Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Ông hoàng xứ Kahel

- 0 / 0
Nguồn: https://sachmoi.net
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 08h:59' 11-12-2025
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
Ngày gửi: 08h:59' 11-12-2025
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
1
ÔNG HOÀNG XỨ KAHEL
—★—
Nguyên tác: Le Roi de Kahel
Tác giả: Tierno Monénembo
Người dịch: Hiệu Constant
Nhà Xuất Bản Văn Học - 2012
ebook©SACHMOI.NET
07-09-2018
Ebook miễn phí tại: www.sachmoi.net
2
Thân tặng Jean-Louis Langeron, Alpha Ibrahima Sow và Saïdou Kane
3
“Qua những cuộc phiêu lưu của một nhà tiên phong Pháp, tiểu thuyết gia gốc
Guinée đã lần ngược lại những biến cố và đổ nát của vương triều Peul ở FoutaDjalon. Tác phẩm được viết dưới một tài năng tuyệt vời về viễn tưởng và hư cấu
mạch lạc giữa Lịch sử và Danh phận, lịch sử của một Phi châu hiện đại có thể
nhìn về quá khứ của mình mà không rơi vào thuyết máy móc phân biệt giữa Da
Trắng và Da Đen. Qua những trang hơi khó đọc của phần đầu tác phẩm, thì bạn
đọc dễ dàng bị cuốn hút bởi biên độ trí tưởng tượng sử thi, kết hợp giữa các trò
cười của cuộc sống và linh cảm bất thường đáng lo ngại của cuộc chiến tranh giữa
các nền văn minh trong chế độ thuộc địa.”
• Đài RFI
“Với cuốn tiểu thuyết pha trộn giữa cuộc sống và những tìm hiểu sâu rộng về
tư liệu, Tierno Monénembo đã miêu tả chặng đường đi tìm và thiết lập vương
quốc của một con người kỳ tại, lập dỵ nhưng rất đáng mến của thế kỷ XIX.”
• Tạp chí Văn Học
“Một tác phẩm dữ dội đề cập đến thảm cảnh và những thăng trầm của lịch sử
châu Phi…”
• Tạp chí Nouvel Observateur
“Đấng Tối cao đã sinh ra họ màu đen để cho những cú bị đánh không bị nhìn
thấy được.”
• Olivier De Sanderval
4
Giới Thiệu
Tierno Monénembo, tên thật là Thierno Saïdou Diallo, sinh ngày 21-7-1947, ở
Porédaka ở Guinée. Ông là một nhà văn thuộc khối Pháp ngữ. Năm 1969 ông đã
bỏ trốn khỏi chế độ độc tài Sékou Touré. Ông đã chạy bộ gần 150 kilomet để đến
Sénégal. Ông theo học Y khoa tại Dakar, rồi sau đó đến Bờ Biển Ngà (Côte
d'Ivoire) và tại đây, ông bắt đầu theo học ngành Sinh Hóa và tiếp tục ngành này
tại Pháp vào năm 1973, ông bảo vệ thành công luận án tiến sỹ tại trường đại học
Lyon. Ông đến Algérie và Maroc giảng dạy một thời gian. Từ năm 2007, ông là
giáo sư danh dự của Middlebury College tại vùng Vermont, Hoa Kỳ.
Có thể nói lang thang viễn xứ là trọng tâm cuộc đời và tác phẩm của người
con tộc Peul này. Ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên Những chú cóc-trảng bụi
năm 1979. Bảy năm sau, ông cho ra đời tác phẩm Những chiếc vẩy tê tê của bầu
trời và đoạt giải Grand Prix của châu lục Đen. Năm 1991, cuốn Giấc mơ hữu ích
cũng ra đời dưới ngòi bút của ông. Đến nay, ông đã hoàn thành mười cuốn tiểu
thuyết. Và cuốn Ông hoàng xứ Kahel đã vinh dự được trao giải Renaudot, một
phần thưởng danh giá trong làng văn học Pháp.
5
Phần Một
Vào đúng lúc ra khỏi nhà để xuống tàu thì giọng nói đay nghiến yêu kiều của
vợ ông cất lên khiến Olivier de Sanderval đứng sựng lại ngay giữa cầu thang.
– Aimé đáng thương của em ơi, nhìn xem mình quên cái gì này!
Ông sờ ngay lên đôi tai nóng bừng của mình và lưng rung lên, sau đó đưa ánh
mắt cầu khẩn về phía nàng tiểu quỷ xinh đẹp dịu hiền, kẻ vừa mới hành ông xong.
– Còn gì nữa đây, hả nàng Rose yêu quý của anh? Chính mình đã giúp anh
sắp xếp va li kia mà!
– Thế cái này?
– Ôi! Anh đảm bảo với mình đây không phải là lúc đùa đâu, em yêu ạ! Mình
có hiểu không, anh ra đi để đến tận châu Phi kia đấy! Đến Timbo!
– Chính thế! - Nàng cắt ngang gọn lỏn, trong lúc cứ phăm phăm vượt lên
trước ông ở ngoài sân, nơi đám gia nhân đang chất nốt những rương hòm và thắng
ngựa vào xe.
– Mình dẫu sao cũng không mở tung hành lý của anh chỉ vì thứ đó thôi chứ!
– Có đấy!
– Nhưng mình muốn anh làm gì với nó chỗ đám Da Đen hả?
– Mình sẽ diện nó để chơi trong nhà hát kịch của họ!
Trong những tình huống khác, em yêu ạ, thì có lẽ anh sẽ không từ chối đâu!
Và cũng chính vì điều này mà anh đã cưới em: những chiếc váy nhiều màu sặc sỡ
của em, những chuỗi vòng em đeo đến từ những xứ sở xa lạ, những đóa hoa em
cài trên tóc, và cả những vụ luyện giọng bất ngờ đôi khi em cất lên trong các nhà
thờ và tại các phòng khách. Nhưng từ đó đến việc diễn kịch Méphistophélès chỗ
dân Da Đen thì…!
Nhưng kẻ bạo hành yêu kiều đáng mến của ông đã kịp đóng rương lại. Ông
hôn nàng và leo lên xe, bụng bảo dạ: “Ta sẽ vất nó đi ngay, cái thứ trang phục thớ
lợ lố bịch ấy… khi đến cảng hay lúc ở trên tàu thủy… Đúng thế đấy, trên tàu, vứt
qua thành boong. Ta đến Phi châu là để trở thành vua, chứ không phải đến đó để
làm thằng hề!” Nhưng trong suốt cuộc hành trình, ông đã quên thực hiện điều đó.
6
Và chính tiểu tiết này đã cứu sống ông vài tháng sau đó, khi mà những người
Peul đe dọa sẽ xử trảm ông.
Ông dõi ánh mắt cuối cùng lên thôn trang, chiêm ngưỡng phần đỉnh mái nhà
hình yên ngựa thồ, những bức tường màu thổ hoàng và xanh ô liu của vô số những
cửa chớp. Ông thấy khó mà công nhận rằng Napoléon đã từng lưu trú tại đây vào
ngày hôm sau, khi thành Toulon bị vây hãm và đã mơ cưới nàng Désirée Clary, ái
nữ đầu lòng của gia đình. Ông bật cười, một nụ cười ngắn ngủi và tự hỏi liệu điều
gì sẽ xảy ra với nước Pháp nếu nàng Désirée ấy đồng ý, thay vì lại thích
Bernadotte hơn, ngay trước khi người này trở thành Charles XIV, vua Thụy Điển.
Hơn nữa, nền Cộng hòa thứ nhất đã sụp đổ, và đến nền Đế chế thứ nhất, thế rồi do
một sự ngẫu nhiên nhất trong mọi điều ngẫu nhiên, gia đình Pastré - các bạn biết
rồi chứ, những nhà buôn tàu biển nổi tiếng nhất ấy mà! - đã mua lại điền trang này
và rồi, lại vẫn do sự ngẫu nhiên nhất, ông đã cưới con gái của gia đình Pastré.
