BẢN TIN HÔM NAY

Thực hiện Công văn số 5607/BGDĐT-GDNNGDTX ngày 15/9/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025; Công văn số 4050/GDĐT-GDTX-GDMN-CTHSSV ngày 23/9/2025 của Sở GDĐT về việc tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025.Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ năm học của đơn vị .Trường THPT Đặng Huy Trứ xây dựng kế hoạch Hưởng ứng tuần lễ học tập suốt đời năm 2025. Đây là hoạt động thường niên có ý nghĩa thiết thực, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên, học sinh và cộng đồng về vai trò của việc học tập suốt đời trong xây dựng xã hội học tập, góp phần phát triển quê hương Nam Thái Ninh ngày càng văn minh, tiến bộ. Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025 mang chủ đề: “Học để phát triển bản thân, làm chủ tri thức và công nghệ, góp phần xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng”. Chủ đề này nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học, học tập suốt đời gắn với việc chủ động làm chủ tri thức và công nghệ. Trong thời đại công nghệ số, tri thức nhân loại thay đổi từng ngày. Việc học không chỉ diễn ra trong lớp học mà còn ở mọi nơi: qua sách báo, internet, thư viện, các lớp học cộng đồng, hay từ chính những trải nghiệm thực tế trong cuộc sống. Học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người dân. Người lớn học để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, trẻ em học để phát triển toàn diện, người cao tuổi học để sống vui, sống khỏe. Mỗi người học một cách, học ở mọi nơi, mọi lúc - miễn là có khát vọng vươn lên.

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

LIÊN KẾT WEBSITE

SÁCH ĐIỆN TỬ- SGV, SGK

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 14

    SÁCH NÓI

    https://sachnoi.cc/truyen-ngan/truyen-noi-nghin-le-mot-dem-antoine-galland/

    Menu chức năng 15

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7219497009296_5f0ee82ecf936cff10f74cf311b01a0c.jpg Z7219496993044_cee7b7dec674834140fe3f089d1d759e.jpg ANH_LIEN_THONG.PNG Anh_6.jpg Anh_4.jpg Anh_3.jpg Anh_2.jpg Anh_1.jpg Anh_10.jpg Anh_8.jpg Anh_7.jpg Anh_6.jpg Anh_6.jpg Anh_5.jpg Anh_3.jpg Anh_1.jpg 146701loi_gioi_thieu_NhasachMienphicom.mp3

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH THAM KHẢO

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Ông hoàng xứ Kahel

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: https://sachmoi.net
    Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
    Ngày gửi: 08h:59' 11-12-2025
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    1

    ÔNG HOÀNG XỨ KAHEL
    —★—
    Nguyên tác: Le Roi de Kahel
    Tác giả: Tierno Monénembo
    Người dịch: Hiệu Constant
    Nhà Xuất Bản Văn Học - 2012
    ebook©SACHMOI.NET
    07-09-2018

    Ebook miễn phí tại: www.sachmoi.net

    2

    Thân tặng Jean-Louis Langeron, Alpha Ibrahima Sow và Saïdou Kane

    3

    “Qua những cuộc phiêu lưu của một nhà tiên phong Pháp, tiểu thuyết gia gốc
    Guinée đã lần ngược lại những biến cố và đổ nát của vương triều Peul ở FoutaDjalon. Tác phẩm được viết dưới một tài năng tuyệt vời về viễn tưởng và hư cấu
    mạch lạc giữa Lịch sử và Danh phận, lịch sử của một Phi châu hiện đại có thể
    nhìn về quá khứ của mình mà không rơi vào thuyết máy móc phân biệt giữa Da
    Trắng và Da Đen. Qua những trang hơi khó đọc của phần đầu tác phẩm, thì bạn
    đọc dễ dàng bị cuốn hút bởi biên độ trí tưởng tượng sử thi, kết hợp giữa các trò
    cười của cuộc sống và linh cảm bất thường đáng lo ngại của cuộc chiến tranh giữa
    các nền văn minh trong chế độ thuộc địa.”
    • Đài RFI
    “Với cuốn tiểu thuyết pha trộn giữa cuộc sống và những tìm hiểu sâu rộng về
    tư liệu, Tierno Monénembo đã miêu tả chặng đường đi tìm và thiết lập vương
    quốc của một con người kỳ tại, lập dỵ nhưng rất đáng mến của thế kỷ XIX.”
    • Tạp chí Văn Học
    “Một tác phẩm dữ dội đề cập đến thảm cảnh và những thăng trầm của lịch sử
    châu Phi…”
    • Tạp chí Nouvel Observateur
    “Đấng Tối cao đã sinh ra họ màu đen để cho những cú bị đánh không bị nhìn
    thấy được.”
    • Olivier De Sanderval

