Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
suoi_nguon

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:25' 07-03-2024
Dung lượng: 6.3 MB
Số lượt tải: 3
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:25' 07-03-2024
Dung lượng: 6.3 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
SUỐI NGUỒN
Tên sách: Suối nguồn (The Fountainhead)
Tác giả: Ayn Rand
Nhóm dịch: Vũ Lan Anh; Đinh Quang Hiếu; Vũ Hoàng Linh;
Nguyễn Kim Ngọc; Trần Thị Hà Thủy
Hiệu đính: Phan Việt
Nhà xuất bản: NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Năm xuất bản: 1/2008
Khổ: 14x20,5cm
Số trang: 1174
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua
sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả,
người dịch và Nhà Xuất Bản
Ayn Rand (tên sinh Alisa Zinov'yevna Rosenbaum; tiếng Nga:
Зиновьевна Розенбаум; 2 tháng 2 năm 1905 – 6 tháng 3 năm
1982) là một nhà tiểu thuyết và lý luận quốc tịch Mỹ sinh tại
Nga. Bà nổi tiếng vì đã phát triển học thuyết Chủ nghĩa khách
quan và vì đã viết một số tác phẩm như We the Living (Chúng
ta thực thể sống), The Fountainhead (Suối nguồn), Atlas
Shrugged (Người khổng lồ nghiêng vai), For the new
Intellectual (Vì giới tri thức mới) và tiểu thuyết ngắn Anthem.
Là người gây ảnh hưởng rộng lớn tới nước Mỹ hậu chiến tranh
thế giới thứ 2, các tác phẩm của Rand đã tạo nên sự mến mộ
nhiệt thành cũng như phê phán nghiêm khắc.
Tác phẩm của Rand nhấn mạnh các quan niệm tư tưởng về
hiện thực khách quan, lý trí, chủ nghĩa vị kỷ, và chủ nghĩa tư
bản tự do, trong khi tấn công những gì mà bà coi là không hợp
lý và phi đạo đức của lòng vị tha, chủ nghĩa tập thể
(collectivism) và chủ nghĩa cộng sản (communism). Bà tin
rằng con người phải chọn cho mình các giá trị và hành động
theo lý trí; và rằng cá nhân có quyền để tồn tại vì lợi ích của
chính bản thân mình, không hy sinh bản thân cho người khác
hoặc nguời khác vì mình; và rằng không ai có quyền chiếm
đoạt những gì thuộc về người khác bằng bạo lực hay lừa dối,
hoặc áp đặt tiêu chuẩn đạo đức của mình lên người khác bằng
bạo lực. Tính chất lý luận của Rand được mô tả là chủ nghĩa
tiểu chính phủ (minarchism) và theo chủ nghĩa tự do
(liberianism), mặc dù bà không bao giờ sử dụng thuật ngữ
minarchism và ghê tởm chủ nghĩa tự do.
Mục tiêu rõ rệt của tiểu thuyết của Rand là miêu tả anh hùng
của mình được lý tưởng hoá, một người có những khả năng và
sự độc lập mâu thuân với xã hội, nhưng luôn bền gan quyết chí
đạt được mục đích của mình.
SUỐI NGUỒN (The Fountainhead)
* Đã bán được hơn 6 triệu bản trong hơn 60 năm qua kể từ
khi xuất bản lần đầu (1943).
* Được dịch ra nhiều thứ tiếng và vẫn liên tục được tái bản
hàng năm.
* Một tiểu thuyết kinh điển cần đọc.
“Một tiểu thuyết tràn đầy sức sống và sự thú vị… mạnh mẽ,
kịch tính, mãnh liệt và rành mạch từ đầu đến cuối… một tác
phẩm tuyệt vời đáng để đọc.”
- Saturday Review of Literature
“Tôi có thể ca ngợi tiểu thuyết này ở nhiều khía cạnh… sự
kiện hấp dẫn… những nhân vật đầy màu sắc… táo bạo…
thông minh phi thường.”
- New York Herald Tribune
“Bạn không thể đọc tác phẩm tuyệt vời này mà không liên
tưởng đến một số tư tưởng cơ bản của thời đại chúng ta… Bạn
sẽ nghĩ đến The Magic Moutain và The Master Builder khi
bạn nghĩ đến The Fountainhead (Suối nguồn).”
- New York Times
Một thiết kế mạnh mẽ về con người
Ayn Rand (1905-1982) nói về những lý do cơ bản khiến tác
phẩm này liên tục tái bản hằng năm (đến nay là 60 năm): “Nó
tái khẳng định tinh thần của tuổi trẻ, nó tuyên bố về chiến
thắng của con người, nó chỉ ra người ta có thể làm được những
gì”. Và Ayn Rand đã đúng. Cuốn tiểu thuyết của bà có thể làm
cho những ai quen bị cuốn đi trong tâm lý bầy đàn phải giật
mình, buộc phải tự hỏi về chính kiến của mình, giá trị riêng có
và sự tự tin tối thiểu của mình.
Như một bản vẽ tuyệt vời cho một công trình đáng tôn vinh
nhất, Suối nguồn là một thiết kế tinh tế, mạnh mẽ về con người
- những kẻ thứ sinh, ăn bám từ nhận thức đến cách sống, và
những cá thể vĩ đại biết tư duy với một trí não độc lập, một
niềm say mê chân chính của riêng mình. Con người - với các
dòng chảy tư tưởng - hiện lên sống động qua một ngôn ngữ
rành mạch, khúc chiết mà đầy lôi cuốn.
Việc xổ toẹt vào một xã hội nô dịch, đề cao chủ nghĩa cá
nhân, lý tưởng giải phóng cá - thể - người khỏi mọi - người…
của Ayn Rand trong Suối nguồn có thể gây ra nhiều cuộc tranh
cãi giữa các luồng tư tưởng; nhưng trên hết, nó mang đến sự
thú vị cho bất kỳ người đọc nào muốn tìm thấy ở đây một nhân
sinh quan khá độc đáo về con người, cụ thể là con người sáng - tạo. Với kiến trúc sư Howard Roak - nhân vật chính của
tác phẩm, sáng tạo là nhu cầu tự nhiên nhất, là mục đích cao cả
nhất. Anh chỉ có một niềm tin - tin vào chân lý của chính
mình, không chấp nhận mọi sự phục tùng, phụ thuộc, không
tồn tại thông qua bất kỳ ai khác.
Người đọc có thể đồng ý hay không đồng ý với tư tưởng của
Rand, nhưng đọc Suối nguồn sẽ hiểu vì sao cuốn sách trên
1.000 trang này đã xoay chuyển cuộc đời của nhiều người Mỹ
và được xếp vào tiểu thuyết kinh điển cần đọc.
L.TH. (theo tuoitre.com.vn)
Ayn Rand
Nhân tiện, nói về Ayn Rand thì cũng là một hiện tượng thú
vị. Với nhiều người tôn sùng bà, Ayn Rand được coi là một
nhà triết học, đạo đức học, nhà tư tưởng lớn. Các tác phẩm của
bà, nhất là hai cuốn tiểu thuyết Atlas Shrugged và The
Fountainhead luôn là các cuốn sách best-seller với các kỷ lục
về doanh số bán ra. Trên trang web Amazon vào thời điểm
hiện nay, 50 năm sau khi cuốn Atlas Shrugged ra đời, nó vẫn
nằm trong 400 cuốn sách bán chạy. Hai cuốn tiểu thuyết với độ
dày mỗi cuốn trên dưới 1000 trang này đã làm thay đổi cuộc
đời của không biết bao nhiêu người Mỹ. Một trong số những
người đó là Alan Greenspan, thống đốc huyền thoại của kinh
tế Mỹ trong hơn hai mươi năm. Năm 1957 Greenspan đang
làm công việc dự đoán kinh tế sau khi tốt nghiệp cao học kinh
tế trường Đại học Columbia. Cũng như hầu hết các nhà kinh tế
thời đó, Greenspan là người tin tưởng vào học thuyết Keynes –
học thuyết đề cao vai trò của chính phủ trong nền kinh tế và
chiếm địa vị thống trị kinh tế học cả thế giới tư bản kể từ sau
thời Đại khủng hoảng (1929-33). Nhưng sau khi đọc xong
cuốn sách dày hơn 1200 trang của Ayn Rand thì Greenspan trở
thành một trong những người ủng hộ nhiệt thành tư tưởng của
Rand. Với nhiều người, Ayn Rand được coi như nhà tư tưởng
của chủ nghĩa tư bản, là người bảo vệ đanh thép cho các giá trị
của chủ nghĩa cá nhân, và biện minh cho tính đạo đức của chủ
nghĩa tư bản. Cùng với Ayn Rand, họ đã thoát khỏi cái mặc
cảm Thiên chúa giáo đồng nghĩa giàu có với tội lỗi “Người
giàu có vào được Thiên đường khó hơn con lạc đà chui qua lỗ
kim”, cũng không phải mặc cảm với thứ luật rừng “kẻ mạnh
nhất là kẻ tồn tại” mà Spencer rao giảng hồi đầu thế kỷ. Không
phải ngẫu nhiên mà Rand lại có ảnh hưởng mạnh như thế, nếu
như nhớ lại rằng Spencer cũng từng có ảnh hưởng tương tự ở
Mỹ vào đầu thế kỷ cùng với sự phát triển của giai cấp tư sản.
Địa vị của Rand chính là sự nối tiếp địa vị của Spencer trong
một bối cảnh mới. Trong bài báo mới ra hôm kia trên tờ New
York Times, tác giả bài báo gọi tiểu thuyết của Ayn Rand là
văn học của chủ nghĩa tư bản.
Trong The Fountainhead, có đoạn một nhân vật chính, khi
còn là một cậu bé xuất thân nghèo khổ một lần có dịp may đọc
được cuốn sách của Herbert Spencer. Và cuốn sách đó đã thay
đổi cả cuộc đời cậu, khiến cậu quyết chí vươn lên trở thành
một nhà tư bản giàu có. Nhưng dù thành đạt, nhà tư bản đó
vẫn không hạnh phúc với cảm giác mình đã tự phản bội mình.