Và đến giờ vậy là đã tám mươi sáu năm trôi qua kể từ thời Bernadotte - nhưng
liệu đây có phải là một sự ngẫu nhiên không? - ông lại băng qua cùng một khung
cửa sắt để cũng đi mưu đồ một triều đình. Và chẳng phải là một nơi bất kỳ nào
đâu nhé: ở chính tại Fouta-Djalon kia đấy!
Vào ngày 29 tháng Mười một năm 1879 ấy, Marseille có tuyết rơi. Chỉ nhìn
toàn cảng Madrague và đại lộ Prado, không còn nhận ra nữa dưới tấm áo choàng
trắng thô kệch khổng lồ của chúng, thì cũng đủ khiến ông run lập cập. Đất nước
Na Uy ngày hôm đó chắc cũng giống hệt như thế.
“Rõ ràng là ta không thể tìm thấy thời khắc thích hợp hơn để đi đến Phi
châu!”, ông xoa hai tay vào nhau và thốt lên trong lúc đi đến cảng.
Một nhân viên của Công ty vận tải biển hướng dẫn người đánh xe ngựa chạy
về phía cảng, nơi mà con tàu đi Niger cũng đang thả neo cạnh những chiến hạm
của thành phố Constantinople và những con tàu đi Trung Cận Đông. Ông nấn ná
giây lát với viên trưởng tàu trong lúc người ta chuẩn bị phòng cho ông. Ông lơ
đãng nghe người đang tiếp chuyện mình nói thao thao bất tuyệt về chất lượng con
tàu của ông ta và về phong cảnh của xứ Madère hay đảo Piscis. Ông cảm thấy bồn
chồn. Ông thích đi du lịch, nhưng chỉ để dành niềm hoan hỉ cho lúc cập bến. Tàu
hỏa và tàu thủy khiến ông ngán ngẩm; ngựa và xe đạp khiến ông chóng mặt. Than
7
ôi, ông thầm nghĩ, mình sẽ chỉ còn là hạt bụi vào cái ngày xa lắc kia nhưng chắc
chắn những tiến bộ sẽ tìm ra phương tiện để đến được Phi châu trong giây lát.
– Bữa điểm tâm vào bảy giờ sáng!… Và hãy thư giãn đi, thưa ngài, chúng ta
mới chỉ là bước đầu của cuộc phiêu lưu mà thôi!
– Với ông thì vậy, thưa ngài thuyền trưởng! - Ông lầm bầm. Còn với tôi, thì
chẳng mấy nữa sẽ là bốn mươi năm nay rồi.
Bốn mươi năm, điều đó muốn nói là cả một cuộc đời, chân bước trên đất Pháp
còn trí óc lại ở nơi đó, thất lạc trong đám tinh vân của Miền Nhiệt Đới! Như ông,
sinh vào giữa thế kỷ XIX, người ta chỉ có thể trở thành thi sĩ, bác học hay những
nhà thám hiểm. Vấn đề liên quan đến ông đã mau chóng được giải quyết, ông sẽ là
một nhà thám hiểm, có nghĩa là cả thi sĩ và bác học trong cùng một cơ hội. Trong
những khoảng thời gian ấy, trong các sân trường, vào giờ ra chơi, các nước thuộc
địa thường quay lại trong các cuộc trò chuyện cũng thường thuyên như như trò
nhảy lò lò và chơi bi. Nhưng câu chuyện cổ tích không nói về yêu tinh hay những
bà tiên, mà nói về các phù thủy và bộ tộc ăn thịt người chạy đuổi theo, cùng với
những cây giáo của họ, sau một con vật săn hoàn toàn mới mẻ đã xuất hiện trong
rừng rậm: những cha cố da trắng và những chủ trại.
Những con vi rút của các nước thuộc địa, ông đã vướng phải chúng khi nghe
những câu chuyện kể của người chú họ lớn tuổi của ông, chú Simonet. Những
cuộc phiêu lưu thú vị của các nhà tiên phong của nền văn minh bị thất lạc nơi có
bộ tộc ăn thịt người, và rằng thiện tâm của chúa Jésus đã cứu sống họ trong gang
tấc khỏi những chảo nước sôi sùng sục của đám thổ dân Zoulous hay Papous,
khiến cậu bé rùng mình mỗi tối, trong những bữa ăn tối của gia đình, thường rất
lâu và rất khó chịu đựng. Và sau chuyện ấy, cậu thấy rất thú vị được co quắp dưới
lớp chăn đắp, sung sướng vì các bức tường của phòng mình đủ độ dày, mái nhà
chắc chắn và những cánh cửa đã cài chặt trong khi đó thì, dưới màn đêm lạnh
tuyết rơi của xứ Lyon, những con quỷ bị rạch mặt đang lẩn quất tìm kiếm những
cậu bé xinh xắn có mái tóc vàng tơ óng mượt.
Đó là một trường hợp, thế hệ trước, chú Simonet, kẻ du mục của họ tộc, một
bouligant thực sự, nói theo cách như người Lyon vẫn nói thế! Ông đã lê cặp ghệt
của mình mỏi mòn ở xứ Java và Anatolie. Ông đã đem về từ nơi đó cả hàng đống
những giai thoại, những biệt ngữ và các thứ mới lạ. Câu chuyện nhỏ kể rằng chính
8
ông đã đem về cho nước Pháp thứ đồ tuyệt vời được gọi là mút-sơ-lin, thứ đã làm
lên vẻ thanh lịnh trang nhã của các quý bà và cả gia tài của Tarare. Người ta gọi
ông là “Giáo hoàng của mút-sơ-lin” trong lúc ngả mũ thật thấp, kính cẩn chào
ông. Điều chẳng phải là tầm thường, thậm chí ngay cả trong gia đình Olivier, nơi
mà mỗi người phải sáng tạo một cái gì đó trước khi sinh ra.
Vào lúc lên bảy, cha tu viện trưởng Garnier, gia sư của cậu, đã thế chỗ của tổ
tiên huy hoàng: thời khắc chuyển từ lời nói sang hành động. Một đảo san hô của
biển Thái Bình Dương được mau chóng đặt trên bờ của vùng Azergue, dòng sông
tưới tắm cho ngôi làng nhỏ Chessy, nơi đã chứng kiến một phần thời hoa niên của
cậu: với những đôi giày vải và hàng dừa tưởng tượng. Cậu bé Aimé diện vào chiếc
mũ bảo hiểm và đôi ủng, cậu là nhà nghiên cứu dân tộc thiểu số dũng cảm mà Sở
Địa lý phái đến khám phá vùng Zaratoutsanie, xứ sở rừng rậm vẫn còn xa lạ đối
với đám người vẽ bản đồ và có thể cũng còn xa lạ với các thầy bói. Cha xứ
Garnier tự vẽ trên hai cánh tay mình những hình thù và những vết rạch trên mặt:
ông là Guénolé, kẻ hoang dã đáng gờm bất ngờ xuất hiện tranh hùng với Da Trắng
sau khi con tàu của người này bị đắm. Họ chơi trò trốn tìm đuổi bắt cả ngày liền,
giả vờ quật ngã những con thú hoang và nhảy qua những cỗ đạn pháo. Những
mánh khóe và những cú tránh né cuối cùng đã chinh phục được Guénolé. Kẻ
hoang dã thuần thục ngã gục dưới chân bậc thầy, chối bỏ những vật thần và những
hiến sinh của loài người, ôm hôn cây thánh giá và hứa, trong tương lai sẽ hành xử
như là một con chiên trung thành. Rồi học cắm trại không xa nơi đó và ăn tối bằng
một hộp cá sác-đin sau bài học tiếng La-tinh.
Tám tuổi, giờ thì đã rõ ràng, cậu không chỉ đành lòng trở thành một nhà thám
tử nữa, mà sẽ trở thành một ông hoàng của những kẻ hoang dã. Cậu sẽ vạch ra
một thuộc địa sau khi đã hút cạn các đầm lầy và phác hình các bộ tộc. Cậu sẽ biến
nơi đó thành một hoàng triều, sống dưới những ý tưởng và luật pháp của cậu và
làm rạng rỡ dưới tài năng đặc biệt của nước Pháp. Ở những đâu: ở Tonkin[1], hay
ở Fouta-Djalon đây? Cậu đã lưỡng lự rất lâu trước khi chọn giải pháp thứ hai.