    4

    Giới Thiệu
    Tierno Monénembo, tên thật là Thierno Saïdou Diallo, sinh ngày 21-7-1947, ở
    Porédaka ở Guinée. Ông là một nhà văn thuộc khối Pháp ngữ. Năm 1969 ông đã
    bỏ trốn khỏi chế độ độc tài Sékou Touré. Ông đã chạy bộ gần 150 kilomet để đến
    Sénégal. Ông theo học Y khoa tại Dakar, rồi sau đó đến Bờ Biển Ngà (Côte
    d'Ivoire) và tại đây, ông bắt đầu theo học ngành Sinh Hóa và tiếp tục ngành này
    tại Pháp vào năm 1973, ông bảo vệ thành công luận án tiến sỹ tại trường đại học
    Lyon. Ông đến Algérie và Maroc giảng dạy một thời gian. Từ năm 2007, ông là
    giáo sư danh dự của Middlebury College tại vùng Vermont, Hoa Kỳ.
    Có thể nói lang thang viễn xứ là trọng tâm cuộc đời và tác phẩm của người
    con tộc Peul này. Ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên Những chú cóc-trảng bụi
    năm 1979. Bảy năm sau, ông cho ra đời tác phẩm Những chiếc vẩy tê tê của bầu
    trời và đoạt giải Grand Prix của châu lục Đen. Năm 1991, cuốn Giấc mơ hữu ích
    cũng ra đời dưới ngòi bút của ông. Đến nay, ông đã hoàn thành mười cuốn tiểu
    thuyết. Và cuốn Ông hoàng xứ Kahel đã vinh dự được trao giải Renaudot, một
    phần thưởng danh giá trong làng văn học Pháp.

    5

    Phần Một
    Vào đúng lúc ra khỏi nhà để xuống tàu thì giọng nói đay nghiến yêu kiều của
    vợ ông cất lên khiến Olivier de Sanderval đứng sựng lại ngay giữa cầu thang.
    – Aimé đáng thương của em ơi, nhìn xem mình quên cái gì này!
    Ông sờ ngay lên đôi tai nóng bừng của mình và lưng rung lên, sau đó đưa ánh
    mắt cầu khẩn về phía nàng tiểu quỷ xinh đẹp dịu hiền, kẻ vừa mới hành ông xong.
    – Còn gì nữa đây, hả nàng Rose yêu quý của anh? Chính mình đã giúp anh
    sắp xếp va li kia mà!
    – Thế cái này?
    – Ôi! Anh đảm bảo với mình đây không phải là lúc đùa đâu, em yêu ạ! Mình
    có hiểu không, anh ra đi để đến tận châu Phi kia đấy! Đến Timbo!
    – Chính thế! - Nàng cắt ngang gọn lỏn, trong lúc cứ phăm phăm vượt lên
    trước ông ở ngoài sân, nơi đám gia nhân đang chất nốt những rương hòm và thắng
    ngựa vào xe.
    – Mình dẫu sao cũng không mở tung hành lý của anh chỉ vì thứ đó thôi chứ!
    – Có đấy!
    – Nhưng mình muốn anh làm gì với nó chỗ đám Da Đen hả?
    – Mình sẽ diện nó để chơi trong nhà hát kịch của họ!
    Trong những tình huống khác, em yêu ạ, thì có lẽ anh sẽ không từ chối đâu!
    Và cũng chính vì điều này mà anh đã cưới em: những chiếc váy nhiều màu sặc sỡ
    của em, những chuỗi vòng em đeo đến từ những xứ sở xa lạ, những đóa hoa em
    cài trên tóc, và cả những vụ luyện giọng bất ngờ đôi khi em cất lên trong các nhà
    thờ và tại các phòng khách. Nhưng từ đó đến việc diễn kịch Méphistophélès chỗ
    dân Da Đen thì…!
    Nhưng kẻ bạo hành yêu kiều đáng mến của ông đã kịp đóng rương lại. Ông
    hôn nàng và leo lên xe, bụng bảo dạ: “Ta sẽ vất nó đi ngay, cái thứ trang phục thớ
    lợ lố bịch ấy… khi đến cảng hay lúc ở trên tàu thủy… Đúng thế đấy, trên tàu, vứt
    qua thành boong. Ta đến Phi châu là để trở thành vua, chứ không phải đến đó để
    làm thằng hề!” Nhưng trong suốt cuộc hành trình, ông đã quên thực hiện điều đó.