Câu trả lời của Ayn Rand về lý do nỗi bất hạnh đó chính là ở
sự khiếm khuyết của thuyết Darwin xã hội mà Spencer truyền
bá và được giai cấp tư sản Mỹ ngưỡng mộ. Đó là việc Spencer
không tạo ra được một biện minh đạo đức. Vì thế những nhà
tư sản Mỹ sẽ suốt đời phải dằn vặt giữa sự mâu thuẫn trong
đạo đức Thiên chúa giáo của bản thân (hay/và của xã hội) với
lý luận “kẻ mạnh nhất là kẻ tồn tại”. Bằng việc biện minh đạo
đức cho chủ nghĩa cá nhân, Ayn Rand đã mang lại sự thanh
thản cho họ. Về mặt này, có thể nói Ayn Rand là người kế thừa
Nietzsche, nhưng khác với Nietzsche bác bỏ đạo đức Thiên
Chúa giáo và tự đặt ra đạo đức cá nhân với mục đích hủy diệt,
Aynd Rand đồng nghĩa ý chí cá nhân với tự do, sáng tạo và
chủ nghĩa tư bản. Với các tiểu thuyết của mình, Ayn Rand đã
thay đổi cuộc đời của rất nhiều người Mỹ, những người như
Alan Greenspan, như trước đó cuốn sách của Spencer từng
thay đổi cuộc đời của nhân vật Wynand trong The
Fountainhead.
Cho tới tận ngày nay, các tiểu thuyết của Ayn Rand vẫn có
ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới việc hình thành nhân cách và nhân
sinh quan của nhiều người Mỹ.
Nhưng mặc dù thành công lớn như vậy về mặt ảnh hưởng,
đối với giới trí thức học thuật thì Ayn Rand là con số không.
Trong các khoa triết ở các trường Đại học, người ta không
buồn nhắc tới bà với học thuyết Objectivism của bà. Với các
giáo sư văn học và các nhà phê bình thì các tiểu thuyết của bà
bị coi là nhạt, ý đồ lộ liễu và ít có giá trị về mặt văn học. Thế
nhưng trong một cuộc bình chọn của độc giả Mỹ, Atlas
Shrugged của Ayn Rand được bình chọn là cuốn sách có ảnh
hưởng lớn nhất chỉ sau Kinh Thánh. Năm 1999, nhà xuất bản
Modern Library mở cuộc bình chọn 100 tác phẩm văn học
tiếng Anh vĩ đại nhất thế kỷ 20. Trong bình chọn của các nhà
phê bình, Ulysses của James Joyce đứng vị trí đầu tiên và
trong 100 cuốn đó không hề có bóng dáng cuốn sách nào của
Ayn Rand (tình hình cũng tương tự với các bình chọn của giới
phê bình như bình chọn của báo Times, báo The Guardian…).
Nhưng trong bình chọn của độc giả thì Atlas Shrugged và The
Fountainhead của Ayn Rand lại ở vị trí dẫn đầu. Đúng là có
quá nhiều khác biệt giữa cuốn sách công chúng yêu thích và
các nhà phê bình yêu thích. Bà còn chịu sự phê phán của nhiều
người thuộc cả phái hữu và phái tả. Với phái hữu, Ayn Rand là
người không tin Chúa, phủ định đạo đức Thiên chúa giáo. Với
cánh tả, Ayn Rand bị phê phán vì đề cao tính ích kỷ
(selfishness), chủ nghĩa cá nhân và chống đối kịch liệt chủ
nghĩa xã hội hay một nhà nước có vai trò lớn.
Đánh giá về mặt giá trị văn học hay tư tưởng của tiểu thuyết
Ayn Rand còn là một vấn đề gây tranh cãi. Nhưng tôi nghĩ là
để có thể hiểu được người Mỹ và phần nào cái “suối nguồn”
cho sự phát triển kinh tế và xã hội Mỹ trong nửa cuối thế kỷ
20, thì các tiểu thuyết của Ayn Rand là rất đáng đọc.
LỜI GIỚI THIỆU CHO LỄ KỶ NIỆM 25 NĂM NGÀY
XUẤT BẢN SUỐI NGUỒN
Nhiều người đã hỏi, tôi cảm thấy thế nào khi cuốn Suối
nguồn vẫn được tái bản trong suốt 25 năm qua. Tôi không thể
nói tôi cảm thấy điều gì đặc biệt, ngoại trừ một cảm giác thỏa
mãn lặng lẽ. Về điều này, xin trích một câu nói của Victor
Hugo để diễn tả thái độ của tôi với công việc viết lách của
mình: “Nếu một nhà văn chỉ viết cho thời đại của mình thì tôi
sẽ phải bẻ bút và vứt nó đi.”
Một số nhà văn – trong đó có tôi – không sống, nghĩ, hoặc
viết chỉ cho một thời điểm. Tiểu thuyết – theo nghĩa hợp lý của
từ này – không nên được viết để rồi biến mất trong một tháng
hoặc một năm. Việc tiểu thuyết ngày nay rơi vào bi kịch trên –
chúng được viết và xuất bản như tạp chí, để rơi vào lãng quên
cũng nhanh như một bản tạp chí – là điều đáng buồn nhất của
văn học đương đại, đồng thời là bản cáo trạng rõ ràng nhất đối
với quan điểm nghệ thuật mà văn học ngày nay theo đuổi: thứ
chủ nghĩa hiện thực tủn mủn, mang tính báo chí vốn đang đi
vào ngõ cụt trong sự hoảng loạn không lời.
Mặc dù không phải là đặc trưng riêng, sự trường tồn là đặc
trưng cơ bản nhất của một trường phái văn học hầu như không
còn tồn tại ngày nay: văn học lãng mạn. Tôi không định trình
bày về bản chất của văn học lãng mạn ở đây; vì thế, tôi chỉ xin
được nhấn mạnh một điều này thôi – với mục đích ghi lại cho
mình và cho những người chưa từng phát hiện ra điều này: chủ
nghĩa lãng mạn là trường phái nghệ thuật hướng tới nhận thức
(the conceptual school of art). Nó không giải quyết những vấn
đề vụn vặt hàng ngày của đời sống mà hướng tới những vấn đề
và giá trị vĩnh hằng, cơ bản, chung nhất của đời sống con
người. Nó không ghi âm hay chụp ảnh; nó sáng tạo và định
hướng. Theo ngôn ngữ của Aristotle thì văn học lãng mạn
không quan tâm tới thế-giới-như-nó-đang-là (things as they
are), mà tới thế giới như nó có thể là và phải là (things as they
might be and ought to be).
Đối với những người cho rằng những gì xảy ra trong thời đại
hiện tại cũng có tầm quan trọng đặc biệt, tôi xin được nói thêm
rằng thời đại mà chúng ta đang sống đây chính là thời đại mà
con người càng cần một sự định hướng về cái thế giới như nó
phải là.
Tôi không có ý nói rằng vào lúc tôi đang viết Suối nguồn, tôi
đã biết cuốn sách sẽ còn được tái bản trong 25 năm tới. Tôi
không hề nghĩ tới một khoảng thời gian cụ thể nào. Tôi chỉ
biết cuốn sách này phải sống. Và nó đã sống.
Nhưng việc cách đây 25 năm, tôi biết cuốn sách phải sống –
biết điều này ngay trong lúc bản thảo Suối nguồn bị mười hai
nhà xuất bản từ chối, một số trong đó tuyên bố rằng nó “quá
triết lý”, “quá nhạy cảm” và sẽ không thể bán được vì không
tồn tại độc giả cho nó – lại chính là phần đau lòng trong lịch
sử cuốn sách: đau lòng cho tôi khi nghĩ đến. Tôi kể lại nó ở
đây để chia sẻ với những nhà văn có cùng quan điểm viết như
tôi – những người có thể sẽ phải đối mặt với trận chiến tương
tự; chia sẻ để khẳng định một thực tế là chúng ta có thể chiến
thắng trong cuộc chiến này.
Tôi sẽ không thể nói về Suối nguồn hoặc bất cứ phần nào
trong lịch sử của cuốn sách nếu tôi không đề cập đến một
người đã giúp tôi viết được cuốn sách này: chồng tôi – Frank
O'Connor.
Trong một vở kịch tôi viết vào những năm đầu tuổi 30, vở
[1]
Lý tưởng , nhân vật nữ chính trong vở kịch – một ngôi sao
điện ảnh, đã nói thay tôi bằng những lời thế này: “Tôi muốn
thấy bằng xương bằng thịt, trong lúc tôi còn sống, cái chiến
thắng mà tôi đã tạo ra như một viễn tưởng. Tôi muốn thấy nó
có thực. Tôi muốn biết là ở đâu đó, có một ai đó cũng mong
muốn điều đó. Nếu không, có nghĩa gì cái việc nhìn thấy nó,
làm việc và đốt cháy mình cho một hình ảnh không có thực?
Một linh hồn cũng cần năng lượng nuôi sống nó. Một linh hồn
cũng có thể cạn kiệt.”
Frank chính là nguồn năng lượng đó. Anh đã mang lại cho
tôi, vào những thời khắc thực trong cuộc sống của tôi, cảm
giác thực về cuộc sống như tôi vừa nói – cái cảm giác đã sáng
tạo ra Suối nguồn; và anh giúp tôi giữ được nó trong suốt
nhiều năm, ngay cả khi xung quanh chúng tôi không có gì
ngoài một sa mạc xám xịt những con người và sự kiện chỉ gợi
lên sự khinh bỉ và kinh sợ. Điều cốt lõi nhất trong mối dây liên
hệ hai chúng tôi chính là việc cả hai chúng tôi đều không bao
giờ muốn hoặc bị cám dỗ vào sống trong bất cứ thế giới nào
khác ngoài thế giới như trong Suối nguồn. Chúng tôi sẽ không
bao giờ.
Nếu trong tôi có bất cứ biểu hiện nào của một nhà văn hiện
thực – tức là người ghi chép lại các lời thoại trong “cuộc sống
thực” để dùng cho tiểu thuyết – thì điều đó chỉ xảy ra trong
giao tiếp với Frank. Ví dụ, một trong những lời thoại ý nghĩa
nhất trong Suối nguồn là lời thoại ở cuối Phần Hai: trả lời câu
hỏi của Toohey “Sao anh không nói thẳng cho tôi biết anh nghĩ
gì về tôi,” Roark đã trả lời “Nhưng tôi không nghĩ về ông.”