“Tonkin”, trong đầu đứa trẻ là cậu thời đó, mang nhiều âm điệu tiếng chuông báo
động liên hồi, trong khi Fouta-Djalon thì không! Hơn nữa, kể từ thời Marco Polo,
châu Á thực sự không còn gì để khám phá nữa. Người ta có thể đã hình dung
những khu của nó, những luật lệ của nó cho đến tận các vùng sâu của
9
TaklaMakan. Còn Phi châu, trong thời gian đó, thì vẫn còn là tăm tối, kỳ cục, điên
rồ và lạ lùng, hoàn toàn không thể dự đoán gì trước được.
Lên mười tuổi, cậu bắt đầu nghiến ngấu những câu chuyện của các nhà thám
hiểm và bắt đầu viết cho Sở Địa lý. Cậu đặt dài hạn tạp chí L'Illustration cũng
như tạp chí hướng dẫn Joanne và Muray. Cậu tự trang bị kiến thức cho mình
trong bí mật và để mặc cho thời gian trôi đi. Cuộc sống của cậu diễn ra suôn sẻ
trong thung lũng sông Rhône nhưng lại lớn lên cùng với những dòng sông, những
cây cỏ và các bộ tộc của đất nước Soudan.
Thế rồi có kỳ thi tốt nghiệp trung học, đậu bằng kỹ sư, đám cưới và những đứa
con: cậu thấy buộc phải trả món nợ của mình cho xã hội trước khi bay nhảy nơi
xa. Trước khi có chuyện đó, cậu đã có thời gian để chinh phục đỉnh Mont-Blanc,
phát minh ra bánh xe với trục moay-ơ treo và xây dựng nhà máy xe đạp đầu tiên,
chỉ là tự trang bị kiến thức. Vào tuổi bốn mươi, ông rút cục đã có thể tiến đến điều
chủ yếu: Phi châu!
Phi châu, ông đã luôn sống ở đó, chắc chắn là thế, nhưng đó vẫn chỉ là những
câu chữ; những bức họa, những hình ảnh, những tấm bản đồ chìm ngập trong các
con chữ. Mọi chuyện nghiêm túc chỉ vừa mới bắt đầu từ vài tháng nay, sự ám ảnh
thời hoa niên của ông đã lấp ló lần đầu tiên những con quái vật và những ảo ảnh:
khi ông đã lên tàu ở nhà ga Austarlitz để đến Lisbonne.
Để đến được bến bờ của châu lục Đen, thì khi ấy, tốt hơn cả phải băng qua
Tage đầu tiên. Tiên phong trong các cuộc khám phá châu Phi, vĩ nhân Bồ Đào Nha
là những người bén rễ vào nơi đó tốt nhất, những hồ sơ lưu trữ của họ, dồi dào và
phong phú nhất, những tấm bản đồ của họ là chắc chắn nhất. Ngoài ra, các chi
nhánh Boulam và Bissiao của họ nằm ngay cạnh các dãy hoành sơn của FoutaDjalon, nơi mà rất nhiều các con sông lớn nhỏ đều đổ về.
Các bạn thân đã cố vấn cho ông người có tên là Francisco da Costa e Silva,
Tổng giám đốc của Sở Hải ngoại, cũng như các nhà buôn quan trọng nhất. Ông đã
chẳng gặp bất kỳ khó khăn gì để có được visa và những lời khuyên, những tấm
bản đồ mới nhất và những thông tin cụ thể về thói đỏng đảnh của khí hậu và
những tục lệ của người bản địa. Và, hôm trước đó, ông đã tìm được cho mình một
lọ nhỏ cyanure trước khi đến bưu điện bỏ lá thư di chúc cho người bạn Jules
Charles-Roux, chủ tịch Hội Địa lý của Marseille. Có lẽ ông không nên làm thế,
10
nhưng làm sao được, khi ta đến tận Phi châu mà không viết bản di chúc của mình?
Có thể ông nên tự mình đem đến trao tận tay ông ấy và nói lời giã biệt nhưng phải
là kẻ thiếu giáo dục thì mới trao tận tay cho ai đó bản di chúc của mình.
Người ta không đi đến châu Phi giống như khi người ta từ đó trở về. Trong
hướng này thì đó là những bữa tiệc tối và các đêm vũ hội, các quý bà đội mũ rộng
vành và trong váy vỉ xô, những ván bài của các nhà buôn, những tiếng cười vui
thú của đám thủy thủ. Theo hướng khác, thì đó là không khí bệnh tật của các công
chức bị sa thải, những nhà phiêu lưu phá sản và các góa phụ than vãn khóc lóc, về
các ông chồng bị sát hại bởi căn bệnh sốt rét hay bởi những mũi tên tẩm độc của
bọn Mọi đen.
Trên con tàu Niger, các tiệc tối thật tẻ nhạt mặc dù có những hợp âm ồn ào của
những bản nhạc dân tộc được ban nhạc chơi nhiệt tình: không một ai đã từng nghe
nói về Fouta-Djalon và chỉ duy nhất một khách mời biết chơi cờ một cách tạm
chấp nhận được. Đó là một chàng kỹ sư trường Bách khoa còn trẻ, đến Sénégal để
họa một con đường tiến sâu vào lãnh thổ. Anh ta tên là Souvignet và được trời ban
cho một vẻ ngây thơ đến xúc động cùng với niềm hứng thú điên khùng của lứa
tuổi hai mươi ba. Ngay tối hôm khởi hành, chàng ta tiến lại gần chiếc bàn trong
phòng khách, nơi Olivier de Sanderval đang ngồi giết thời gian với những phong
sô-cô-la bất ly thân của ông và những ván chơi cờ đơn, kéo một chiếc ghế và ngồi
xuống:
– Tôi có thể ngồi chứ ạ?
– Cẩn thận nhé, tôi chỉ chơi với những bậc cao tay thôi đấy!
– Với những bậc cao tay ư! - Chàng nói. - Thế thì, mình bắt đầu thôi, thưa
ông ngoại, ông sẽ không tìm đâu ra người nào cao tay hơn tôi trong những ván cờ
và tất cả những gì còn lại đâu!… Nếu ông thắng tôi, tôi sẽ tặng ông cái này!…
Ông đến Phi châu làm gì, hả ông ngoại?
– Ta đến đó để tạo cho mình một hoàng triều!
– Vua của châu Phi ư, vâng vâng, ông có dáng vẻ để làm điều đó lắm! Ông sẽ
không ăn thịt tôi chứ, chí ít thì cũng vậy chứ, một khi ông đã trở thành Da Đen, hả
ông ngoại?
– Ta thấy anh có vẻ còn nhạt nhẽo hơn cả hãnh tiến nữa, chàng trai trẻ ạ. Và
để nói thật với anh, thì chính là để phanh lại chuyện người ăn thịt người mà ta
11
thân chính đến châu Phi đó.
– Gì cơ, ông sẽ giết hết tất cả các bộ tộc ăn thịt người à?
– Không, ta sẽ cải hóa họ, ta sẽ biến họ thành những bác học!
– Thế thì tuyệt quá, những người Pygmé đối thủ của Gay-Lussac, nhưng mà
ông đúng là thần thánh đấy, ông ngoại ạ! Ông không chỉ thắng tôi trong những
ván cờ mà ông còn ngông cuồng kỳ cục hơn cả tôi. Tôi không thích vậy đâu, ông
ngoại ạ! - Còn anh, anh tính làm thế nào để trở nên nổi tiếng đây?
– Những cây cầu, những bến cảng, những đền đài, thưa ông ngoại! Nhiều và
rất tốt đến chừng nào mà họ lũ lượt đến phủ phục dưới chân tôi để cầu khẩn tôi
chấp nhận tước vị thống đốc toàn quyền của Sénégal! Phi châu, đó là cơ hội may
mắn cho thế hệ chúng tôi! Còn tôi hả, điều đó đập ngay vào mắt đấy thôi, tôi là
một kẻ nhiều tham vọng!
– Tốt thôi, với tất cả mọi lời chúc tốt đẹp nhất, thưa tướng Faidherbe tương
lai!