    6

    Và chính tiểu tiết này đã cứu sống ông vài tháng sau đó, khi mà những người
    Peul đe dọa sẽ xử trảm ông.
    Ông dõi ánh mắt cuối cùng lên thôn trang, chiêm ngưỡng phần đỉnh mái nhà
    hình yên ngựa thồ, những bức tường màu thổ hoàng và xanh ô liu của vô số những
    cửa chớp. Ông thấy khó mà công nhận rằng Napoléon đã từng lưu trú tại đây vào
    ngày hôm sau, khi thành Toulon bị vây hãm và đã mơ cưới nàng Désirée Clary, ái
    nữ đầu lòng của gia đình. Ông bật cười, một nụ cười ngắn ngủi và tự hỏi liệu điều
    gì sẽ xảy ra với nước Pháp nếu nàng Désirée ấy đồng ý, thay vì lại thích
    Bernadotte hơn, ngay trước khi người này trở thành Charles XIV, vua Thụy Điển.
    Hơn nữa, nền Cộng hòa thứ nhất đã sụp đổ, và đến nền Đế chế thứ nhất, thế rồi do
    một sự ngẫu nhiên nhất trong mọi điều ngẫu nhiên, gia đình Pastré - các bạn biết
    rồi chứ, những nhà buôn tàu biển nổi tiếng nhất ấy mà! - đã mua lại điền trang này
    và rồi, lại vẫn do sự ngẫu nhiên nhất, ông đã cưới con gái của gia đình Pastré.
    Và đến giờ vậy là đã tám mươi sáu năm trôi qua kể từ thời Bernadotte - nhưng
    liệu đây có phải là một sự ngẫu nhiên không? - ông lại băng qua cùng một khung
    cửa sắt để cũng đi mưu đồ một triều đình. Và chẳng phải là một nơi bất kỳ nào
    đâu nhé: ở chính tại Fouta-Djalon kia đấy!
    Vào ngày 29 tháng Mười một năm 1879 ấy, Marseille có tuyết rơi. Chỉ nhìn
    toàn cảng Madrague và đại lộ Prado, không còn nhận ra nữa dưới tấm áo choàng
    trắng thô kệch khổng lồ của chúng, thì cũng đủ khiến ông run lập cập. Đất nước
    Na Uy ngày hôm đó chắc cũng giống hệt như thế.
    “Rõ ràng là ta không thể tìm thấy thời khắc thích hợp hơn để đi đến Phi
    châu!”, ông xoa hai tay vào nhau và thốt lên trong lúc đi đến cảng.
    Một nhân viên của Công ty vận tải biển hướng dẫn người đánh xe ngựa chạy
    về phía cảng, nơi mà con tàu đi Niger cũng đang thả neo cạnh những chiến hạm
    của thành phố Constantinople và những con tàu đi Trung Cận Đông. Ông nấn ná
    giây lát với viên trưởng tàu trong lúc người ta chuẩn bị phòng cho ông. Ông lơ
    đãng nghe người đang tiếp chuyện mình nói thao thao bất tuyệt về chất lượng con
    tàu của ông ta và về phong cảnh của xứ Madère hay đảo Piscis. Ông cảm thấy bồn
    chồn. Ông thích đi du lịch, nhưng chỉ để dành niềm hoan hỉ cho lúc cập bến. Tàu
    hỏa và tàu thủy khiến ông ngán ngẩm; ngựa và xe đạp khiến ông chóng mặt. Than