Câu nói của Roark chính là câu trả lời mà Frank đã dành cho
một loại người khác, trong một hoàn cảnh tương tự. Hoặc như
Frank đã nói với tôi về quan điểm làm việc của tôi: “Em đang
vung vãi vàng ngọc mà chẳng thu lại được chút vụn cám.” Câu
này, tôi để cho Dominique nói trong phiên tòa xử Roark.
Tôi hiếm khi cảm thấy nản lòng, và nếu có nản lòng thì
thường cảm giác đấy chỉ qua một đêm là hết. Nhưng có một
buổi tối, trong lúc viết Suối nguồn, tôi cảm thấy phẫn nộ một
cách sâu sắc với thực trạng của cái thế-giới-như-nó-đang-là
đến mức tôi cảm thấy tôi không bao giờ có năng lượng để tiến
thêm một bước nào về phía cái thế-giới-như-nó-phải-là. Đêm
đó, Frank nói chuyện với tôi nhiều giờ liền. Anh làm cho tôi
hiểu vì sao người ta không thể bỏ mặc thế giới cho những kẻ
mà mình khinh bỉ. Đến khi cuộc nói chuyện kết thúc, sự nản
lòng của tôi tan biến. Nó không bao giờ còn trở lại mạnh mẽ
như lần đó nữa.
Tôi vẫn thường phản đối thói quen đề tặng sách: tôi đã luôn
giữ quan điểm rằng một cuốn sách cần được dành tặng cho bất
cứ độc giả nào xứng đáng với nó. Nhưng đêm đó, tôi nói với
Frank rằng tôi sẽ đề tặng Suối nguồn cho anh bởi vì anh đã
cứu sống nó. Và một trong những giây phút hạnh phúc nhất
của tôi đã đến vào khoảng hai năm sau đó, khi tôi thấy nét mặt
của Frank lúc anh trở về nhà vào một ngày bình thường và
nhìn thấy bản in thử của cuốn Suối nguồn; trang đầu tiên của
nó in đậm, rõ nét mấy chữ: Tặng Frank O'Connor.
Có người hỏi tôi trong 25 năm qua, tôi có thay đổi không.
Không, tôi vẫn là con người đó; thậm chí càng giống thế hơn.
Các quan điểm của tôi có thay đổi không? Không. Kể từ lúc
tôi bắt đầu nhớ được thì tất cả những niềm tin và quan điểm cơ
bản nhất của tôi về cuộc sống và con người không hề thay đổi;
tuy nhiên, nhận thức của tôi về phạm vi áp dụng những quan
điểm ấy đã mở rộng ra cả về tầm vóc và tính chất. Tôi đánh
giá thế nào về cuốn Suối nguồn ở thời điểm này? Tôi vẫn tự
hào như tôi đã tự hào vào cái ngày tôi viết xong cuốn sách.
Cuốn Suối nguồn có được viết để trình bày các quan điểm
triết học của tôi không? Trả lời câu hỏi này, tôi xin trích lại từ
bài viết Mục đích văn chương mà tôi đã trình bày ở Đại học
Lewis và Clark vào ngày 1-10-1963: “Động cơ và mục đích
của tôi khi viết văn là khắc họa hình ảnh con người lý tưởng.
Mục tiêu rốt ráo nhất của tôi là khắc họa một mẫu người lý
tưởng về đạo đức; tất cả các giá trị triết học, giáo dục, hay
nhận thức trong tiểu thuyết chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu
rốt ráo ấy.
“Tôi xin được nhấn mạnh điều này: mục đích của tôi không
phải là khai sáng độc giả về mặt triết học. Mục đích của tôi –
mục đích cơ bản và rốt ráo nhất – là khắc họa chân dung
Howard Roark (hoặc các nhân vật chính trong Atlas vươn
[2]
mình ) như cái đích tự thân.
“Tôi viết – và đọc nữa – vì lợi ích của câu chuyện. Phép thử
đơn giản nhất của tôi cho bất cứ câu chuyện nào là: Liệu tôi có
muốn gặp các nhân vật và chứng kiến những sự kiện kia trong
đời thực hay không? Câu chuyện này có vẽ ra một kinh
nghiệm đáng trải qua hay không? Niềm hạnh phúc được suy
tưởng về các nhân vật này có đủ là mục đích tự thân hay
không?…
“Vì mục đích của tôi là khắc họa con người lý tưởng, tôi
phải xác định và vẽ ra những hoàn cảnh để cho nhân vật sống,
đồng thời là hoàn cảnh mà sự tồn tại của con người lý tưởng
đó đòi hỏi. Vì tính cách của con người là sản phẩm của những
tín điều mà anh ta giữ, tôi cũng phải xác định và vẽ ra những
tín điều và niềm tin sẽ tạo ra tính cách của con người lý tưởng
và thúc đẩy các hoạt động của anh ta. Điều này cũng có nghĩa
là tôi phải xác định và vẽ ra các nguyên tắc đạo đức hợp lý. Vì
con người hoạt động và giao tiếp với nhau, tôi phải vẽ ra hệ
thống xã hội ở đó con người lý tưởng của tôi có thể tồn tại và
hoạt động – một hệ thống tự do, hiệu quả, hợp lý; một hệ
thống đòi hỏi và tưởng thưởng cho những năng lực tốt đẹp
nhất trong mỗi con người.
“Nhưng bản thân chính trị cũng như đạo đức hoặc triết học
đều không thể tồn tại như mục đích tự thân, dù trong đời sống
hay trong văn học. Chỉ có Con người mới có thể là mục đích
tự thân cho chính mình mà thôi.”
Tôi có muốn thay đổi gì trong nội dung của cuốn Suối nguồn
không? Không – và vì thế mà tôi đã giữ cuốn sách nguyên vẹn.
Tôi muốn nó tồn tại đúng như nó đã được viết ra. Chỉ có một
từ và một câu có thể gây hiểu nhầm mà tôi muốn giải thích rõ;
vì thế tôi sẽ đề cập ở đây.
Cái từ có thể gây hiểu nhầm là từ “egotist” (có nghĩa là
người tự cao tự đại) trong bài tự biện trước tòa của Roark; lẽ ra
[3]
tôi phải dùng từ “egoist” (người theo chủ nghĩa vị thân) . Lỗi
này là do tôi đã ỷ lại vào giải thích của một cuốn từ điển –
cuốn này đưa ra định nghĩa không chính xác về hai từ, trong
đó “egotist” có vẻ gần hơn với tìm kiếm của tôi (cuốn Từ điển
hàng ngày Webster, xuất bản năm 1933). (Tuy nhiên, các nhà
triết học hiện đại có lỗi hơn các nhà biên soạn từ điển trong
việc làm lẫn lộn hai từ này).
Còn câu văn cần đính chính nằm trong bài phát biểu của
Roark: “Từ những thứ thiết yếu đơn giản nhất cho đến những
khái niệm tôn giáo trừu tượng cao nhất, từ cái bánh xe cho đến
các tòa nhà chọc trời, tất cả những gì mà chúng ta đại diện và
tất cả những gì chúng ta có đều đến từ một thuộc tính của con
người – đó là khả năng tư duy.”
Câu này có thể khiến người ta hiểu sai rằng tôi ủng hộ tôn
giáo hoặc các tư tưởng tôn giáo. Tôi nhớ là mình đã lưỡng lự
khi viết câu này, rồi tự nhủ rằng sự vô thần của cả Roark và tôi
cũng như tinh thần chung của cả cuốn sách đã được khẳng
định rõ ràng đến mức không ai có thể hiểu nhầm, nhất là khi
tôi đã nói rằng những tư tưởng tôn giáo cũng là sản phẩm của
đầu óc con người chứ không phải sự mặc khải của đấng siêu
nhiên nào.
Tuy nhiên, những vấn đề như thế này cần phải được giải
thích rõ ràng. Tôi không hề nói đến tôn giáo theo nghĩa tôn
giáo đức tin mà tôi nói đến tôn giáo như một nhánh đặc biệt
của tư duy trừu tượng, một hình thái có tính thăng hoa tinh
thần cao nhất, một hình thái mà trong nhiều thế kỷ qua đã gần
như là hoạt động độc quyền của tôn giáo. Và tôi nói đến đạo
đức – không phải theo nghĩa các giáo lý tôn giáo mà là đạo
đức theo nghĩa trừu tượng, đạo đức như lĩnh vực quy định các
giá trị, đạo đức như bộ luật tốt và xấu của con người; đạo đức
mà, đứng về mặt tình cảm, thì được biểu hiện ở cảm giác lớn
lên, cảm giác tự tôn, cảm giác cao cả, cảm giác vĩ đại – những
thứ thuộc về giá trị con người nhưng đã bị tôn giáo chiếm làm
đặc tính của mình.
Tôi đã ngụ ý dùng những nghĩa trên cho một đoạn khác
trong cuốn sách, một đoạn thoại ngắn giữa Roark và Hopton
Stoddard, và nó có thể bị hiểu nhầm nếu bị tách khỏi bối cảnh:
“Anh là một người có đức tin sâu sắc, Roark ạ – đức tin theo
cách riêng của anh. Tôi có thể nhìn thấy nó trong những tòa
nhà anh kiến trúc.”
“Đúng vậy.” – Roark trả lời.
Trong bối cảnh của cuốn sách, nghĩa của câu trên rất rõ ràng:
Stoddard đang nói đến sự tuân thủ tuyệt đối của Roark đối với
các giá trị, đối với cái cao nhất và tuyệt vời nhất, với cái lý
[4]
tưởng (trong kiến trúc và cuộc sống ). Việc xây dựng Đền
Stoddard và phiên tòa tiếp theo sự việc này minh họa rõ cho
câu trên.
Điều này dẫn tôi đến một vấn đề lớn hơn, có liên quan tới
từng câu một trong cuốn Suối nguồn và cần phải được hiểu rõ
nếu như bạn đọc muốn hiểu lý do sự hấp dẫn lâu dài của cuốn
sách này.