Con tàu lướt qua các vùng Madère, đảo Canari, mũi Blanc, và đây rồi, vùng
Gorée!
Trên chừng ba mươi ván đấu kéo dài suốt dọc chuyến đi, chàng trai trẻ Bách
khoa dẫu sao cũng thắng được chừng mươi trận, nhưng chàng cố nài, mặc dù vấp
phải sự từ chối ngần ngại của bạn chơi, để tặng lại cho ông chiếc đồng hồ vàng
xinh xắn có khắc tên những chữ cái tên chàng:
– Những gì đã nói là phải thực hiện, cuộc sống là vậy, ông ngoại ạ!
Còn cách vịnh biển cả vài ki-lô-mét, người ta đã nhìn thấy đám dân Da Đen.
Những con thuyền nhỏ mong manh của họ xuất hiện rồi lại biến mất trong những
làn sóng của con tàu. Họ náo động giữa những ngọn sóng, gần như trần truồng, và
hình bóng họ gợi lại nơi đám Da Trắng những hình khối huyền bí và sắc sảo của
những bức tượng về họ. Đám này lắp bắp rồi thốt ra những tiếng kêu, đám kia lại
lộn nhào, đầu lao xuống trước, kình địch với những con sóng trong trò xoay mình
trên mặt nước.
– Quý bà Xinh-Xinh, hãy ném xu cho tôi đi!
Điều đó khiến cho những ông bà chủ ấp mới đến ấy vui thú, lúc này họ đã kéo
hết lên boong tàu, náo động như đám cừu cái bị xông khói. Đám Da Đen mừng
12
quýnh. Kẻ đầu tiên lao vào những vật nhỏ xinh được tung xuống, những kẻ may
mắn cám ơn bằng một tiểu khúc dài những ca khúc và những chuỗi nhăn mặt.
– Quý ông Đẹp-Đẹp-Đáng Kính, hãy ném xu cho tôi đi!
Người ta lôi ống nhòm ra, rồi thất lạc trong những phỏng đoán về những cẳng
tay và sự uyển chuyển đáng ngạc nhiên của họ.
Những người khác di chuyển từ chỗ này sang chỗ kia trên boong tàu, ồn ào
sửng sốt trong lúc chỉ đám Da Đen, chim muông, và cây cỏ. Còn ông, chẳng gì
khiến ông ngạc nhiên cả. Ông đã chờ đợi chính những thứ đó. Mọi thứ đều ở đúng
vị trí của nó: đất âm u và nóng ẩm, những cây cọ còm cõi và bờm xơm, tiếng
trống tam tam inh ỏi không ngớt và đám hải âu quá sặc sỡ.
Gorée giờ đây đã nằm trong tầm tay, với ông chủ buôn nô lệ da đen hùng hậu
và những ngôi biệt tự có ban công được bao quanh những hàng mi-mô-da, những
khóm hồng và dãy phượng rực rỡ.
Một cơn rùng mình dữ dội chạy dọc sườn ông, ông bám vào thành tàu, thốt lên
mà không hề sợ mang tiếng nực cười:
– Ta đến đây rồi, Phi châu già nua của ta ơi! Ta có mặt đây rồi.
Chẳng có gì ngoài đất, cát, những đóa hoa và các con sóng. Nhưng ở tại tâm
điểm Phi châu!
“Mỗi vật sơ đẳng nhất cũng đều có một ý nghĩa tại nơi đây và một sự mãnh
liệt khó hình dung ở những nơi khác.”
Mặc dù những xô đẩy chen lấn nhưng ông cũng lôi được cuốn sổ ghi chép của
mình ra và mỉm cười ghi lại: “Ở đây, chỗ nào cũng là ánh mặt trời, chỗ nào cũng
là niềm vui thú sảng khoái!” Chẳng có ý nghĩa gì, tầm thường, hoàn toàn nực
cười, nhưng đúng là những gì ông cảm nhận được lúc đó. Ông chỉnh lại mũ, đặt
bàn chân mình lên đất liền mà không hề cởi áo redingote[2], lẫn găng tay, thậm chí
còn liếc nhìn với ánh mắt chễ giễu những người bạn đồng hành khốn khổ, những
người này thì đang thở hổn hển như đám súc vật thồ hàng và đưa khăn thấm mồ
hôi trán, càng trở nên ngớ ngẩn u mê gấp bội do không khí nóng và sự lạ nước lạ
cái.
Ông sinh ra đã bị chứng mất ngủ và sợ lạnh, có thể nói luôn: dành cho châu
Phi! Vả lại, trên miền duyên hải này thì ông đã gần như ở chính nhà mình: ngoài
ngôi nhà, nơi ông được đối xử như là một đứa trẻ được chiều chuộng thì ông đã tự
13
tạo cho mình ở Boulam, những thương điếm hải ngoại thuộc quyền sở hữu của
ông và Jean-Baptiste, một du thuyền hiện đại mới toanh, thả trên một cảng tàu
khác để phục vụ cho những nhu cầu và những cuộc dã ngoại ở Phi châu của ông.
Ông qua trạm hải quan, lạnh lùng băng qua đám đông ồn ã những kẻ hành
khất. Bonnard và những Pistachier[3] đang đợi ông trước đám đông tu tập các cô
bán hàng rong. Các cô này đứng ngồi nhung nhúc trên các vỉa hè đầy bụi bặm,
phủ đầy trái cây thối, phân lừa và ruồi muỗi; phần lớn để ngực trần, tóc phủ đầy
ngọc trai, khố đeo buông chưa quá gối. Các cô hút thứ tẩu ngắn bằng đất nung và
chạy hỗn loạn đằng sau những đám khách sang trọng để mời họ mua những bức
tượng nhỏ, quả đu đủ và dừa. Bên cạnh các cô, ngồi xổm trên nền đất, đám đàn
ông cạo râu hay ngồi chơi cờ bằng những viên sỏi.
Bonnard đã sửa sang cho ông một ngôi biệt thự đối diện đại dương với một
khu vườn mênh mông quay ra bãi biển. Nhưng ngay hôm sau, thay bằng việc đi
tắm hay dạo một vòng qua các thương điếm, thì ông lại ngụy trang thành một chủ
ấp (bốt da, áo vest chống mưa, mũ bảo hiểm) và, bỏ rơi ngài Bonnard đáng
thương, ông một mình phiêu lưu trong các con hẻm của thành phố để thăm thú các
chủ buôn nô lệ hùng hậu và hít thở đầy buồng phổi mùi vị đậm đặc của các gia vị
và trái cây. Nhưng có điều, trên đường đi của ông, bỗng xuất hiện một con bò tót
cuồng điên. Một đám trẻ con đổ xô vào ông và chỉ còn mỗi thời gian đẩy ông vào
bên trong một ngôi nhà nhỏ.
– Ông, vào đây đi! Con này tồi lắm, xấu lắm đó!
Toàn thân thấm đẫm mồ hôi và tứ chi run rẩy, ông nhìn con vật tiếp tục chặng
đường của nó, một thằng bé còm cõi chẳng mấy chốc vướng vào bộ sừng của nó.
“Ở đây chẳng có gì là cho không cả, chắc chắn là thế!”, ông lầm bầm trong lúc cố
lấy lại tinh thần. Buổi tối, sau bữa ăn, theo một đà giờ đã trở thành huyền thoại,
ông khép mình đơn côi trong một góc vườn và hòa chất giọng lạ lùng của ông với
chất giọng, gây hoảng loạn, của màn đêm Phi châu:
“Ban nãy, ngươi đã cứu sống ta, Phi châu già nua của ta ạ, cám ơn ngươi! Còn
bây giờ, ta cầu xin ngươi đấy, hãy cho ta Fouta- Djalon, để ta có thể biến nơi đó
thành hoàng triều của ta!”