    7

    ôi, ông thầm nghĩ, mình sẽ chỉ còn là hạt bụi vào cái ngày xa lắc kia nhưng chắc
    chắn những tiến bộ sẽ tìm ra phương tiện để đến được Phi châu trong giây lát.
    – Bữa điểm tâm vào bảy giờ sáng!… Và hãy thư giãn đi, thưa ngài, chúng ta
    mới chỉ là bước đầu của cuộc phiêu lưu mà thôi!
    – Với ông thì vậy, thưa ngài thuyền trưởng! - Ông lầm bầm. Còn với tôi, thì
    chẳng mấy nữa sẽ là bốn mươi năm nay rồi.
    Bốn mươi năm, điều đó muốn nói là cả một cuộc đời, chân bước trên đất Pháp
    còn trí óc lại ở nơi đó, thất lạc trong đám tinh vân của Miền Nhiệt Đới! Như ông,
    sinh vào giữa thế kỷ XIX, người ta chỉ có thể trở thành thi sĩ, bác học hay những
    nhà thám hiểm. Vấn đề liên quan đến ông đã mau chóng được giải quyết, ông sẽ là
    một nhà thám hiểm, có nghĩa là cả thi sĩ và bác học trong cùng một cơ hội. Trong
    những khoảng thời gian ấy, trong các sân trường, vào giờ ra chơi, các nước thuộc
    địa thường quay lại trong các cuộc trò chuyện cũng thường thuyên như như trò
    nhảy lò lò và chơi bi. Nhưng câu chuyện cổ tích không nói về yêu tinh hay những
    bà tiên, mà nói về các phù thủy và bộ tộc ăn thịt người chạy đuổi theo, cùng với
    những cây giáo của họ, sau một con vật săn hoàn toàn mới mẻ đã xuất hiện trong
    rừng rậm: những cha cố da trắng và những chủ trại.
    Những con vi rút của các nước thuộc địa, ông đã vướng phải chúng khi nghe
    những câu chuyện kể của người chú họ lớn tuổi của ông, chú Simonet. Những
    cuộc phiêu lưu thú vị của các nhà tiên phong của nền văn minh bị thất lạc nơi có
    bộ tộc ăn thịt người, và rằng thiện tâm của chúa Jésus đã cứu sống họ trong gang
    tấc khỏi những chảo nước sôi sùng sục của đám thổ dân Zoulous hay Papous,
    khiến cậu bé rùng mình mỗi tối, trong những bữa ăn tối của gia đình, thường rất
    lâu và rất khó chịu đựng. Và sau chuyện ấy, cậu thấy rất thú vị được co quắp dưới
    lớp chăn đắp, sung sướng vì các bức tường của phòng mình đủ độ dày, mái nhà
    chắc chắn và những cánh cửa đã cài chặt trong khi đó thì, dưới màn đêm lạnh
    tuyết rơi của xứ Lyon, những con quỷ bị rạch mặt đang lẩn quất tìm kiếm những
    cậu bé xinh xắn có mái tóc vàng tơ óng mượt.
    Đó là một trường hợp, thế hệ trước, chú Simonet, kẻ du mục của họ tộc, một
    bouligant thực sự, nói theo cách như người Lyon vẫn nói thế! Ông đã lê cặp ghệt
    của mình mỏi mòn ở xứ Java và Anatolie. Ông đã đem về từ nơi đó cả hàng đống
    những giai thoại, những biệt ngữ và các thứ mới lạ. Câu chuyện nhỏ kể rằng chính

    8

    ông đã đem về cho nước Pháp thứ đồ tuyệt vời được gọi là mút-sơ-lin, thứ đã làm
    lên vẻ thanh lịnh trang nhã của các quý bà và cả gia tài của Tarare. Người ta gọi
    ông là “Giáo hoàng của mút-sơ-lin” trong lúc ngả mũ thật thấp, kính cẩn chào
    ông. Điều chẳng phải là tầm thường, thậm chí ngay cả trong gia đình Olivier, nơi
    mà mỗi người phải sáng tạo một cái gì đó trước khi sinh ra.
    Vào lúc lên bảy, cha tu viện trưởng Garnier, gia sư của cậu, đã thế chỗ của tổ
    tiên huy hoàng: thời khắc chuyển từ lời nói sang hành động. Một đảo san hô của
    biển Thái Bình Dương được mau chóng đặt trên bờ của vùng Azergue, dòng sông
    tưới tắm cho ngôi làng nhỏ Chessy, nơi đã chứng kiến một phần thời hoa niên của
    cậu: với những đôi giày vải và hàng dừa tưởng tượng. Cậu bé Aimé diện vào chiếc
    mũ bảo hiểm và đôi ủng, cậu là nhà nghiên cứu dân tộc thiểu số dũng cảm mà Sở
    Địa lý phái đến khám phá vùng Zaratoutsanie, xứ sở rừng rậm vẫn còn xa lạ đối
    với đám người vẽ bản đồ và có thể cũng còn xa lạ với các thầy bói. Cha xứ
    Garnier tự vẽ trên hai cánh tay mình những hình thù và những vết rạch trên mặt:
    ông là Guénolé, kẻ hoang dã đáng gờm bất ngờ xuất hiện tranh hùng với Da Trắng
    sau khi con tàu của người này bị đắm. Họ chơi trò trốn tìm đuổi bắt cả ngày liền,
    giả vờ quật ngã những con thú hoang và nhảy qua những cỗ đạn pháo. Những
    mánh khóe và những cú tránh né cuối cùng đã chinh phục được Guénolé. Kẻ
    hoang dã thuần thục ngã gục dưới chân bậc thầy, chối bỏ những vật thần và những
    hiến sinh của loài người, ôm hôn cây thánh giá và hứa, trong tương lai sẽ hành xử
    như là một con chiên trung thành. Rồi học cắm trại không xa nơi đó và ăn tối bằng
    một hộp cá sác-đin sau bài học tiếng La-tinh.
    Tám tuổi, giờ thì đã rõ ràng, cậu không chỉ đành lòng trở thành một nhà thám
    tử nữa, mà sẽ trở thành một ông hoàng của những kẻ hoang dã. Cậu sẽ vạch ra
    một thuộc địa sau khi đã hút cạn các đầm lầy và phác hình các bộ tộc. Cậu sẽ biến
    nơi đó thành một hoàng triều, sống dưới những ý tưởng và luật pháp của cậu và
    làm rạng rỡ dưới tài năng đặc biệt của nước Pháp. Ở những đâu: ở Tonkin[1], hay
    ở Fouta-Djalon đây? Cậu đã lưỡng lự rất lâu trước khi chọn giải pháp thứ hai.
    “Tonkin”, trong đầu đứa trẻ là cậu thời đó, mang nhiều âm điệu tiếng chuông báo
    động liên hồi, trong khi Fouta-Djalon thì không! Hơn nữa, kể từ thời Marco Polo,
    châu Á thực sự không còn gì để khám phá nữa. Người ta có thể đã hình dung
    những khu của nó, những luật lệ của nó cho đến tận các vùng sâu của