Sự độc quyền của tôn giáo trong lĩnh vực đạo đức khiến cho
việc trao đổi các ý nghĩa và sắc thái tình cảm từ góc độ lý tính
trở nên hết sức khó khăn. Vì tôn giáo đã độc quyền trong việc
đề ra các quy định đạo đức, đưa đạo đức chống lại con người,
nên tôn giáo cũng đã chiếm đoạt luôn các khái niệm đạo đức
cao nhất trong ngôn ngữ, đưa chúng ra khỏi thế giới và tầm
với của con người. Ví dụ như từ “thăng hoa” (exaltation)
thường được dùng để ngụ ý một trạng thái tình cảm của người
đã được chứng kiến đấng siêu nhiên. Từ “thờ phụng”
(worship) được dùng để chỉ sự trung thành và tận tụy đối với
những thứ ở bên trên con người. Từ “tôn kính” (reverence) ám
chỉ cảm giác tôn trọng mang tính thần thánh mà người ta cảm
giác được khi quỳ trên đầu gối (vào lúc cầu nguyện). Từ
“thiêng liêng” (sacred) cũng có nghĩa là vượt trên và bất khả
xâm phạm bởi những gì thuộc về con người trên mặt đất. Vân
[5]
vân…
Trong khi đó, tất cả những khái niệm trên đều liên quan đến
những cảm giác thực của con người mà không cần có gì siêu
nhiên hiện hữu; và người ta có thể kinh nghiệm những cảm
giác này khi họ thấy mình lớn lên hay cao thượng lên mà
không cần phải đi kèm với cảm giác hạ mình (xuống dưới
[6]
đấng siêu nhiên ) như các khái niệm tôn giáo đòi hỏi. Vậy thì,
trong thực tế, người ta lấy cái gì để làm nguồn gốc hoặc làm
tham chiếu cho các kinh nghiệm của mình? Lẽ ra, người ta
phải tham chiếu toàn bộ thế giới tình cảm của mình trong
tương quan với một mô hình đạo đức lý tưởng. Thế nhưng,
thực tế là ngoài cảm giác tự hạ mình xuống mà tôn giáo quy
định cho con người, toàn bộ phần còn lại của thế giới tình cảm
ấy đã bị bỏ mặc, không hề được gọi tên, làm rõ hoặc công
nhận.
Chính những cấp độ tình cảm cao nhất này của con người là
cái cần phải được cứu chuộc lại từ trong bóng tối của chủ
nghĩa thần bí và phải được trả lại cho chủ nhân chân chính của
[7]
nó: con người (chứ không phải đấng siêu nhiên ).
Và chính với ý nghĩa này, với suy nghĩ này, tôi muốn nêu rõ
tính chất của cuộc sống mà cuốn Suối nguồn đã khắc họa: đó
[8]
là cuộc sống tôn vinh con người.
Tôn vinh con người là một cảm giác mà một số ít người –
thậm chí rất ít – kinh nghiệm được nó một cách thường xuyên;
một số khác kinh nghiệm nó qua những khoảnh khắc rời rạc,
lóe lên rồi tắt đi mà không để lại ảnh hưởng gì; một số người
thậm chí không hề biết đến nó; trong khi một số khác nữa thì
biết và dành cả đời để điên cuồng dập tắt những khoảnh khắc
lóe lên đó.
Xin đừng nhầm lẫn sự “tôn vinh con người” này với rất
nhiều những toan tính mà ở đó, thay vì giải phóng luân lý ra
khỏi vòng cương tỏa của tôn giáo và đưa trả nó về với lĩnh vực
tư duy lý tính của con người thì người ta lại khoác cho nó một
hình hài vô nghĩa và kinh khủng nhất của sự cuồng tín. Ví dụ
như tất cả các biến thể của chủ nghĩa tập thể thực ra giữ
nguyên những nguyên tắc đạo đức tôn giáo, có điều họ thay
“Chúa” bằng “xã hội” để đẩy con người vào chỗ tự hy sinh
làm vật tế thần. Bên cạnh đó là hàng loạt các trường phái triết
học hiện đại – những trường phái phủ nhận các nguyên tắc tư
duy và tuyên bố rằng thực tại chỉ là một tổ hợp hỗn loạn được
tạo ra bởi những phép mầu và tuân thủ quy tắc ngẫu nhiên –
không phải sự ngẫu nhiên do Chúa tạo ra, mà sự ngẫu nhiên do
con người hay xã hội tạo ra. Những kẻ theo quan điểm thần bí
mới này không hề tôn vinh con người; chúng chỉ là những kẻ
dung tục hóa con người và cũng thù địch con người một cách
điên cuồng như những bậc tiền bối vốn tôn thờ chủ nghĩa thần
bí của chúng.
Một dạng thô thiển hơn của sự thù địch với con người mà tôi
vừa nói đến là những quan điểm của những kẻ bị thống kê và
những chi tiết vụn vặt của đời sống làm mờ mắt. Những kẻ
này – vì không đủ khả năng nhận thức được ý nghĩa của sự tự
ý thức ở con người – đã tuyên bố rằng con người không thể là
đối tượng của sự tôn vinh bởi vì chúng chưa gặp một ai xứng
đáng với sự tôn vinh đó.
Những người tôn vinh con người – theo đúng nghĩa mà tôi
muốn nói tới – là những người nhìn ra tiềm năng cao nhất của
con người và nỗ lực đạt tới điều đó. Những kẻ thù địch con
người, trái lại, là những kẻ coi loài người như những sinh vật
yếu ớt, sa đọa, đáng khinh bỉ và cố gắng để bản thân chúng
không phải nhìn thấy điều ngược lại. Ở đây, cần chú ý rằng tri
thức tự phản ảnh trực tiếp duy nhất mà con người có được là
tri thức về chính bản thân mình.
Cụ thể hơn, ranh giới cơ bản nhất giữa những người tôn vinh
con người và những kẻ thù địch con người là một bên thì phấn
đấu cho sự thăng hoa của lòng tự tôn cũng như sự thiêng liêng
của hạnh phúc thực sự trên mặt đất; còn bên kia thì cố gắng để
con người không đạt được hai thứ đó. Hầu hết nhân loại tiêu
tốn năng lượng và tình cảm của mình ở khoảng giữa của hai
thái cực trên: họ chao đảo từ bên này sang bên khác, vùng vẫy
để không phải gọi tên sự khổ sở của mình. Nhưng gọi tên hay
không cũng không thay đổi được bản chất sự khổ sở của họ.
Có lẽ, cách tốt nhất để thâu tóm quan điểm cuộc sống trong
Suối nguồn là dẫn ra đây những câu tôi đã đề trên đầu bản thảo
của mình nhưng đã bỏ chúng đi khi đem xuất bản. Tôi xin
nhân cơ hội này để trình bày với bạn đọc.
Tôi đã bỏ chúng đi vì tôi phản đối sâu sắc những quan điểm
[9]
triết học của người viết ra những câu ấy: Friedrich Nietzsche .
Về mặt triết học, Nietzsche ủng hộ quan điểm thần bí và sự phi
lý. Các quan điểm siêu hình học của ông thể hiện một thế giới
[10]
trộn lẫn giữa sự lãng mạn kiểu Byron với sự độc ác thần bí;
nhận thức luận của ông hạ thấp vai trò của tư duy lý tính và
thay nó bằng duy ý chí, hay cảm giác, hay bản năng, hay
những đặc điểm bẩm sinh khác của đối tượng. Tuy nhiên, với
tư cách một nhà thơ, thỉnh thoảng (chứ không thường xuyên),
Nietzsche lại nói đến những tình cảm lớn lao đối với sự vĩ đại
của con người – nhưng nói đến thông qua ngôn ngữ cảm giác
chứ không phải ngôn ngữ tư duy.
Điều này đặc biệt đúng trong câu trích dẫn mà tôi đã chọn.
Tôi không thể đồng ý với nghĩa đen của nó: câu này tuyên bố
một lý thuyết không thể bào chữa được là thuyết tâm lý quyết
định (psychological determinism). Tuy nhiên, nếu nhìn nhận
nó như sự khắc họa một kinh nghiệm tình cảm (và nếu, về mặt
nhận thức, ta dùng khái niệm “tiền đề tư duy cơ bản” có được
do kinh nghiệm thay cho khái niệm “tri giác bẩm sinh”) thì câu
trích dẫn này lại cho thấy một trạng thái thăng hoa của sự tự
tôn; đồng thời quy nạp tất cả những tình cảm mà cuốn Suối
nguồn đã đặt nền tảng triết học và nhận thức cho những tình
[11]
cảm ấy.
“Không phải hành vi mà chính là niềm tin – niềm tin chắc
chắn và quan trọng nhất – sẽ mang lại cho những tín điều tôn
giáo cũ một ý nghĩa mới và sâu sắc hơn: một niềm tin chắc
chắn mà một tâm hồn cao thượng có đối với chính nó; cái
niềm tin mà người ta không nên kiếm tìm từ bên ngoài, không
thể tìm thấy ở bên ngoài, và, có lẽ, không bao giờ nên để mất.”
(Trích từ bài Tâm hồn cao thượng tự thăng hoa, Friedrich
Nietzsche, cuốn Bên trên cái thiện và cái ác.)
Trong lịch sử nhân loại, hiếm thấy ai phát biểu quan điểm
này về con người. Ngày nay, quan điểm này hầu như không
tồn tại. Tuy nhiên, chính quan điểm này – dù tồn tại ở các cấp
độ khác nhau của sự khao khát, ao ước, đam mê và hoang
mang đau khổ – là quan điểm khởi đầu cuộc sống của những
người ưu tú nhất của nhân loại. Đối với đa số họ, đây thậm chí
không phải là một quan điểm rõ ràng mà chỉ là một cảm giác
mơ hồ, khó nắm bắt; nó được tạo thành từ những nỗi đau trần
trụi và từ niềm hạnh phúc không thể diễn tả nổi. Nó là cảm
giác về một kỳ vọng lớn, rằng cuộc sống của một người là
quan trọng, rằng những thành tựu lớn lao có thể nằm trong khả
năng, và rằng những điều vĩ đại còn nằm phía trước.