Dakar, vẫn còn nhọc nhằn để thoát khỏi những tòa nhà kính phòng vệ cay độc
của rừng rậm đã được đón ba chuyến kiệu đến thăm viếng. Sườn núi bao đầy
14
những cây tầm xuân và gió thổi dào dạt, bãi biển, hải cảng, nhà ga và khu nhà
thương mới tinh vừa được dựng lên một cách vội vã để trợ giúp khu bệnh viện ở
Gorée đã trở nên chật chội do sự tăng trưởng đột biến của bện
ÔNG HOÀNG XỨ KAHEL
—★—
Nguyên tác: Le Roi de Kahel
Tác giả: Tierno Monénembo
Người dịch: Hiệu Constant
Nhà Xuất Bản Văn Học - 2012
ebook©SACHMOI.NET
07-09-2018
Ebook miễn phí tại: www.sachmoi.net
2
Thân tặng Jean-Louis Langeron, Alpha Ibrahima Sow và Saïdou Kane
3
“Qua những cuộc phiêu lưu của một nhà tiên phong Pháp, tiểu thuyết gia gốc
Guinée đã lần ngược lại những biến cố và đổ nát của vương triều Peul ở FoutaDjalon. Tác phẩm được viết dưới một tài năng tuyệt vời về viễn tưởng và hư cấu
mạch lạc giữa Lịch sử và Danh phận, lịch sử của một Phi châu hiện đại có thể
nhìn về quá khứ của mình mà không rơi vào thuyết máy móc phân biệt giữa Da
Trắng và Da Đen. Qua những trang hơi khó đọc của phần đầu tác phẩm, thì bạn
đọc dễ dàng bị cuốn hút bởi biên độ trí tưởng tượng sử thi, kết hợp giữa các trò
cười của cuộc sống và linh cảm bất thường đáng lo ngại của cuộc chiến tranh giữa
các nền văn minh trong chế độ thuộc địa.”
• Đài RFI
“Với cuốn tiểu thuyết pha trộn giữa cuộc sống và những tìm hiểu sâu rộng về
tư liệu, Tierno Monénembo đã miêu tả chặng đường đi tìm và thiết lập vương
quốc của một con người kỳ tại, lập dỵ nhưng rất đáng mến của thế kỷ XIX.”
• Tạp chí Văn Học
“Một tác phẩm dữ dội đề cập đến thảm cảnh và những thăng trầm của lịch sử
châu Phi…”
• Tạp chí Nouvel Observateur
“Đấng Tối cao đã sinh ra họ màu đen để cho những cú bị đánh không bị nhìn
thấy được.”
• Olivier De Sanderval
4
Giới Thiệu
Tierno Monénembo, tên thật là Thierno Saïdou Diallo, sinh ngày 21-7-1947, ở
Porédaka ở Guinée. Ông là một nhà văn thuộc khối Pháp ngữ. Năm 1969 ông đã
bỏ trốn khỏi chế độ độc tài Sékou Touré. Ông đã chạy bộ gần 150 kilomet để đến
Sénégal. Ông theo học Y khoa tại Dakar, rồi sau đó đến Bờ Biển Ngà (Côte
d'Ivoire) và tại đây, ông bắt đầu theo học ngành Sinh Hóa và tiếp tục ngành này
tại Pháp vào năm 1973, ông bảo vệ thành công luận án tiến sỹ tại trường đại học
Lyon. Ông đến Algérie và Maroc giảng dạy một thời gian. Từ năm 2007, ông là
giáo sư danh dự của Middlebury College tại vùng Vermont, Hoa Kỳ.
Có thể nói lang thang viễn xứ là trọng tâm cuộc đời và tác phẩm của người
con tộc Peul này. Ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên Những chú cóc-trảng bụi
năm 1979. Bảy năm sau, ông cho ra đời tác phẩm Những chiếc vẩy tê tê của bầu
trời và đoạt giải Grand Prix của châu lục Đen. Năm 1991, cuốn Giấc mơ hữu ích
cũng ra đời dưới ngòi bút của ông. Đến nay, ông đã hoàn thành mười cuốn tiểu
thuyết. Và cuốn Ông hoàng xứ Kahel đã vinh dự được trao giải Renaudot, một
phần thưởng danh giá trong làng văn học Pháp.
5
Phần Một
Vào đúng lúc ra khỏi nhà để xuống tàu thì giọng nói đay nghiến yêu kiều của
vợ ông cất lên khiến Olivier de Sanderval đứng sựng lại ngay giữa cầu thang.
– Aimé đáng thương của em ơi, nhìn xem mình quên cái gì này!
Ông sờ ngay lên đôi tai nóng bừng của mình và lưng rung lên, sau đó đưa ánh
mắt cầu khẩn về phía nàng tiểu quỷ xinh đẹp dịu hiền, kẻ vừa mới hành ông xong.
– Còn gì nữa đây, hả nàng Rose yêu quý của anh? Chính mình đã giúp anh
sắp xếp va li kia mà!
– Thế cái này?
– Ôi! Anh đảm bảo với mình đây không phải là lúc đùa đâu, em yêu ạ! Mình
có hiểu không, anh ra đi để đến tận châu Phi kia đấy! Đến Timbo!
– Chính thế! - Nàng cắt ngang gọn lỏn, trong lúc cứ phăm phăm vượt lên
trước ông ở ngoài sân, nơi đám gia nhân đang chất nốt những rương hòm và thắng
ngựa vào xe.
– Mình dẫu sao cũng không mở tung hành lý của anh chỉ vì thứ đó thôi chứ!
– Có đấy!
– Nhưng mình muốn anh làm gì với nó chỗ đám Da Đen hả?
– Mình sẽ diện nó để chơi trong nhà hát kịch của họ!
Trong những tình huống khác, em yêu ạ, thì có lẽ anh sẽ không từ chối đâu!
Và cũng chính vì điều này mà anh đã cưới em: những chiếc váy nhiều màu sặc sỡ
của em, những chuỗi vòng em đeo đến từ những xứ sở xa lạ, những đóa hoa em
cài trên tóc, và cả những vụ luyện giọng bất ngờ đôi khi em cất lên trong các nhà
thờ và tại các phòng khách. Nhưng từ đó đến việc diễn kịch Méphistophélès chỗ
dân Da Đen thì…!
Nhưng kẻ bạo hành yêu kiều đáng mến của ông đã kịp đóng rương lại. Ông
hôn nàng và leo lên xe, bụng bảo dạ: “Ta sẽ vất nó đi ngay, cái thứ trang phục thớ
lợ lố bịch ấy… khi đến cảng hay lúc ở trên tàu thủy… Đúng thế đấy, trên tàu, vứt
qua thành boong. Ta đến Phi châu là để trở thành vua, chứ không phải đến đó để
làm thằng hề!” Nhưng trong suốt cuộc hành trình, ông đã quên thực hiện điều đó.
6
Và chính tiểu tiết này đã cứu sống ông vài tháng sau đó, khi mà những người
Peul đe dọa sẽ xử trảm ông.
Ông dõi ánh mắt cuối cùng lên thôn trang, chiêm ngưỡng phần đỉnh mái nhà
hình yên ngựa thồ, những bức tường màu thổ hoàng và xanh ô liu của vô số những
cửa chớp. Ông thấy khó mà công nhận rằng Napoléon đã từng lưu trú tại đây vào
ngày hôm sau, khi thành Toulon bị vây hãm và đã mơ cưới nàng Désirée Clary, ái
nữ đầu lòng của gia đình. Ông bật cười, một nụ cười ngắn ngủi và tự hỏi liệu điều
gì sẽ xảy ra với nước Pháp nếu nàng Désirée ấy đồng ý, thay vì lại thích
Bernadotte hơn, ngay trước khi người này trở thành Charles XIV, vua Thụy Điển.
Hơn nữa, nền Cộng hòa thứ nhất đã sụp đổ, và đến nền Đế chế thứ nhất, thế rồi do
một sự ngẫu nhiên nhất trong mọi điều ngẫu nhiên, gia đình Pastré - các bạn biết
rồi chứ, những nhà buôn tàu biển nổi tiếng nhất ấy mà! - đã mua lại điền trang này
và rồi, lại vẫn do sự ngẫu nhiên nhất, ông đã cưới con gái của gia đình Pastré.
Và đến giờ vậy là đã tám mươi sáu năm trôi qua kể từ thời Bernadotte - nhưng
liệu đây có phải là một sự ngẫu nhiên không? - ông lại băng qua cùng một khung
cửa sắt để cũng đi mưu đồ một triều đình. Và chẳng phải là một nơi bất kỳ nào
đâu nhé: ở chính tại Fouta-Djalon kia đấy!