    9

    TaklaMakan. Còn Phi châu, trong thời gian đó, thì vẫn còn là tăm tối, kỳ cục, điên
    rồ và lạ lùng, hoàn toàn không thể dự đoán gì trước được.
    Lên mười tuổi, cậu bắt đầu nghiến ngấu những câu chuyện của các nhà thám
    hiểm và bắt đầu viết cho Sở Địa lý. Cậu đặt dài hạn tạp chí L'Illustration cũng
    như tạp chí hướng dẫn Joanne và Muray. Cậu tự trang bị kiến thức cho mình
    trong bí mật và để mặc cho thời gian trôi đi. Cuộc sống của cậu diễn ra suôn sẻ
    trong thung lũng sông Rhône nhưng lại lớn lên cùng với những dòng sông, những
    cây cỏ và các bộ tộc của đất nước Soudan.
    Thế rồi có kỳ thi tốt nghiệp trung học, đậu bằng kỹ sư, đám cưới và những đứa
    con: cậu thấy buộc phải trả món nợ của mình cho xã hội trước khi bay nhảy nơi
    xa. Trước khi có chuyện đó, cậu đã có thời gian để chinh phục đỉnh Mont-Blanc,
    phát minh ra bánh xe với trục moay-ơ treo và xây dựng nhà máy xe đạp đầu tiên,
    chỉ là tự trang bị kiến thức. Vào tuổi bốn mươi, ông rút cục đã có thể tiến đến điều
    chủ yếu: Phi châu!
    Phi châu, ông đã luôn sống ở đó, chắc chắn là thế, nhưng đó vẫn chỉ là những
    câu chữ; những bức họa, những hình ảnh, những tấm bản đồ chìm ngập trong các
    con chữ. Mọi chuyện nghiêm túc chỉ vừa mới bắt đầu từ vài tháng nay, sự ám ảnh
    thời hoa niên của ông đã lấp ló lần đầu tiên những con quái vật và những ảo ảnh:
    khi ông đã lên tàu ở nhà ga Austarlitz để đến Lisbonne.
    Để đến được bến bờ của châu lục Đen, thì khi ấy, tốt hơn cả phải băng qua
    Tage đầu tiên. Tiên phong trong các cuộc khám phá châu Phi, vĩ nhân Bồ Đào Nha
    là những người bén rễ vào nơi đó tốt nhất, những hồ sơ lưu trữ của họ, dồi dào và
    phong phú nhất, những tấm bản đồ của họ là chắc chắn nhất. Ngoài ra, các chi
    nhánh Boulam và Bissiao của họ nằm ngay cạnh các dãy hoành sơn của FoutaDjalon, nơi mà rất nhiều các con sông lớn nhỏ đều đổ về.
    Các bạn thân đã cố vấn cho ông người có tên là Francisco da Costa e Silva,
    Tổng giám đốc của Sở Hải ngoại, cũng như các nhà buôn quan trọng nhất. Ông đã
    chẳng gặp bất kỳ khó khăn gì để có được visa và những lời khuyên, những tấm
    bản đồ mới nhất và những thông tin cụ thể về thói đỏng đảnh của khí hậu và
    những tục lệ của người bản địa. Và, hôm trước đó, ông đã tìm được cho mình một
    lọ nhỏ cyanure trước khi đến bưu điện bỏ lá thư di chúc cho người bạn Jules
    Charles-Roux, chủ tịch Hội Địa lý của Marseille. Có lẽ ông không nên làm thế,