Bản chất của con người – và của bất cứ sinh vật nào – không
phải là đầu hàng, hoặc phỉ nhổ và nguyền rủa sự tồn tại của
mình; điều ấy thực ra đòi hỏi cả một quá trình suy đồi mà tốc
độ của nó tùy thuộc mỗi người. Một vài người đầu hàng vào
lần đầu tiên tiếp xúc với áp lực; một vài người mặc nhiên đầu
hàng; một số khác đi xuống từ từ và cứ thế mất dần ngọn lửa
mà chính họ cũng không hề nhận ra nó đã tàn lụi như thế nào.
Sau đó, tất cả biến mất trong cái đầm lầy khổng lồ gồm những
người già cỗi, những người rao giảng rằng trưởng ...
Tên sách: Suối nguồn (The Fountainhead)
Tác giả: Ayn Rand
Nhóm dịch: Vũ Lan Anh; Đinh Quang Hiếu; Vũ Hoàng Linh;
Nguyễn Kim Ngọc; Trần Thị Hà Thủy
Hiệu đính: Phan Việt
Nhà xuất bản: NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Năm xuất bản: 1/2008
Khổ: 14x20,5cm
Số trang: 1174
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua
sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả,
người dịch và Nhà Xuất Bản
Ayn Rand (tên sinh Alisa Zinov'yevna Rosenbaum; tiếng Nga:
Зиновьевна Розенбаум; 2 tháng 2 năm 1905 – 6 tháng 3 năm
1982) là một nhà tiểu thuyết và lý luận quốc tịch Mỹ sinh tại
Nga. Bà nổi tiếng vì đã phát triển học thuyết Chủ nghĩa khách
quan và vì đã viết một số tác phẩm như We the Living (Chúng
ta thực thể sống), The Fountainhead (Suối nguồn), Atlas
Shrugged (Người khổng lồ nghiêng vai), For the new
Intellectual (Vì giới tri thức mới) và tiểu thuyết ngắn Anthem.
Là người gây ảnh hưởng rộng lớn tới nước Mỹ hậu chiến tranh
thế giới thứ 2, các tác phẩm của Rand đã tạo nên sự mến mộ
nhiệt thành cũng như phê phán nghiêm khắc.
Tác phẩm của Rand nhấn mạnh các quan niệm tư tưởng về
hiện thực khách quan, lý trí, chủ nghĩa vị kỷ, và chủ nghĩa tư
bản tự do, trong khi tấn công những gì mà bà coi là không hợp
lý và phi đạo đức của lòng vị tha, chủ nghĩa tập thể
(collectivism) và chủ nghĩa cộng sản (communism). Bà tin
rằng con người phải chọn cho mình các giá trị và hành động
theo lý trí; và rằng cá nhân có quyền để tồn tại vì lợi ích của
chính bản thân mình, không hy sinh bản thân cho người khác
hoặc nguời khác vì mình; và rằng không ai có quyền chiếm
đoạt những gì thuộc về người khác bằng bạo lực hay lừa dối,
hoặc áp đặt tiêu chuẩn đạo đức của mình lên người khác bằng
bạo lực. Tính chất lý luận của Rand được mô tả là chủ nghĩa
tiểu chính phủ (minarchism) và theo chủ nghĩa tự do
(liberianism), mặc dù bà không bao giờ sử dụng thuật ngữ
minarchism và ghê tởm chủ nghĩa tự do.
Mục tiêu rõ rệt của tiểu thuyết của Rand là miêu tả anh hùng
của mình được lý tưởng hoá, một người có những khả năng và
sự độc lập mâu thuân với xã hội, nhưng luôn bền gan quyết chí
đạt được mục đích của mình.
SUỐI NGUỒN (The Fountainhead)
* Đã bán được hơn 6 triệu bản trong hơn 60 năm qua kể từ
khi xuất bản lần đầu (1943).
* Được dịch ra nhiều thứ tiếng và vẫn liên tục được tái bản
hàng năm.
* Một tiểu thuyết kinh điển cần đọc.
“Một tiểu thuyết tràn đầy sức sống và sự thú vị… mạnh mẽ,
kịch tính, mãnh liệt và rành mạch từ đầu đến cuối… một tác
phẩm tuyệt vời đáng để đọc.”
- Saturday Review of Literature
“Tôi có thể ca ngợi tiểu thuyết này ở nhiều khía cạnh… sự
kiện hấp dẫn… những nhân vật đầy màu sắc… táo bạo…
thông minh phi thường.”
- New York Herald Tribune
“Bạn không thể đọc tác phẩm tuyệt vời này mà không liên
tưởng đến một số tư tưởng cơ bản của thời đại chúng ta… Bạn
sẽ nghĩ đến The Magic Moutain và The Master Builder khi
bạn nghĩ đến The Fountainhead (Suối nguồn).”
- New York Times
Một thiết kế mạnh mẽ về con người
Ayn Rand (1905-1982) nói về những lý do cơ bản khiến tác
phẩm này liên tục tái bản hằng năm (đến nay là 60 năm): “Nó
tái khẳng định tinh thần của tuổi trẻ, nó tuyên bố về chiến
thắng của con người, nó chỉ ra người ta có thể làm được những
gì”. Và Ayn Rand đã đúng. Cuốn tiểu thuyết của bà có thể làm
cho những ai quen bị cuốn đi trong tâm lý bầy đàn phải giật
mình, buộc phải tự hỏi về chính kiến của mình, giá trị riêng có
và sự tự tin tối thiểu của mình.
Như một bản vẽ tuyệt vời cho một công trình đáng tôn vinh
nhất, Suối nguồn là một thiết kế tinh tế, mạnh mẽ về con người
- những kẻ thứ sinh, ăn bám từ nhận thức đến cách sống, và
những cá thể vĩ đại biết tư duy với một trí não độc lập, một
niềm say mê chân chính của riêng mình. Con người - với các
dòng chảy tư tưởng - hiện lên sống động qua một ngôn ngữ
rành mạch, khúc chiết mà đầy lôi cuốn.
Việc xổ toẹt vào một xã hội nô dịch, đề cao chủ nghĩa cá
nhân, lý tưởng giải phóng cá - thể - người khỏi mọi - người…
của Ayn Rand trong Suối nguồn có thể gây ra nhiều cuộc tranh
cãi giữa các luồng tư tưởng; nhưng trên hết, nó mang đến sự
thú vị cho bất kỳ người đọc nào muốn tìm thấy ở đây một nhân
sinh quan khá độc đáo về con người, cụ thể là con người sáng - tạo. Với kiến trúc sư Howard Roak - nhân vật chính của
tác phẩm, sáng tạo là nhu cầu tự nhiên nhất, là mục đích cao cả
nhất. Anh chỉ có một niềm tin - tin vào chân lý của chính
mình, không chấp nhận mọi sự phục tùng, phụ thuộc, không
tồn tại thông qua bất kỳ ai khác.
Người đọc có thể đồng ý hay không đồng ý với tư tưởng của
Rand, nhưng đọc Suối nguồn sẽ hiểu vì sao cuốn sách trên
1.000 trang này đã xoay chuyển cuộc đời của nhiều người Mỹ
và được xếp vào tiểu thuyết kinh điển cần đọc.
L.TH. (theo tuoitre.com.vn)
Ayn Rand
Nhân tiện, nói về Ayn Rand thì cũng là một hiện tượng thú
vị. Với nhiều người tôn sùng bà, Ayn Rand được coi là một
nhà triết học, đạo đức học, nhà tư tưởng lớn. Các tác phẩm của
bà, nhất là hai cuốn tiểu thuyết Atlas Shrugged và The
Fountainhead luôn là các cuốn sách best-seller với các kỷ lục
về doanh số bán ra. Trên trang web Amazon vào thời điểm
hiện nay, 50 năm sau khi cuốn Atlas Shrugged ra đời, nó vẫn
nằm trong 400 cuốn sách bán chạy. Hai cuốn tiểu thuyết với độ
dày mỗi cuốn trên dưới 1000 trang này đã làm thay đổi cuộc
đời của không biết bao nhiêu người Mỹ. Một trong số những
người đó là Alan Greenspan, thống đốc huyền thoại của kinh
tế Mỹ trong hơn hai mươi năm. Năm 1957 Greenspan đang
làm công việc dự đoán kinh tế sau khi tốt nghiệp cao học kinh
tế trường Đại học Columbia. Cũng như hầu hết các nhà kinh tế
thời đó, Greenspan là người tin tưởng vào học thuyết Keynes –
học thuyết đề cao vai trò của chính phủ trong nền kinh tế và
chiếm địa vị thống trị kinh tế học cả thế giới tư bản kể từ sau
thời Đại khủng hoảng (1929-33). Nhưng sau khi đọc xong
cuốn sách dày hơn 1200 trang của Ayn Rand thì Greenspan trở
thành một trong những người ủng hộ nhiệt thành tư tưởng của
Rand. Với nhiều người, Ayn Rand được coi như nhà tư tưởng
của chủ nghĩa tư bản, là người bảo vệ đanh thép cho các giá trị
của chủ nghĩa cá nhân, và biện minh cho tính đạo đức của chủ
nghĩa tư bản. Cùng với Ayn Rand, họ đã thoát khỏi cái mặc
cảm Thiên chúa giáo đồng nghĩa giàu có với tội lỗi “Người
giàu có vào được Thiên đường khó hơn con lạc đà chui qua lỗ
kim”, cũng không phải mặc cảm với thứ luật rừng “kẻ mạnh
nhất là kẻ tồn tại” mà Spencer rao giảng hồi đầu thế kỷ. Không
phải ngẫu nhiên mà Rand lại có ảnh hưởng mạnh như thế, nếu
như nhớ lại rằng Spencer cũng từng có ảnh hưởng tương tự ở
Mỹ vào đầu thế kỷ cùng với sự phát triển của giai cấp tư sản.
Địa vị của Rand chính là sự nối tiếp địa vị của Spencer trong
một bối cảnh mới. Trong bài báo mới ra hôm kia trên tờ New
York Times, tác giả bài báo gọi tiểu thuyết của Ayn Rand là
văn học của chủ nghĩa tư bản.