Vào ngày 29 tháng Mười một năm 1879 ấy, Marseille có tuyết rơi. Chỉ nhìn
toàn cảng Madrague và đại lộ Prado, không còn nhận ra nữa dưới tấm áo choàng
trắng thô kệch khổng lồ của chúng, thì cũng đủ khiến ông run lập cập. Đất nước
Na Uy ngày hôm đó chắc cũng giống hệt như thế.
“Rõ ràng là ta không thể tìm thấy thời khắc thích hợp hơn để đi đến Phi
châu!”, ông xoa hai tay vào nhau và thốt lên trong lúc đi đến cảng.
Một nhân viên của Công ty vận tải biển hướng dẫn người đánh xe ngựa chạy
về phía cảng, nơi mà con tàu đi Niger cũng đang thả neo cạnh những chiến hạm
của thành phố Constantinople và những con tàu đi Trung Cận Đông. Ông nấn ná
giây lát với viên trưởng tàu trong lúc người ta chuẩn bị phòng cho ông. Ông lơ
đãng nghe người đang tiếp chuyện mình nói thao thao bất tuyệt về chất lượng con
tàu của ông ta và về phong cảnh của xứ Madère hay đảo Piscis. Ông cảm thấy bồn
chồn. Ông thích đi du lịch, nhưng chỉ để dành niềm hoan hỉ cho lúc cập bến. Tàu
hỏa và tàu thủy khiến ông ngán ngẩm; ngựa và xe đạp khiến ông chóng mặt. Than
7
ôi, ông thầm nghĩ, mình sẽ chỉ còn là hạt bụi vào cái ngày xa lắc kia nhưng chắc
chắn những tiến bộ sẽ tìm ra phương tiện để đến được Phi châu trong giây lát.
– Bữa điểm tâm vào bảy giờ sáng!… Và hãy thư giãn đi, thưa ngài, chúng ta
mới chỉ là bước đầu của cuộc phiêu lưu mà thôi!
– Với ông thì vậy, thưa ngài thuyền trưởng! - Ông lầm bầm. Còn với tôi, thì
chẳng mấy nữa sẽ là bốn mươi năm nay rồi.
Bốn mươi năm, điều đó muốn nói là cả một cuộc đời, chân bước trên đất Pháp
còn trí óc lại ở nơi đó, thất lạc trong đám tinh vân của Miền Nhiệt Đới! Như ông,
sinh vào giữa thế kỷ XIX, người ta chỉ có thể trở thành thi sĩ, bác học hay những
nhà thám hiểm. Vấn đề liên quan đến ông đã mau chóng được giải quyết, ông sẽ là
một nhà thám hiểm, có nghĩa là cả thi sĩ và bác học trong cùng một cơ hội. Trong
những khoảng thời gian ấy, trong các sân trường, vào giờ ra chơi, các nước thuộc
địa thường quay lại trong các cuộc trò chuyện cũng thường thuyên như như trò
nhảy lò lò và chơi bi. Nhưng câu chuyện cổ tích không nói về yêu tinh hay những
bà tiên, mà nói về các phù thủy và bộ tộc ăn thịt người chạy đuổi theo, cùng với
những cây giáo của họ, sau một con vật săn hoàn toàn mới mẻ đã xuất hiện trong
rừng rậm: những cha cố da trắng và những chủ trại.
Những con vi rút của các nước thuộc địa, ông đã vướng phải chúng khi nghe
những câu chuyện kể của người chú họ lớn tuổi của ông, chú Simonet. Những
cuộc phiêu lưu thú vị của các nhà tiên phong của nền văn minh bị thất lạc nơi có
bộ tộc ăn thịt người, và rằng thiện tâm của chúa Jésus đã cứu sống họ trong gang
tấc khỏi những chảo nước sôi sùng sục của đám thổ dân Zoulous hay Papous,
khiến cậu bé rùng mình mỗi tối, trong những bữa ăn tối của gia đình, thường rất
lâu và rất khó chịu đựng. Và sau chuyện ấy, cậu thấy rất thú vị được co quắp dưới
lớp chăn đắp, sung sướng vì các bức tường của phòng mình đủ độ dày, mái nhà
chắc chắn và những cánh cửa đã cài chặt trong khi đó thì, dưới màn đêm lạnh
tuyết rơi của xứ Lyon, những con quỷ bị rạch mặt đang lẩn quất tìm kiếm những
cậu bé xinh xắn có mái tóc vàng tơ óng mượt.
Đó là một trường hợp, thế hệ trước, chú Simonet, kẻ du mục của họ tộc, một
bouligant thực sự, nói theo cách như người Lyon vẫn nói thế! Ông đã lê cặp ghệt
của mình mỏi mòn ở xứ Java và Anatolie. Ông đã đem về từ nơi đó cả hàng đống
những giai thoại, những biệt ngữ và các thứ mới lạ. Câu chuyện nhỏ kể rằng chính
8
ông đã đem về cho nước Pháp thứ đồ tuyệt vời được gọi là mút-sơ-lin, thứ đã làm
lên vẻ thanh lịnh trang nhã của các quý bà và cả gia tài của Tarare. Người ta gọi
ông là “Giáo hoàng của mút-sơ-lin” trong lúc ngả mũ thật thấp, kính cẩn chào
ông. Điều chẳng phải là tầm thường, thậm chí ngay cả trong gia đình Olivier, nơi
mà mỗi người phải sáng tạo một cái gì đó trước khi sinh ra.
Vào lúc lên bảy, cha tu viện trưởng Garnier, gia sư của cậu, đã thế chỗ của tổ
tiên huy hoàng: thời khắc chuyển từ lời nói sang hành động. Một đảo san hô của
biển Thái Bình Dương được mau chóng đặt trên bờ của vùng Azergue, dòng sông
tưới tắm cho ngôi làng nhỏ Chessy, nơi đã chứng kiến một phần thời hoa niên của
cậu: với những đôi giày vải và hàng dừa tưởng tượng. Cậu bé Aimé diện vào chiếc
mũ bảo hiểm và đôi ủng, cậu là nhà nghiên cứu dân tộc thiểu số dũng cảm mà Sở
Địa lý phái đến khám phá vùng Zaratoutsanie, xứ sở rừng rậm vẫn còn xa lạ đối
với đám người vẽ bản đồ và có thể cũng còn xa lạ với các thầy bói. Cha xứ
Garnier tự vẽ trên hai cánh tay mình những hình thù và những vết rạch trên mặt:
ông là Guénolé, kẻ hoang dã đáng gờm bất ngờ xuất hiện tranh hùng với Da Trắng
sau khi con tàu của người này bị đắm. Họ chơi trò trốn tìm đuổi bắt cả ngày liền,
giả vờ quật ngã những con thú hoang và nhảy qua những cỗ đạn pháo. Những
mánh khóe và những cú tránh né cuối cùng đã chinh phục được Guénolé. Kẻ
hoang dã thuần thục ngã gục dưới chân bậc thầy, chối bỏ những vật thần và những
hiến sinh của loài người, ôm hôn cây thánh giá và hứa, trong tương lai sẽ hành xử
như là một con chiên trung thành. Rồi học cắm trại không xa nơi đó và ăn tối bằng
một hộp cá sác-đin sau bài học tiếng La-tinh.
Tám tuổi, giờ thì đã rõ ràng, cậu không chỉ đành lòng trở thành một nhà thám
tử nữa, mà sẽ trở thành một ông hoàng của những kẻ hoang dã. Cậu sẽ vạch ra
một thuộc địa sau khi đã hút cạn các đầm lầy và phác hình các bộ tộc. Cậu sẽ biến
nơi đó thành một hoàng triều, sống dưới những ý tưởng và luật pháp của cậu và
làm rạng rỡ dưới tài năng đặc biệt của nước Pháp. Ở những đâu: ở Tonkin[1], hay
ở Fouta-Djalon đây? Cậu đã lưỡng lự rất lâu trước khi chọn giải pháp thứ hai.