    10

    nhưng làm sao được, khi ta đến tận Phi châu mà không viết bản di chúc của mình?
    Có thể ông nên tự mình đem đến trao tận tay ông ấy và nói lời giã biệt nhưng phải
    là kẻ thiếu giáo dục thì mới trao tận tay cho ai đó bản di chúc của mình.
    Người ta không đi đến châu Phi giống như khi người ta từ đó trở về. Trong
    hướng này thì đó là những bữa tiệc tối và các đêm vũ hội, các quý bà đội mũ rộng
    vành và trong váy vỉ xô, những ván bài của các nhà buôn, những tiếng cười vui
    thú của đám thủy thủ. Theo hướng khác, thì đó là không khí bệnh tật của các công
    chức bị sa thải, những nhà phiêu lưu phá sản và các góa phụ than vãn khóc lóc, về
    các ông chồng bị sát hại bởi căn bệnh sốt rét hay bởi những mũi tên tẩm độc của
    bọn Mọi đen.
    Trên con tàu Niger, các tiệc tối thật tẻ nhạt mặc dù có những hợp âm ồn ào của
    những bản nhạc dân tộc được ban nhạc chơi nhiệt tình: không một ai đã từng nghe
    nói về Fouta-Djalon và chỉ duy nhất một khách mời biết chơi cờ một cách tạm
    chấp nhận được. Đó là một chàng kỹ sư trường Bách khoa còn trẻ, đến Sénégal để
    họa một con đường tiến sâu vào lãnh thổ. Anh ta tên là Souvignet và được trời ban
    cho một vẻ ngây thơ đến xúc động cùng với niềm hứng thú điên khùng của lứa
    tuổi hai mươi ba. Ngay tối hôm khởi hành, chàng ta tiến lại gần chiếc bàn trong
    phòng khách, nơi Olivier de Sanderval đang ngồi giết thời gian với những phong
    sô-cô-la bất ly thân của ông và những ván chơi cờ đơn, kéo một chiếc ghế và ngồi
    xuống:
    – Tôi có thể ngồi chứ ạ?
    – Cẩn thận nhé, tôi chỉ chơi với những bậc cao tay thôi đấy!
    – Với những bậc cao tay ư! - Chàng nói. - Thế thì, mình bắt đầu thôi, thưa
    ông ngoại, ông sẽ không tìm đâu ra người nào cao tay hơn tôi trong những ván cờ
    và tất cả những gì còn lại đâu!… Nếu ông thắng tôi, tôi sẽ tặng ông cái này!…
    Ông đến Phi châu làm gì, hả ông ngoại?
    – Ta đến đó để tạo cho mình một hoàng triều!
    – Vua của châu Phi ư, vâng vâng, ông có dáng vẻ để làm điều đó lắm! Ông sẽ
    không ăn thịt tôi chứ, chí ít thì cũng vậy chứ, một khi ông đã trở thành Da Đen, hả
    ông ngoại?
    – Ta thấy anh có vẻ còn nhạt nhẽo hơn cả hãnh tiến nữa, chàng trai trẻ ạ. Và
    để nói thật với anh, thì chính là để phanh lại chuyện người ăn thịt người mà ta