Trong The Fountainhead, có đoạn một nhân vật chính, khi
còn là một cậu bé xuất thân nghèo khổ một lần có dịp may đọc
được cuốn sách của Herbert Spencer. Và cuốn sách đó đã thay
đổi cả cuộc đời cậu, khiến cậu quyết chí vươn lên trở thành
một nhà tư bản giàu có. Nhưng dù thành đạt, nhà tư bản đó
vẫn không hạnh phúc với cảm giác mình đã tự phản bội mình.
Câu trả lời của Ayn Rand về lý do nỗi bất hạnh đó chính là ở
sự khiếm khuyết của thuyết Darwin xã hội mà Spencer truyền
bá và được giai cấp tư sản Mỹ ngưỡng mộ. Đó là việc Spencer
không tạo ra được một biện minh đạo đức. Vì thế những nhà
tư sản Mỹ sẽ suốt đời phải dằn vặt giữa sự mâu thuẫn trong
đạo đức Thiên chúa giáo của bản thân (hay/và của xã hội) với
lý luận “kẻ mạnh nhất là kẻ tồn tại”. Bằng việc biện minh đạo
đức cho chủ nghĩa cá nhân, Ayn Rand đã mang lại sự thanh
thản cho họ. Về mặt này, có thể nói Ayn Rand là người kế thừa
Nietzsche, nhưng khác với Nietzsche bác bỏ đạo đức Thiên
Chúa giáo và tự đặt ra đạo đức cá nhân với mục đích hủy diệt,
Aynd Rand đồng nghĩa ý chí cá nhân với tự do, sáng tạo và
chủ nghĩa tư bản. Với các tiểu thuyết của mình, Ayn Rand đã
thay đổi cuộc đời của rất nhiều người Mỹ, những người như
Alan Greenspan, như trước đó cuốn sách của Spencer từng
thay đổi cuộc đời của nhân vật Wynand trong The
Fountainhead.
Cho tới tận ngày nay, các tiểu thuyết của Ayn Rand vẫn có
ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới việc hình thành nhân cách và nhân
sinh quan của nhiều người Mỹ.
Nhưng mặc dù thành công lớn như vậy về mặt ảnh hưởng,
đối với giới trí thức học thuật thì Ayn Rand là con số không.
Trong các khoa triết ở các trường Đại học, người ta không
buồn nhắc tới bà với học thuyết Objectivism của bà. Với các
giáo sư văn học và các nhà phê bình thì các tiểu thuyết của bà
bị coi là nhạt, ý đồ lộ liễu và ít có giá trị về mặt văn học. Thế
nhưng trong một cuộc bình chọn của độc giả Mỹ, Atlas
Shrugged của Ayn Rand được bình chọn là cuốn sách có ảnh
hưởng lớn nhất chỉ sau Kinh Thánh. Năm 1999, nhà xuất bản
Modern Library mở cuộc bình chọn 100 tác phẩm văn học
tiếng Anh vĩ đại nhất thế kỷ 20. Trong bình chọn của các nhà
phê bình, Ulysses của James Joyce đứng vị trí đầu tiên và
trong 100 cuốn đó không hề có bóng dáng cuốn sách nào của
Ayn Rand (tình hình cũng tương tự với các bình chọn của giới
phê bình như bình chọn của báo Times, báo The Guardian…).
Nhưng trong bình chọn của độc giả thì Atlas Shrugged và The
Fountainhead của Ayn Rand lại ở vị trí dẫn đầu. Đúng là có
quá nhiều khác biệt giữa cuốn sách công chúng yêu thích và
các nhà phê bình yêu thích. Bà còn chịu sự phê phán của nhiều
người thuộc cả phái hữu và phái tả. Với phái hữu, Ayn Rand là
người không tin Chúa, phủ định đạo đức Thiên chúa giáo. Với
cánh tả, Ayn Rand bị phê phán vì đề cao tính ích kỷ
(selfishness), chủ nghĩa cá nhân và chống đối kịch liệt chủ
nghĩa xã hội hay một nhà nước có vai trò lớn.
Đánh giá về mặt giá trị văn học hay tư tưởng của tiểu thuyết
Ayn Rand còn là một vấn đề gây tranh cãi. Nhưng tôi nghĩ là
để có thể hiểu được người Mỹ và phần nào cái “suối nguồn”
cho sự phát triển kinh tế và xã hội Mỹ trong nửa cuối thế kỷ
20, thì các tiểu thuyết của Ayn Rand là rất đáng đọc.
LỜI GIỚI THIỆU CHO LỄ KỶ NIỆM 25 NĂM NGÀY
XUẤT BẢN SUỐI NGUỒN
Nhiều người đã hỏi, tôi cảm thấy thế nào khi cuốn Suối
nguồn vẫn được tái bản trong suốt 25 năm qua. Tôi không thể
nói tôi cảm thấy điều gì đặc biệt, ngoại trừ một cảm giác thỏa
mãn lặng lẽ. Về điều này, xin trích một câu nói của Victor
Hugo để diễn tả thái độ của tôi với công việc viết lách của
mình: “Nếu một nhà văn chỉ viết cho thời đại của mình thì tôi
sẽ phải bẻ bút và vứt nó đi.”
Một số nhà văn – trong đó có tôi – không sống, nghĩ, hoặc
viết chỉ cho một thời điểm. Tiểu thuyết – theo nghĩa hợp lý của
từ này – không nên được viết để rồi biến mất trong một tháng
hoặc một năm. Việc tiểu thuyết ngày nay rơi vào bi kịch trên –
chúng được viết và xuất bản như tạp chí, để rơi vào lãng quên
cũng nhanh như một bản tạp chí – là điều đáng buồn nhất của
văn học đương đại, đồng thời là bản cáo trạng rõ ràng nhất đối
với quan điểm nghệ thuật mà văn học ngày nay theo đuổi: thứ
chủ nghĩa hiện thực tủn mủn, mang tính báo chí vốn đang đi
vào ngõ cụt trong sự hoảng loạn không lời.
Mặc dù không phải là đặc trưng riêng, sự trường tồn là đặc
trưng cơ bản nhất của một trường phái văn học hầu như không
còn tồn tại ngày nay: văn học lãng mạn. Tôi không định trình
bày về bản chất của văn học lãng mạn ở đây; vì thế, tôi chỉ xin
được nhấn mạnh một điều này thôi – với mục đích ghi lại cho
mình và cho những người chưa từng phát hiện ra điều này: chủ
nghĩa lãng mạn là trường phái nghệ thuật hướng tới nhận thức
(the conceptual school of art). Nó không giải quyết những vấn
đề vụn vặt hàng ngày của đời sống mà hướng tới những vấn đề
và giá trị vĩnh hằng, cơ bản, chung nhất của đời sống con
người. Nó không ghi âm hay chụp ảnh; nó sáng tạo và định
hướng. Theo ngôn ngữ của Aristotle thì văn học lãng mạn
không quan tâm tới thế-giới-như-nó-đang-là (things as they
are), mà tới thế giới như nó có thể là và phải là (things as they
might be and ought to be).
Đối với những người cho rằng những gì xảy ra trong thời đại
hiện tại cũng có tầm quan trọng đặc biệt, tôi xin được nói thêm
rằng thời đại mà chúng ta đang sống đây chính là thời đại mà
con người càng cần một sự định hướng về cái thế giới như nó
phải là.
Tôi không có ý nói rằng vào lúc tôi đang viết Suối nguồn, tôi
đã biết cuốn sách sẽ còn được tái bản trong 25 năm tới. Tôi
không hề nghĩ tới một khoảng thời gian cụ thể nào. Tôi chỉ
biết cuốn sách này phải sống. Và nó đã sống.
Nhưng việc cách đây 25 năm, tôi biết cuốn sách phải sống –
biết điều này ngay trong lúc bản thảo Suối nguồn bị mười hai
nhà xuất bản từ chối, một số trong đó tuyên bố rằng nó “quá
triết lý”, “quá nhạy cảm” và sẽ không thể bán được vì không
tồn tại độc giả cho nó – lại chính là phần đau lòng trong lịch
sử cuốn sách: đau lòng cho tôi khi nghĩ đến. Tôi kể lại nó ở
đây để chia sẻ với những nhà văn có cùng quan điểm viết như
tôi – những người có thể sẽ phải đối mặt với trận chiến tương
tự; chia sẻ để khẳng định một thực tế là chúng ta có thể chiến
thắng trong cuộc chiến này.
Tôi sẽ không thể nói về Suối nguồn hoặc bất cứ phần nào
trong lịch sử của cuốn sách nếu tôi không đề cập đến một
người đã giúp tôi viết được cuốn sách này: chồng tôi – Frank
O'Connor.
Trong một vở kịch tôi viết vào những năm đầu tuổi 30, vở
[1]
Lý tưởng , nhân vật nữ chính trong vở kịch – một ngôi sao
điện ảnh, đã nói thay tôi bằng những lời thế này: “Tôi muốn
thấy bằng xương bằng thịt, trong lúc tôi còn sống, cái chiến
thắng mà tôi đã tạo ra như một viễn tưởng. Tôi muốn thấy nó
có thực. Tôi muốn biết là ở đâu đó, có một ai đó cũng mong
muốn điều đó. Nếu không, có nghĩa gì cái việc nhìn thấy nó,
làm việc và đốt cháy mình cho một hình ảnh không có thực?
Một linh hồn cũng cần năng lượng nuôi sống nó. Một linh hồn
cũng có thể cạn kiệt.”
Frank chính là nguồn năng lượng đó. Anh đã mang lại cho
tôi, vào những thời khắc thực trong cuộc sống của tôi, cảm
giác thực về cuộc sống như tôi vừa nói – cái cảm giác đã sáng
tạo ra Suối nguồn; và anh giúp tôi giữ được nó trong suốt
nhiều năm, ngay cả khi xung quanh chúng tôi không có gì
ngoài một sa mạc xám xịt những con người và sự kiện chỉ gợi
lên sự khinh bỉ và kinh sợ. Điều cốt lõi nhất trong mối dây liên
hệ hai chúng tôi chính là việc cả hai chúng tôi đều không bao
giờ muốn hoặc bị cám dỗ vào sống trong bất cứ thế giới nào
khác ngoài thế giới như trong Suối nguồn. Chúng tôi sẽ không
bao giờ.
