouet qua đời, cô là thư
ký và cũng là người tình, người bạn đồng hành trung thành của
văn hào Hugo. Cùng vào năm 1882, lễ thượng thọ 80 của văn
hào được nước Pháp tổ chức long trọng với Đại Lộ d'Eylau
được đổi thành Đại Lộ Victor Hugo và văn hào được ca ngợi
như một vị anh hùng quốc gia.
Sức khỏe của Victor Hugo suy yếu dần. Vào mùa hè năm
1883, văn hào đã để lại những điều dặn dò, được coi như lời di
chúc: “Tôi cho những kẻ nghèo 50.000 quan. Tôi ước mong
được mang tới nghĩa trang trong quan tài của người nghèo
khó. Tôi từ chối các lời cầu nguyện của tất cả nhà thờ. Tôi tin
tưởng nơi Thượng Đế”.
Victor Hugo từ trần vào ngày 22 tháng 5 năm 1885. Mặc dù
ước vọng của ông là được chôn cất trong hoàn cảnh của kẻ
nghèo, chiếc quan tài của ông được đặt tại Khải Hoàn Môn
(Arc De Triomph) với 12 nhà thơ lớn đứng kế bên, có nhiều
kỵ binh cầm đuốc xếp hàng chung quanh và tang lễ được cử
hành long trọng như một quốc lễ để tôn kính nhà văn vĩ đại
nhất của nước Pháp. Vào ngày tang lễ, dân chúng đứng xếp
hàng dài từ Khải Hoàn Môn tới Quảng Trường Concorde. Văn
hào Victor Hugo được chôn trong Điện Panthéon, nơi an nghỉ
của các vĩ nhân của nước Pháp.
Victor Hugo là nhà văn, nhà thơ vĩ đại nhất của nước Pháp.
Sự rộng lượng trong các tư tưởng của ông, sự ân cần trong
cách diễn tả đã làm rung động tâm hồn người đọc bởi vì ông là
nhà thơ của người bình dân, đã viết ra văn, làm ra thơ với đặc
tính giản dị nhưng bao hàm bên trong sức mạnh, đề cập cả về
niềm vui lẫn nỗi buồn của nhiều người. Khi được hỏi ai là nhà
thơ lớn nhất của nước Pháp, văn hào André Gide đã trả lời:
“Vẫn là Victor Hugo”. Victor Hugo có thể bị chỉ trích về sự
nông cạn của tâm hồn tác giả và sự tầm thường của các nhân
vật trong chuyện, nhưng tầm vóc tài năng của ông về văn
chương, bao gồm cả kịch nghệ và thơ phú, thật là bao la,
không có ai sánh kịp trong lịch sử văn học kể từ thời
Shakespeare và Goethe. Mặc dù không phải là nhà tư tưởng
sâu sắc, Victor Hugo vẫn là nhà văn chân thành, hiến mình cho
“Chân, Thiện, Mỹ” và ông là văn hào được dân chúng Pháp
yêu chuộng nhất.
Về Kịch Nghệ, Victor Hugo là người phát ngôn của trường
phái Lãng Mạn, ông đã lên án sự cứng rắn về ngôn ngữ và
hình thức của trường phái Cổ Điển, chỉ quen dùng đề tài là các
vua chúa Hy Lạp hay các anh hùng La Mã. Victor Hugo đề
nghị dùng lịch sử cận đại với nhân vật trong các vở kịch có thể
là một người tư sản, một tên cướp… nhưng vẫn mang vẻ cao
thượng trên kịch trường và như vậy đã chuyển hướng Kịch
Nghệ về đường lối Hiện Thực.
Về phương diện tiểu thuyết, Victor Hugo đã đề cập tới các
vấn đề luân lý với các nhân vật trong truyện làm các hành
động đơn giản nhưng không thể quên được. Cuốn truyện “Nhà
Thờ Đức Bà Paris” là một tiểu thuyết lịch sử, với thời điểm là
các năm 1400 tại thành phố Paris. Cuốn tiểu thuyết “Chín
Mươi Ba” nói về các biến cố của cuộc Cách Mạng Pháp, còn
cuốn «Những Người Khốn Khổ» được đặt vào trong khung
cảnh của nước Pháp cùng thời đại với nhà văn, với nhân vật
Jean Valjean phấn đấu để có thể thực hiện một đời sống hữu
ích mặc dù các thành kiến của một xã hội tàn ác. Như vậy
cuốn truyện đã phản ảnh niềm tin của tác giả vào khả năng tự
quyết của cá nhân đối với các thói đời. Cuốn truyện đã mô tả
bản chất của xã hội và bản chất của con người. Victor Hugo
cho rằng các điều kiện xã hội phải thay đổi để cho các trẻ em
được nuôi dưỡng đầy đủ, đàn ông có công việc làm ăn, đàn bà
được che chở, nền giáo dục nên dành cho mọi người, cơ hội
phải công bằng và giữa con người với nhau phải có tình huynh
đệ. Cuốn tiểu thuyết «Những Người Khốn Khổ» đã đặt ra
nhiều vấn đề liên quan tới chính trị, xã hội, văn chương, lý
tưởng nhân đạo và hướng thiện. Ngoài ra, nhiều tác phẩm của
Victor Hugo còn được coi là xuất sắc vì cách canh tân về ngôn
ngữ và hình thức văn chương, vì cách vận dụng chủ đề theo
trừu tượng. Đại Văn Hào Victor Hugo xứng đáng được kể là
nhà văn đại diện lớn nhất cho Tinh Thần của nước Pháp và
Châu Âu vào Thế Kỷ 19.