    11

    thân chính đến châu Phi đó.
    – Gì cơ, ông sẽ giết hết tất cả các bộ tộc ăn thịt người à?
    – Không, ta sẽ cải hóa họ, ta sẽ biến họ thành những bác học!
    – Thế thì tuyệt quá, những người Pygmé đối thủ của Gay-Lussac, nhưng mà
    ông đúng là thần thánh đấy, ông ngoại ạ! Ông không chỉ thắng tôi trong những
    ván cờ mà ông còn ngông cuồng kỳ cục hơn cả tôi. Tôi không thích vậy đâu, ông
    ngoại ạ! - Còn anh, anh tính làm thế nào để trở nên nổi tiếng đây?
    – Những cây cầu, những bến cảng, những đền đài, thưa ông ngoại! Nhiều và
    rất tốt đến chừng nào mà họ lũ lượt đến phủ phục dưới chân tôi để cầu khẩn tôi
    chấp nhận tước vị thống đốc toàn quyền của Sénégal! Phi châu, đó là cơ hội may
    mắn cho thế hệ chúng tôi! Còn tôi hả, điều đó đập ngay vào mắt đấy thôi, tôi là
    một kẻ nhiều tham vọng!
    – Tốt thôi, với tất cả mọi lời chúc tốt đẹp nhất, thưa tướng Faidherbe tương
    lai!
    Con tàu lướt qua các vùng Madère, đảo Canari, mũi Blanc, và đây rồi, vùng
    Gorée!
    Trên chừng ba mươi ván đấu kéo dài suốt dọc chuyến đi, chàng trai trẻ Bách
    khoa dẫu sao cũng thắng được chừng mươi trận, nhưng chàng cố nài, mặc dù vấp
    phải sự từ chối ngần ngại của bạn chơi, để tặng lại cho ông chiếc đồng hồ vàng
    xinh xắn có khắc tên những chữ cái tên chàng:
    – Những gì đã nói là phải thực hiện, cuộc sống là vậy, ông ngoại ạ!
    Còn cách vịnh biển cả vài ki-lô-mét, người ta đã nhìn thấy đám dân Da Đen.
    Những con thuyền nhỏ mong manh của họ xuất hiện rồi lại biến mất trong những
    làn sóng của con tàu. Họ náo động giữa những ngọn sóng, gần như trần truồng, và
    hình bóng họ gợi lại nơi đám Da Trắng những hình khối huyền bí và sắc sảo của
    những bức tượng về họ. Đám này lắp bắp rồi thốt ra những tiếng kêu, đám kia lại
    lộn nhào, đầu lao xuống trước, kình địch với những con sóng trong trò xoay mình
    trên mặt nước.
    – Quý bà Xinh-Xinh, hãy ném xu cho tôi đi!
    Điều đó khiến cho những ông bà chủ ấp mới đến ấy vui thú, lúc này họ đã kéo
    hết lên boong tàu, náo động như đám cừu cái bị xông khói. Đám Da Đen mừng

    12

    quýnh. Kẻ đầu tiên lao vào những vật nhỏ xinh được tung xuống, những kẻ may
    mắn cám ơn bằng một tiểu khúc dài những ca khúc và những chuỗi nhăn mặt.
    – Quý ông Đẹp-Đẹp-Đáng Kính, hãy ném xu cho tôi đi!
    Người ta lôi ống nhòm ra, rồi thất lạc trong những phỏng đoán về những cẳng
    tay và sự uyển chuyển đáng ngạc nhiên của họ.
    Những người khác di chuyển từ chỗ này sang chỗ kia trên boong tàu, ồn ào
    sửng sốt trong lúc chỉ đám Da Đen, chim muông, và cây cỏ. Còn ông, chẳng gì
    khiến ông ngạc nhiên cả. Ông đã chờ đợi chính những thứ đó. Mọi thứ đều ở đúng
    vị trí của nó: đất âm u và nóng ẩm, những cây cọ còm cõi và bờm xơm, tiếng
    trống tam tam inh ỏi không ngớt và đám hải âu quá sặc sỡ.
    Gorée giờ đây đã nằm trong tầm tay, với ông chủ buôn nô lệ da đen hùng hậu
    và những ngôi biệt tự có ban công được bao quanh những hàng mi-mô-da, những
    khóm hồng và dãy phượng rực rỡ.
    Một cơn rùng mình dữ dội chạy dọc sườn ông, ông bám vào thành tàu, thốt lên
    mà không hề sợ mang tiếng nực cười:
    – Ta đến đây rồi, Phi châu già nua của ta ơi! Ta có mặt đây rồi.
    Chẳng có gì ngoài đất, cát, những đóa hoa và các con sóng. Nhưng ở tại tâm
    điểm Phi châu!
    “Mỗi vật sơ đẳng nhất cũng đều có một ý nghĩa tại nơi đây và một sự mãnh
    liệt khó hình dung ở những nơi khác.”
    Mặc dù những xô đẩy chen lấn nhưng ông cũng lôi được cuốn sổ ghi chép của
    mình ra và mỉm cười ghi lại: “Ở đây, chỗ nào cũng là ánh mặt trời, chỗ nào cũng
    là niềm vui thú sảng khoái!” Chẳng có ý nghĩa gì, tầm thường, hoàn toàn nực
    cười, nhưng đúng là những gì ông cảm nhận được lúc đó. Ông chỉnh lại mũ, đặt
    bàn chân mình lên đất liền mà không hề cởi áo redingote[2], lẫn găng tay, thậm chí
    còn liếc nhìn với ánh mắt chễ giễu những người bạn đồng hành khốn khổ, những
    người này thì đang thở hổn hển như đám súc vật thồ hàng và đưa khăn thấm mồ
    hôi trán, càng trở nên ngớ ngẩn u mê gấp bội do không khí nóng và sự lạ nước lạ
    cái.
    Ông sinh ra đã bị chứng mất ngủ và sợ lạnh, có thể nói luôn: dành cho châu
    Phi! Vả lại, trên miền duyên hải này thì ông đã gần như ở chính nhà mình: ngoài
    ngôi nhà, nơi ông được đối xử như là một đứa trẻ được chiều chuộng thì ông đã tự