“Tonkin”, trong đầu đứa trẻ là cậu thời đó, mang nhiều âm điệu tiếng chuông báo
động liên hồi, trong khi Fouta-Djalon thì không! Hơn nữa, kể từ thời Marco Polo,
châu Á thực sự không còn gì để khám phá nữa. Người ta có thể đã hình dung
những khu của nó, những luật lệ của nó cho đến tận các vùng sâu của
9
TaklaMakan. Còn Phi châu, trong thời gian đó, thì vẫn còn là tăm tối, kỳ cục, điên
rồ và lạ lùng, hoàn toàn không thể dự đoán gì trước được.
Lên mười tuổi, cậu bắt đầu nghiến ngấu những câu chuyện của các nhà thám
hiểm và bắt đầu viết cho Sở Địa lý. Cậu đặt dài hạn tạp chí L'Illustration cũng
như tạp chí hướng dẫn Joanne và Muray. Cậu tự trang bị kiến thức cho mình
trong bí mật và để mặc cho thời gian trôi đi. Cuộc sống của cậu diễn ra suôn sẻ
trong thung lũng sông Rhône nhưng lại lớn lên cùng với những dòng sông, những
cây cỏ và các bộ tộc của đất nước Soudan.
Thế rồi có kỳ thi tốt nghiệp trung học, đậu bằng kỹ sư, đám cưới và những đứa
con: cậu thấy buộc phải trả món nợ của mình cho xã hội trước khi bay nhảy nơi
xa. Trước khi có chuyện đó, cậu đã có thời gian để chinh phục đỉnh Mont-Blanc,
phát minh ra bánh xe với trục moay-ơ treo và xây dựng nhà máy xe đạp đầu tiên,
chỉ là tự trang bị kiến thức. Vào tuổi bốn mươi, ông rút cục đã có thể tiến đến điều
chủ yếu: Phi châu!
Phi châu, ông đã luôn sống ở đó, chắc chắn là thế, nhưng đó vẫn chỉ là những
câu chữ; những bức họa, những hình ảnh, những tấm bản đồ chìm ngập trong các
con chữ. Mọi chuyện nghiêm túc chỉ vừa mới bắt đầu từ vài tháng nay, sự ám ảnh
thời hoa niên của ông đã lấp ló lần đầu tiên những con quái vật và những ảo ảnh:
khi ông đã lên tàu ở nhà ga Austarlitz để đến Lisbonne.
Để đến được bến bờ của châu lục Đen, thì khi ấy, tốt hơn cả phải băng qua
Tage đầu tiên. Tiên phong trong các cuộc khám phá châu Phi, vĩ nhân Bồ Đào Nha
là những người bén rễ vào nơi đó tốt nhất, những hồ sơ lưu trữ của họ, dồi dào và
phong phú nhất, những tấm bản đồ của họ là chắc chắn nhất. Ngoài ra, các chi
nhánh Boulam và Bissiao của họ nằm ngay cạnh các dãy hoành sơn của FoutaDjalon, nơi mà rất nhiều các con sông lớn nhỏ đều đổ về.
Các bạn thân đã cố vấn cho ông người có tên là Francisco da Costa e Silva,
Tổng giám đốc của Sở Hải ngoại, cũng như các nhà buôn quan trọng nhất. Ông đã
chẳng gặp bất kỳ khó khăn gì để có được visa và những lời khuyên, những tấm
bản đồ mới nhất và những thông tin cụ thể về thói đỏng đảnh của khí hậu và
những tục lệ của người bản địa. Và, hôm trước đó, ông đã tìm được cho mình một
lọ nhỏ cyanure trước khi đến bưu điện bỏ lá thư di chúc cho người bạn Jules
Charles-Roux, chủ tịch Hội Địa lý của Marseille. Có lẽ ông không nên làm thế,
10
nhưng làm sao được, khi ta đến tận Phi châu mà không viết bản di chúc của mình?
Có thể ông nên tự mình đem đến trao tận tay ông ấy và nói lời giã biệt nhưng phải
là kẻ thiếu giáo dục thì mới trao tận tay cho ai đó bản di chúc của mình.
Người ta không đi đến châu Phi giống như khi người ta từ đó trở về. Trong
hướng này thì đó là những bữa tiệc tối và các đêm vũ hội, các quý bà đội mũ rộng
vành và trong váy vỉ xô, những ván bài của các nhà buôn, những tiếng cười vui
thú của đám thủy thủ. Theo hướng khác, thì đó là không khí bệnh tật của các công
chức bị sa thải, những nhà phiêu lưu phá sản và các góa phụ than vãn khóc lóc, về
các ông chồng bị sát hại bởi căn bệnh sốt rét hay bởi những mũi tên tẩm độc của
bọn Mọi đen.
Trên con tàu Niger, các tiệc tối thật tẻ nhạt mặc dù có những hợp âm ồn ào của
những bản nhạc dân tộc được ban nhạc chơi nhiệt tình: không một ai đã từng nghe
nói về Fouta-Djalon và chỉ duy nhất một khách mời biết chơi cờ một cách tạm
chấp nhận được. Đó là một chàng kỹ sư trường Bách khoa còn trẻ, đến Sénégal để
họa một con đường tiến sâu vào lãnh thổ. Anh ta tên là Souvignet và được trời ban
cho một vẻ ngây thơ đến xúc động cùng với niềm hứng thú điên khùng của lứa
tuổi hai mươi ba. Ngay tối hôm khởi hành, chàng ta tiến lại gần chiếc bàn trong
phòng khách, nơi Olivier de Sanderval đang ngồi giết thời gian với những phong
sô-cô-la bất ly thân của ông và những ván chơi cờ đơn, kéo một chiếc ghế và ngồi
xuống:
– Tôi có thể ngồi chứ ạ?
– Cẩn thận nhé, tôi chỉ chơi với những bậc cao tay thôi đấy!
– Với những bậc cao tay ư! - Chàng nói. - Thế thì, mình bắt đầu thôi, thưa
ông ngoại, ông sẽ không tìm đâu ra người nào cao tay hơn tôi trong những ván cờ
và tất cả những gì còn lại đâu!… Nếu ông thắng tôi, tôi sẽ tặng ông cái này!…
Ông đến Phi châu làm gì, hả ông ngoại?
– Ta đến đó để tạo cho mình một hoàng triều!
– Vua của châu Phi ư, vâng vâng, ông có dáng vẻ để làm điều đó lắm! Ông sẽ
không ăn thịt tôi chứ, chí ít thì cũng vậy chứ, một khi ông đã trở thành Da Đen, hả
ông ngoại?
– Ta thấy anh có vẻ còn nhạt nhẽo hơn cả hãnh tiến nữa, chàng trai trẻ ạ. Và
để nói thật với anh, thì chính là để phanh lại chuyện người ăn thịt người mà ta
11
thân chính đến châu Phi đó.
– Gì cơ, ông sẽ giết hết tất cả các bộ tộc ăn thịt người à?
– Không, ta sẽ cải hóa họ, ta sẽ biến họ thành những bác học!
– Thế thì tuyệt quá, những người Pygmé đối thủ của Gay-Lussac, nhưng mà
ông đúng là thần thánh đấy, ông ngoại ạ! Ông không chỉ thắng tôi trong những
ván cờ mà ông còn ngông cuồng kỳ cục hơn cả tôi. Tôi không thích vậy đâu, ông
ngoại ạ! - Còn anh, anh tính làm thế nào để trở nên nổi tiếng đây?
– Những cây cầu, những bến cảng, những đền đài, thưa ông ngoại! Nhiều và
rất tốt đến chừng nào mà họ lũ lượt đến phủ phục dưới chân tôi để cầu khẩn tôi
chấp nhận tước vị thống đốc toàn quyền của Sénégal! Phi châu, đó là cơ hội may
mắn cho thế hệ chúng tôi! Còn tôi hả, điều đó đập ngay vào mắt đấy thôi, tôi là
một kẻ nhiều tham vọng!
– Tốt thôi, với tất cả mọi lời chúc tốt đẹp nhất, thưa tướng Faidherbe tương
lai!
Con tàu lướt qua các vùng Madère, đảo Canari, mũi Blanc, và đây rồi, vùng
Gorée!