Nếu trong tôi có bất cứ biểu hiện nào của một nhà văn hiện
thực – tức là người ghi chép lại các lời thoại trong “cuộc sống
thực” để dùng cho tiểu thuyết – thì điều đó chỉ xảy ra trong
giao tiếp với Frank. Ví dụ, một trong những lời thoại ý nghĩa
nhất trong Suối nguồn là lời thoại ở cuối Phần Hai: trả lời câu
hỏi của Toohey “Sao anh không nói thẳng cho tôi biết anh nghĩ
gì về tôi,” Roark đã trả lời “Nhưng tôi không nghĩ về ông.”
Câu nói của Roark chính là câu trả lời mà Frank đã dành cho
một loại người khác, trong một hoàn cảnh tương tự. Hoặc như
Frank đã nói với tôi về quan điểm làm việc của tôi: “Em đang
vung vãi vàng ngọc mà chẳng thu lại được chút vụn cám.” Câu
này, tôi để cho Dominique nói trong phiên tòa xử Roark.
Tôi hiếm khi cảm thấy nản lòng, và nếu có nản lòng thì
thường cảm giác đấy chỉ qua một đêm là hết. Nhưng có một
buổi tối, trong lúc viết Suối nguồn, tôi cảm thấy phẫn nộ một
cách sâu sắc với thực trạng của cái thế-giới-như-nó-đang-là
đến mức tôi cảm thấy tôi không bao giờ có năng lượng để tiến
thêm một bước nào về phía cái thế-giới-như-nó-phải-là. Đêm
đó, Frank nói chuyện với tôi nhiều giờ liền. Anh làm cho tôi
hiểu vì sao người ta không thể bỏ mặc thế giới cho những kẻ
mà mình khinh bỉ. Đến khi cuộc nói chuyện kết thúc, sự nản
lòng của tôi tan biến. Nó không bao giờ còn trở lại mạnh mẽ
như lần đó nữa.
Tôi vẫn thường phản đối thói quen đề tặng sách: tôi đã luôn
giữ quan điểm rằng một cuốn sách cần được dành tặng cho bất
cứ độc giả nào xứng đáng với nó. Nhưng đêm đó, tôi nói với
Frank rằng tôi sẽ đề tặng Suối nguồn cho anh bởi vì anh đã
cứu sống nó. Và một trong những giây phút hạnh phúc nhất
của tôi đã đến vào khoảng hai năm sau đó, khi tôi thấy nét mặt
của Frank lúc anh trở về nhà vào một ngày bình thường và
nhìn thấy bản in thử của cuốn Suối nguồn; trang đầu tiên của
nó in đậm, rõ nét mấy chữ: Tặng Frank O'Connor.
Có người hỏi tôi trong 25 năm qua, tôi có thay đổi không.
Không, tôi vẫn là con người đó; thậm chí càng giống thế hơn.
Các quan điểm của tôi có thay đổi không? Không. Kể từ lúc
tôi bắt đầu nhớ được thì tất cả những niềm tin và quan điểm cơ
bản nhất của tôi về cuộc sống và con người không hề thay đổi;
tuy nhiên, nhận thức của tôi về phạm vi áp dụng những quan
điểm ấy đã mở rộng ra cả về tầm vóc và tính chất. Tôi đánh
giá thế nào về cuốn Suối nguồn ở thời điểm này? Tôi vẫn tự
hào như tôi đã tự hào vào cái ngày tôi viết xong cuốn sách.
Cuốn Suối nguồn có được viết để trình bày các quan điểm
triết học của tôi không? Trả lời câu hỏi này, tôi xin trích lại từ
bài viết Mục đích văn chương mà tôi đã trình bày ở Đại học
Lewis và Clark vào ngày 1-10-1963: “Động cơ và mục đích
của tôi khi viết văn là khắc họa hình ảnh con người lý tưởng.
Mục tiêu rốt ráo nhất của tôi là khắc họa một mẫu người lý
tưởng về đạo đức; tất cả các giá trị triết học, giáo dục, hay
nhận thức trong tiểu thuyết chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu
rốt ráo ấy.
“Tôi xin được nhấn mạnh điều này: mục đích của tôi không
phải là khai sáng độc giả về mặt triết học. Mục đích của tôi –
mục đích cơ bản và rốt ráo nhất – là khắc họa chân dung
Howard Roark (hoặc các nhân vật chính trong Atlas vươn
[2]
mình ) như cái đích tự thân.
“Tôi viết – và đọc nữa – vì lợi ích của câu chuyện. Phép thử
đơn giản nhất của tôi cho bất cứ câu chuyện nào là: Liệu tôi có
muốn gặp các nhân vật và chứng kiến những sự kiện kia trong
đời thực hay không? Câu chuyện này có vẽ ra một kinh
nghiệm đáng trải qua hay không? Niềm hạnh phúc được suy
tưởng về các nhân vật này có đủ là mục đích tự thân hay
không?…
“Vì mục đích của tôi là khắc họa con người lý tưởng, tôi
phải xác định và vẽ ra những hoàn cảnh để cho nhân vật sống,
đồng thời là hoàn cảnh mà sự tồn tại của con người lý tưởng
đó đòi hỏi. Vì tính cách của con người là sản phẩm của những
tín điều mà anh ta giữ, tôi cũng phải xác định và vẽ ra những
tín điều và niềm tin sẽ tạo ra tính cách của con người lý tưởng
và thúc đẩy các hoạt động của anh ta. Điều này cũng có nghĩa
là tôi phải xác định và vẽ ra các nguyên tắc đạo đức hợp lý. Vì
con người hoạt động và giao tiếp với nhau, tôi phải vẽ ra hệ
thống xã hội ở đó con người lý tưởng của tôi có thể tồn tại và
hoạt động – một hệ thống tự do, hiệu quả, hợp lý; một hệ
thống đòi hỏi và tưởng thưởng cho những năng lực tốt đẹp
nhất trong mỗi con người.
“Nhưng bản thân chính trị cũng như đạo đức hoặc triết học
đều không thể tồn tại như mục đích tự thân, dù trong đời sống
hay trong văn học. Chỉ có Con người mới có thể là mục đích
tự thân cho chính mình mà thôi.”
Tôi có muốn thay đổi gì trong nội dung của cuốn Suối nguồn
không? Không – và vì thế mà tôi đã giữ cuốn sách nguyên vẹn.
Tôi muốn nó tồn tại đúng như nó đã được viết ra. Chỉ có một
từ và một câu có thể gây hiểu nhầm mà tôi muốn giải thích rõ;
vì thế tôi sẽ đề cập ở đây.
Cái từ có thể gây hiểu nhầm là từ “egotist” (có nghĩa là
người tự cao tự đại) trong bài tự biện trước tòa của Roark; lẽ ra
[3]
tôi phải dùng từ “egoist” (người theo chủ nghĩa vị thân) . Lỗi
này là do tôi đã ỷ lại vào giải thích của một cuốn từ điển –
cuốn này đưa ra định nghĩa không chính xác về hai từ, trong
đó “egotist” có vẻ gần hơn với tìm kiếm của tôi (cuốn Từ điển
hàng ngày Webster, xuất bản năm 1933). (Tuy nhiên, các nhà
triết học hiện đại có lỗi hơn các nhà biên soạn từ điển trong
việc làm lẫn lộn hai từ này).
Còn câu văn cần đính chính nằm trong bài phát biểu của
Roark: “Từ những thứ thiết yếu đơn giản nhất cho đến những
khái niệm tôn giáo trừu tượng cao nhất, từ cái bánh xe cho đến
các tòa nhà chọc trời, tất cả những gì mà chúng ta đại diện và
tất cả những gì chúng ta có đều đến từ một thuộc tính của con
người – đó là khả năng tư duy.”
Câu này có thể khiến người ta hiểu sai rằng tôi ủng hộ tôn
giáo hoặc các tư tưởng tôn giáo. Tôi nhớ là mình đã lưỡng lự
khi viết câu này, rồi tự nhủ rằng sự vô thần của cả Roark và tôi
cũng như tinh thần chung của cả cuốn sách đã được khẳng
định rõ ràng đến mức không ai có thể hiểu nhầm, nhất là khi
tôi đã nói rằng những tư tưởng tôn giáo cũng là sản phẩm của
đầu óc con người chứ không phải sự mặc khải của đấng siêu
nhiên nào.
Tuy nhiên, những vấn đề như thế này cần phải được giải
thích rõ ràng. Tôi không hề nói đến tôn giáo theo nghĩa tôn
giáo đức tin mà tôi nói đến tôn giáo như một nhánh đặc biệt
của tư duy trừu tượng, một hình thái có tính thăng hoa tinh
thần cao nhất, một hình thái mà trong nhiều thế kỷ qua đã gần
như là hoạt động độc quyền của tôn giáo. Và tôi nói đến đạo
đức – không phải theo nghĩa các giáo lý tôn giáo mà là đạo
đức theo nghĩa trừu tượng, đạo đức như lĩnh vực quy định các
giá trị, đạo đức như bộ luật tốt và xấu của con người; đạo đức
mà, đứng về mặt tình cảm, thì được biểu hiện ở cảm giác lớn
lên, cảm giác tự tôn, cảm giác cao cả, cảm giác vĩ đại – những
thứ thuộc về giá trị con người nhưng đã bị tôn giáo chiếm làm
đặc tính của mình.
Tôi đã ngụ ý dùng những nghĩa trên cho một đoạn khác
trong cuốn sách, một đoạn thoại ngắn giữa Roark và Hopton
Stoddard, và nó có thể bị hiểu nhầm nếu bị tách khỏi bối cảnh:
“Anh là một người có đức tin sâu sắc, Roark ạ – đức tin theo
cách riêng của anh. Tôi có thể nhìn thấy nó trong những tòa
nhà anh kiến trúc.”
“Đúng vậy.” – Roark trả lời.
Trong bối cảnh của cuốn sách, nghĩa của câu trên rất rõ ràng:
Stoddard đang nói đến sự tuân thủ tuyệt đối của Roark đối với
các giá trị, đối với cái cao nhất và tuyệt vời nhất, với cái lý
[4]
tưởng (trong kiến trúc và cuộc sống ). Việc xây dựng Đền
Stoddard và phiên tòa tiếp theo sự việc này minh họa rõ cho
câu trên.