    13

    tạo cho mình ở Boulam, những thương điếm hải ngoại thuộc quyền sở hữu của
    ông và Jean-Baptiste, một du thuyền hiện đại mới toanh, thả trên một cảng tàu
    khác để phục vụ cho những nhu cầu và những cuộc dã ngoại ở Phi châu của ông.
    Ông qua trạm hải quan, lạnh lùng băng qua đám đông ồn ã những kẻ hành
    khất. Bonnard và những Pistachier[3] đang đợi ông trước đám đông tu tập các cô
    bán hàng rong. Các cô này đứng ngồi nhung nhúc trên các vỉa hè đầy bụi bặm,
    phủ đầy trái cây thối, phân lừa và ruồi muỗi; phần lớn để ngực trần, tóc phủ đầy
    ngọc trai, khố đeo buông chưa quá gối. Các cô hút thứ tẩu ngắn bằng đất nung và
    chạy hỗn loạn đằng sau những đám khách sang trọng để mời họ mua những bức
    tượng nhỏ, quả đu đủ và dừa. Bên cạnh các cô, ngồi xổm trên nền đất, đám đàn
    ông cạo râu hay ngồi chơi cờ bằng những viên sỏi.
    Bonnard đã sửa sang cho ông một ngôi biệt thự đối diện đại dương với một
    khu vườn mênh mông quay ra bãi biển. Nhưng ngay hôm sau, thay bằng việc đi
    tắm hay dạo một vòng qua các thương điếm, thì ông lại ngụy trang thành một chủ
    ấp (bốt da, áo vest chống mưa, mũ bảo hiểm) và, bỏ rơi ngài Bonnard đáng
    thương, ông một mình phiêu lưu trong các con hẻm của thành phố để thăm thú các
    chủ buôn nô lệ hùng hậu và hít thở đầy buồng phổi mùi vị đậm đặc của các gia vị
    và trái cây. Nhưng có điều, trên đường đi của ông, bỗng xuất hiện một con bò tót
    cuồng điên. Một đám trẻ con đổ xô vào ông và chỉ còn mỗi thời gian đẩy ông vào
    bên trong một ngôi nhà nhỏ.
    – Ông, vào đây đi! Con này tồi lắm, xấu lắm đó!
    Toàn thân thấm đẫm mồ hôi và tứ chi run rẩy, ông nhìn con vật tiếp tục chặng
    đường của nó, một thằng bé còm cõi chẳng mấy chốc vướng vào bộ sừng của nó.
    “Ở đây chẳng có gì là cho không cả, chắc chắn là thế!”, ông lầm bầm trong lúc cố
    lấy lại tinh thần. Buổi tối, sau bữa ăn, theo một đà giờ đã trở thành huyền thoại,
    ông khép mình đơn côi trong một góc vườn và hòa chất giọng lạ lùng của ông với
    chất giọng, gây hoảng loạn, của màn đêm Phi châu:
    “Ban nãy, ngươi đã cứu sống ta, Phi châu già nua của ta ạ, cám ơn ngươi! Còn
    bây giờ, ta cầu xin ngươi đấy, hãy cho ta Fouta- Djalon, để ta có thể biến nơi đó
    thành hoàng triều của ta!”
    Dakar, vẫn còn nhọc nhằn để thoát khỏi những tòa nhà kính phòng vệ cay độc
    của rừng rậm đã được đón ba chuyến kiệu đến thăm viếng. Sườn núi bao đầy

    14

    những cây tầm xuân và gió thổi dào dạt, bãi biển, hải cảng, nhà ga và khu nhà
    thương mới tinh vừa được dựng lên một cách vội vã để trợ giúp khu bệnh viện ở
    Gorée đã trở nên chật chội do sự tăng trưởng đột biến của bện
     
    Gửi ý kiến