Trên chừng ba mươi ván đấu kéo dài suốt dọc chuyến đi, chàng trai trẻ Bách
khoa dẫu sao cũng thắng được chừng mươi trận, nhưng chàng cố nài, mặc dù vấp
phải sự từ chối ngần ngại của bạn chơi, để tặng lại cho ông chiếc đồng hồ vàng
xinh xắn có khắc tên những chữ cái tên chàng:
– Những gì đã nói là phải thực hiện, cuộc sống là vậy, ông ngoại ạ!
Còn cách vịnh biển cả vài ki-lô-mét, người ta đã nhìn thấy đám dân Da Đen.
Những con thuyền nhỏ mong manh của họ xuất hiện rồi lại biến mất trong những
làn sóng của con tàu. Họ náo động giữa những ngọn sóng, gần như trần truồng, và
hình bóng họ gợi lại nơi đám Da Trắng những hình khối huyền bí và sắc sảo của
những bức tượng về họ. Đám này lắp bắp rồi thốt ra những tiếng kêu, đám kia lại
lộn nhào, đầu lao xuống trước, kình địch với những con sóng trong trò xoay mình
trên mặt nước.
– Quý bà Xinh-Xinh, hãy ném xu cho tôi đi!
Điều đó khiến cho những ông bà chủ ấp mới đến ấy vui thú, lúc này họ đã kéo
hết lên boong tàu, náo động như đám cừu cái bị xông khói. Đám Da Đen mừng
12
quýnh. Kẻ đầu tiên lao vào những vật nhỏ xinh được tung xuống, những kẻ may
mắn cám ơn bằng một tiểu khúc dài những ca khúc và những chuỗi nhăn mặt.
– Quý ông Đẹp-Đẹp-Đáng Kính, hãy ném xu cho tôi đi!
Người ta lôi ống nhòm ra, rồi thất lạc trong những phỏng đoán về những cẳng
tay và sự uyển chuyển đáng ngạc nhiên của họ.
Những người khác di chuyển từ chỗ này sang chỗ kia trên boong tàu, ồn ào
sửng sốt trong lúc chỉ đám Da Đen, chim muông, và cây cỏ. Còn ông, chẳng gì
khiến ông ngạc nhiên cả. Ông đã chờ đợi chính những thứ đó. Mọi thứ đều ở đúng
vị trí của nó: đất âm u và nóng ẩm, những cây cọ còm cõi và bờm xơm, tiếng
trống tam tam inh ỏi không ngớt và đám hải âu quá sặc sỡ.
Gorée giờ đây đã nằm trong tầm tay, với ông chủ buôn nô lệ da đen hùng hậu
và những ngôi biệt tự có ban công được bao quanh những hàng mi-mô-da, những
khóm hồng và dãy phượng rực rỡ.
Một cơn rùng mình dữ dội chạy dọc sườn ông, ông bám vào thành tàu, thốt lên
mà không hề sợ mang tiếng nực cười:
– Ta đến đây rồi, Phi châu già nua của ta ơi! Ta có mặt đây rồi.
Chẳng có gì ngoài đất, cát, những đóa hoa và các con sóng. Nhưng ở tại tâm
điểm Phi châu!
“Mỗi vật sơ đẳng nhất cũng đều có một ý nghĩa tại nơi đây và một sự mãnh
liệt khó hình dung ở những nơi khác.”
Mặc dù những xô đẩy chen lấn nhưng ông cũng lôi được cuốn sổ ghi chép của
mình ra và mỉm cười ghi lại: “Ở đây, chỗ nào cũng là ánh mặt trời, chỗ nào cũng
là niềm vui thú sảng khoái!” Chẳng có ý nghĩa gì, tầm thường, hoàn toàn nực
cười, nhưng đúng là những gì ông cảm nhận được lúc đó. Ông chỉnh lại mũ, đặt
bàn chân mình lên đất liền mà không hề cởi áo redingote[2], lẫn găng tay, thậm chí
còn liếc nhìn với ánh mắt chễ giễu những người bạn đồng hành khốn khổ, những
người này thì đang thở hổn hển như đám súc vật thồ hàng và đưa khăn thấm mồ
hôi trán, càng trở nên ngớ ngẩn u mê gấp bội do không khí nóng và sự lạ nước lạ
cái.
Ông sinh ra đã bị chứng mất ngủ và sợ lạnh, có thể nói luôn: dành cho châu
Phi! Vả lại, trên miền duyên hải này thì ông đã gần như ở chính nhà mình: ngoài
ngôi nhà, nơi ông được đối xử như là một đứa trẻ được chiều chuộng thì ông đã tự
13
tạo cho mình ở Boulam, những thương điếm hải ngoại thuộc quyền sở hữu của
ông và Jean-Baptiste, một du thuyền hiện đại mới toanh, thả trên một cảng tàu
khác để phục vụ cho những nhu cầu và những cuộc dã ngoại ở Phi châu của ông.
Ông qua trạm hải quan, lạnh lùng băng qua đám đông ồn ã những kẻ hành
khất. Bonnard và những Pistachier[3] đang đợi ông trước đám đông tu tập các cô
bán hàng rong. Các cô này đứng ngồi nhung nhúc trên các vỉa hè đầy bụi bặm,
phủ đầy trái cây thối, phân lừa và ruồi muỗi; phần lớn để ngực trần, tóc phủ đầy
ngọc trai, khố đeo buông chưa quá gối. Các cô hút thứ tẩu ngắn bằng đất nung và
chạy hỗn loạn đằng sau những đám khách sang trọng để mời họ mua những bức
tượng nhỏ, quả đu đủ và dừa. Bên cạnh các cô, ngồi xổm trên nền đất, đám đàn
ông cạo râu hay ngồi chơi cờ bằng những viên sỏi.
Bonnard đã sửa sang cho ông một ngôi biệt thự đối diện đại dương với một
khu vườn mênh mông quay ra bãi biển. Nhưng ngay hôm sau, thay bằng việc đi
tắm hay dạo một vòng qua các thương điếm, thì ông lại ngụy trang thành một chủ
ấp (bốt da, áo vest chống mưa, mũ bảo hiểm) và, bỏ rơi ngài Bonnard đáng
thương, ông một mình phiêu lưu trong các con hẻm của thành phố để thăm thú các
chủ buôn nô lệ hùng hậu và hít thở đầy buồng phổi mùi vị đậm đặc của các gia vị
và trái cây. Nhưng có điều, trên đường đi của ông, bỗng xuất hiện một con bò tót
cuồng điên. Một đám trẻ con đổ xô vào ông và chỉ còn mỗi thời gian đẩy ông vào
bên trong một ngôi nhà nhỏ.
– Ông, vào đây đi! Con này tồi lắm, xấu lắm đó!
Toàn thân thấm đẫm mồ hôi và tứ chi run rẩy, ông nhìn con vật tiếp tục chặng
đường của nó, một thằng bé còm cõi chẳng mấy chốc vướng vào bộ sừng của nó.
“Ở đây chẳng có gì là cho không cả, chắc chắn là thế!”, ông lầm bầm trong lúc cố
lấy lại tinh thần. Buổi tối, sau bữa ăn, theo một đà giờ đã trở thành huyền thoại,
ông khép mình đơn côi trong một góc vườn và hòa chất giọng lạ lùng của ông với
chất giọng, gây hoảng loạn, của màn đêm Phi châu:
“Ban nãy, ngươi đã cứu sống ta, Phi châu già nua của ta ạ, cám ơn ngươi! Còn
bây giờ, ta cầu xin ngươi đấy, hãy cho ta Fouta- Djalon, để ta có thể biến nơi đó
thành hoàng triều của ta!”
Dakar, vẫn còn nhọc nhằn để thoát khỏi những tòa nhà kính phòng vệ cay độc
của rừng rậm đã được đón ba chuyến kiệu đến thăm viếng. Sườn núi bao đầy
14
những cây tầm xuân và gió thổi dào dạt, bãi biển, hải cảng, nhà ga và khu nhà
thương mới tinh vừa được dựng lên một cách vội vã để trợ giúp khu bệnh viện ở
Gorée đã trở nên chật chội do sự tăng trưởng đột biến của bện
 