Các tác phẩm của ông rất đa dạng như: Tiểu thuyết, thơ,
kịch, các bài diễn văn chính trị,… Tiêu biểu cho các tác phẩm
của ông là hai tác phẩm mang đậm tính nhân bản: «Những
Người Khốn Khổ» (Les Misérables) và Nhà Thờ Đức Bà Paris
(Notre Dame De Paris).
• Tác phẩm
— Kịch: Cromwell (1827), Hernani (1830), Marion
Delorme (1831), Le Roi s'amuse (1832), Lucrèce Borgia
(1833), Marie Tudor (1833), Angelo, tyran de Padoue (1835),
Ruy Blas (1838), Les Burgraves (1843), Torquemada (1882),
Théâtre en liberté (1886).
— Tiểu thuyết
Bug-Jargal (1820), Han d'Islande (1823), Le Dernier Jour
d'un condamné (1829), Nhà Thờ Đức Bà Paris (Notre Dame
de Paris, 1831), Claude Gueux (1834), Những Người Khốn
Khổ (Les Misérables) (1862), Les Travailleurs de la mer
(1866), Người Cười (L'Homme qui rit, 1869), Chín Mươi Ba
(Quatre-vingt-treize, 1874).
— Thơ
Odes et poésies diverses (1822), Nouvelles Odes (1824),
Odes et Ballades (1826), Les Orientales (1829), Les Feuilles
d'automne (1831), Les Chants du crépuscule (1835), Les Voix
intérieures (1837), Les Rayons et les ombres (1840), Les
Châtiments (1853), Les Contemplations (1856), Première série
de la Légende des Siècles (1859), Les Chansons des rues et
des bois (1865), L'Année terrible (1872), L'Art d'être grandpère (1877), Nouvelle série de la Légende des Siècles (1877),
Religions et religion (1880), Les Quatre Vents de l'esprit
(1881), Série complémentaire de la Légende des Siècles
(1883), La Fin de Satan (1886), Toute la Lyre (1888), Dieu
(1891), Toute la Lyre - nouvelle série (1893), Les Années
funestes (1890), Dernière Gerbe (1902), Océan Tas de pierres
(1942).
• Tác phẩm khác
Mặt Trời Lặn (1853-1855), Bạch Tuộc Và Những Cái Xúc
Tu (1866), Étude sur Mirabeau (1834), Littérature et
philosophie mêlées (1834), Le Rhin (1842), Napoléon le Petit
(pamphlet, 1852), Lettres à Louis Bonaparte (1855), William
Shakespeare (1864), Paris-Guide (1867), Mes Fils (1874),
Actes et paroles - Avant l'exil (1875), Actes et paroles Pendant l'exil (1875), Actes et paroles - Depuis l'exil (1876),
Histoire d'un crime - 1re partie (1877), Histoire d'un crime 2e partie (1878), Le Pape (1879), L'Âne (1880), L'Archipel de
la Manche (1883), Œuvres posthumes Choses vues - 1re série
(1887), Alpes et Pyrénées (1890), France et Belgique (1892),
Correspondances - Tome I (1896), Correspondances - Tome II
(1899), Choses vues - 2e série (1900), Post-scriptum de ma vie
(1901), Mille Francs de récompense (1934), Pierres (1951).
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Victor Hugo là nhà văn lãng mạn lớn nhất của nước Pháp, thế kỷ
XIX. Cuộc đời chiến đấu không ngừng của ông, những tác phẩm văn
chương của ông phản ánh trung thành những biến cố lịch sử lớn lao,
những cuộc Cách Mạng của nhân dân Pháp suốt thế kỷ XIX. Tác
phẩm của ông tiêu biểu cho ý chí tự do, lòng tha thiết yêu hòa bình,
lòng tin tưởng cao cả vào con người lao động. Bởi vậy, ngày nay ở
mọi nước, người ta đều công nhận Victor Hugo là một nhà văn tiến
bộ không những của nước Pháp mà còn là của toàn thể nhân loại.
Năm 1952, nhân dân khắp thế giới đã tổ chức long trọng lễ kỷ
niệm ngày sinh nhật lần thứ 150 của Hugo tại Vienne, thủ đô nước
Áo. Tác phẩm của ông đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế
giới.
Victor Marie Hugo sinh ngày 26 tháng 2 năm 1802 ở Besançon,
một tỉnh nhỏ ở miền Đông nước Pháp. Bố ông là một sĩ quan cao
cấp thời kỳ Napoléon Đệ Nhất. Mẹ ông thuộc một gia đình theo Chủ
Nghĩa Quân Chủ và ngoan đạo. Lúc còn nhỏ, Hugo sống với mẹ,
chịu ảnh hưởng tư tưởng của mẹ. Nhưng từ thời thơ ấu, ông đã ở
Paris “quê hương” của ông, quê hương của Cách Mạng Pháp, nên
ông sớm hấp thụ những tư tưởng Cách Mạng, tinh thần dân chủ.
Những năm còn nhỏ tuổi, Hugo theo bố mẹ sang Ý rồi sang Tây Ban
Nha. Cảnh vật chói lọi ở những nước này sẽ để lại trong thơ văn của
ông những hình ảnh tươi sáng, những kỷ niệm sâu sắc. Từ năm lên
mười, Hugo ở hẳn Paris, học tại trường trung học Louis Le Grand.
Năm mười bốn tuổi, Hugo bắt đầu làm nhiều thơ, năm mười lăm
tuối được giải thưởng thơ của Viện Hàn Lâm Pháp. Năm mười bảy
tuổi, ông bỏ học để chuyên sáng tác.
Những tác phẩm đầu tiên của ông gợi lại thời kỳ Trung Cổ phong
kiến, biểu hiện tư tưởng Quân Chủ rõ nét, những đồng thời cũng đã
có mầm mống của tư tưởng nhân đạo, chống đối lại chế độ nô lệ lúc
bấy giờ.
Từ 1820 đến 1830, Hugo liên lạc với nhóm nhà văn lãng mạn và
trở nên lãnh tụ của nhóm này. Ông mang hết thiên tài lỗi lạc và trái
tim nồng nhiệt đấu tranh cho một nền văn học mới, tự do, chống đối
lại thứ nghệ thuật gò bó, giả tạo của Chủ Nghĩa Cổ Điển lúc ấy đã
lỗi thời. Năm 1827, ông viết vở kịch Cromwell, bài tựa của vở này
được coi như bản tuyên ngôn của Phái Lãng Mạn. Hugo chủ trương
phá bỏ tất cả những luật lệ cổ điển, khắt khe và đòi hỏi phải tôn
trọng hiện thực, đòi hỏi tự do tưởng tượng. Vở kịch Hernani, diễn
năm 1830, gây ra những cuộc chiến đấu và những cuộc tranh luận
kịch liệt giữa phái cũ và phái mới. Nghệ thuật lãng mạn hoàn toàn
thắng lợi. Trên những nguyên tắc hoàn toàn mới về kịch, Hugo viết
một loạt những vở kịch lãng mạn: Marion Delorme (1829), Lucrèce
Borgia (1833), Marie Tudor (1833) và đặc biệt Ruy Blas (1838).
Ông đưa lên sân khấu những hoàn cảnh vĩ đại, những con người đầy
nhiệt huyết, những mâu thuẫn gay gắt nóng bỏng, những trái tim
nồng cháy. Người ta chú ý nhất đến vở Ruy Blas, trình bày nhân vật
chính là một người đầy tớ có tâm hồn cao thượng và yêu tha thiết
Hoàng Hậu Tây Ban Nha. Đó là cả một cuộc Cách Mạng về quan
niệm kịch của Hugo, trái hẳn lại với quan niệm kịch cổ điển.
Từ sau 1830, bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời, cũng như
trong sáng tác của Hugo. Phong trào Cách Mạng Pháp càng ngày
càng mạnh mẽ. Từ 1830 đến 1832 tại một số thành phố lớn ở Pháp,
nhất là Paris và Lyon, nhân dân lao động nổi dậy chống chính quyền
tư sản phản động, Hugo có cảm tình đặc biệt với phong trào Cách
Mạng. Trong bài tựa cuốn Lucrèce Borgia (1833), ông tuyên bố nhà
văn phải “sáng tác đồng thời với đấu tranh chính trị”. Từ 1830,
Hugo không ngừng sáng tác và không ngừng tích cực tham gia đấu
tranh chính trị. Phái lãng mạn thành hình từ 1810, đã có sự chia rẽ:
Một bên chủ trương nghệ thuật vì nghệ thuật, đứng đầu là Théophile
Gautier; một bên chủ trương nghệ thuật phục vụ dân sinh; Victor
Hugo là người sáng lập ra dòn...
 