Điều này dẫn tôi đến một vấn đề lớn hơn, có liên quan tới
từng câu một trong cuốn Suối nguồn và cần phải được hiểu rõ
nếu như bạn đọc muốn hiểu lý do sự hấp dẫn lâu dài của cuốn
sách này.
Sự độc quyền của tôn giáo trong lĩnh vực đạo đức khiến cho
việc trao đổi các ý nghĩa và sắc thái tình cảm từ góc độ lý tính
trở nên hết sức khó khăn. Vì tôn giáo đã độc quyền trong việc
đề ra các quy định đạo đức, đưa đạo đức chống lại con người,
nên tôn giáo cũng đã chiếm đoạt luôn các khái niệm đạo đức
cao nhất trong ngôn ngữ, đưa chúng ra khỏi thế giới và tầm
với của con người. Ví dụ như từ “thăng hoa” (exaltation)
thường được dùng để ngụ ý một trạng thái tình cảm của người
đã được chứng kiến đấng siêu nhiên. Từ “thờ phụng”
(worship) được dùng để chỉ sự trung thành và tận tụy đối với
những thứ ở bên trên con người. Từ “tôn kính” (reverence) ám
chỉ cảm giác tôn trọng mang tính thần thánh mà người ta cảm
giác được khi quỳ trên đầu gối (vào lúc cầu nguyện). Từ
“thiêng liêng” (sacred) cũng có nghĩa là vượt trên và bất khả
xâm phạm bởi những gì thuộc về con người trên mặt đất. Vân
[5]
vân…
Trong khi đó, tất cả những khái niệm trên đều liên quan đến
những cảm giác thực của con người mà không cần có gì siêu
nhiên hiện hữu; và người ta có thể kinh nghiệm những cảm
giác này khi họ thấy mình lớn lên hay cao thượng lên mà
không cần phải đi kèm với cảm giác hạ mình (xuống dưới
[6]
đấng siêu nhiên ) như các khái niệm tôn giáo đòi hỏi. Vậy thì,
trong thực tế, người ta lấy cái gì để làm nguồn gốc hoặc làm
tham chiếu cho các kinh nghiệm của mình? Lẽ ra, người ta
phải tham chiếu toàn bộ thế giới tình cảm của mình trong
tương quan với một mô hình đạo đức lý tưởng. Thế nhưng,
thực tế là ngoài cảm giác tự hạ mình xuống mà tôn giáo quy
định cho con người, toàn bộ phần còn lại của thế giới tình cảm
ấy đã bị bỏ mặc, không hề được gọi tên, làm rõ hoặc công
nhận.
Chính những cấp độ tình cảm cao nhất này của con người là
cái cần phải được cứu chuộc lại từ trong bóng tối của chủ
nghĩa thần bí và phải được trả lại cho chủ nhân chân chính của
[7]
nó: con người (chứ không phải đấng siêu nhiên ).
Và chính với ý nghĩa này, với suy nghĩ này, tôi muốn nêu rõ
tính chất của cuộc sống mà cuốn Suối nguồn đã khắc họa: đó
[8]
là cuộc sống tôn vinh con người.
Tôn vinh con người là một cảm giác mà một số ít người –
thậm chí rất ít – kinh nghiệm được nó một cách thường xuyên;
một số khác kinh nghiệm nó qua những khoảnh khắc rời rạc,
lóe lên rồi tắt đi mà không để lại ảnh hưởng gì; một số người
thậm chí không hề biết đến nó; trong khi một số khác nữa thì
biết và dành cả đời để điên cuồng dập tắt những khoảnh khắc
lóe lên đó.
Xin đừng nhầm lẫn sự “tôn vinh con người” này với rất
nhiều những toan tính mà ở đó, thay vì giải phóng luân lý ra
khỏi vòng cương tỏa của tôn giáo và đưa trả nó về với lĩnh vực
tư duy lý tính của con người thì người ta lại khoác cho nó một
hình hài vô nghĩa và kinh khủng nhất của sự cuồng tín. Ví dụ
như tất cả các biến thể của chủ nghĩa tập thể thực ra giữ
nguyên những nguyên tắc đạo đức tôn giáo, có điều họ thay
“Chúa” bằng “xã hội” để đẩy con người vào chỗ tự hy sinh
làm vật tế thần. Bên cạnh đó là hàng loạt các trường phái triết
học hiện đại – những trường phái phủ nhận các nguyên tắc tư
duy và tuyên bố rằng thực tại chỉ là một tổ hợp hỗn loạn được
tạo ra bởi những phép mầu và tuân thủ quy tắc ngẫu nhiên –
không phải sự ngẫu nhiên do Chúa tạo ra, mà sự ngẫu nhiên do
con người hay xã hội tạo ra. Những kẻ theo quan điểm thần bí
mới này không hề tôn vinh con người; chúng chỉ là những kẻ
dung tục hóa con người và cũng thù địch con người một cách
điên cuồng như những bậc tiền bối vốn tôn thờ chủ nghĩa thần
bí của chúng.
Một dạng thô thiển hơn của sự thù địch với con người mà tôi
vừa nói đến là những quan điểm của những kẻ bị thống kê và
những chi tiết vụn vặt của đời sống làm mờ mắt. Những kẻ
này – vì không đủ khả năng nhận thức được ý nghĩa của sự tự
ý thức ở con người – đã tuyên bố rằng con người không thể là
đối tượng của sự tôn vinh bởi vì chúng chưa gặp một ai xứng
đáng với sự tôn vinh đó.
Những người tôn vinh con người – theo đúng nghĩa mà tôi
muốn nói tới – là những người nhìn ra tiềm năng cao nhất của
con người và nỗ lực đạt tới điều đó. Những kẻ thù địch con
người, trái lại, là những kẻ coi loài người như những sinh vật
yếu ớt, sa đọa, đáng khinh bỉ và cố gắng để bản thân chúng
không phải nhìn thấy điều ngược lại. Ở đây, cần chú ý rằng tri
thức tự phản ảnh trực tiếp duy nhất mà con người có được là
tri thức về chính bản thân mình.
Cụ thể hơn, ranh giới cơ bản nhất giữa những người tôn vinh
con người và những kẻ thù địch con người là một bên thì phấn
đấu cho sự thăng hoa của lòng tự tôn cũng như sự thiêng liêng
của hạnh phúc thực sự trên mặt đất; còn bên kia thì cố gắng để
con người không đạt được hai thứ đó. Hầu hết nhân loại tiêu
tốn năng lượng và tình cảm của mình ở khoảng giữa của hai
thái cực trên: họ chao đảo từ bên này sang bên khác, vùng vẫy
để không phải gọi tên sự khổ sở của mình. Nhưng gọi tên hay
không cũng không thay đổi được bản chất sự khổ sở của họ.
Có lẽ, cách tốt nhất để thâu tóm quan điểm cuộc sống trong
Suối nguồn là dẫn ra đây những câu tôi đã đề trên đầu bản thảo
của mình nhưng đã bỏ chúng đi khi đem xuất bản. Tôi xin
nhân cơ hội này để trình bày với bạn đọc.
Tôi đã bỏ chúng đi vì tôi phản đối sâu sắc những quan điểm
[9]
triết học của người viết ra những câu ấy: Friedrich Nietzsche .
Về mặt triết học, Nietzsche ủng hộ quan điểm thần bí và sự phi
lý. Các quan điểm siêu hình học của ông thể hiện một thế giới
[10]
trộn lẫn giữa sự lãng mạn kiểu Byron với sự độc ác thần bí;
nhận thức luận của ông hạ thấp vai trò của tư duy lý tính và
thay nó bằng duy ý chí, hay cảm giác, hay bản năng, hay
những đặc điểm bẩm sinh khác của đối tượng. Tuy nhiên, với
tư cách một nhà thơ, thỉnh thoảng (chứ không thường xuyên),
Nietzsche lại nói đến những tình cảm lớn lao đối với sự vĩ đại
của con người – nhưng nói đến thông qua ngôn ngữ cảm giác
chứ không phải ngôn ngữ tư duy.
Điều này đặc biệt đúng trong câu trích dẫn mà tôi đã chọn.
Tôi không thể đồng ý với nghĩa đen của nó: câu này tuyên bố
một lý thuyết không thể bào chữa được là thuyết tâm lý quyết
định (psychological determinism). Tuy nhiên, nếu nhìn nhận
nó như sự khắc họa một kinh nghiệm tình cảm (và nếu, về mặt
nhận thức, ta dùng khái niệm “tiền đề tư duy cơ bản” có được
do kinh nghiệm thay cho khái niệm “tri giác bẩm sinh”) thì câu
trích dẫn này lại cho thấy một trạng thái thăng hoa của sự tự
tôn; đồng thời quy nạp tất cả những tình cảm mà cuốn Suối
nguồn đã đặt nền tảng triết học và nhận thức cho những tình
[11]
cảm ấy.
“Không phải hành vi mà chính là niềm tin – niềm tin chắc
chắn và quan trọng nhất – sẽ mang lại cho những tín điều tôn
giáo cũ một ý nghĩa mới và sâu sắc hơn: một niềm tin chắc
chắn mà một tâm hồn cao thượng có đối với chính nó; cái
niềm tin mà người ta không nên kiếm tìm từ bên ngoài, không
thể tìm thấy ở bên ngoài, và, có lẽ, không bao giờ nên để mất.”
(Trích từ bài Tâm hồn cao thượng tự thăng hoa, Friedrich
Nietzsche, cuốn Bên trên cái thiện và cái ác.)
Trong lịch sử nhân loại, hiếm thấy ai phát biểu quan điểm
này về con người. Ngày nay, quan điểm này hầu như không
tồn tại. Tuy nhiên, chính quan điểm này – dù tồn tại ở các cấp
độ khác nhau của sự khao khát, ao ước, đam mê và hoang
mang đau khổ – là quan điểm khởi đầu cuộc sống của những
người ưu tú nhất của nhân loại. Đối với đa số họ, đây thậm chí
không phải là một quan điểm rõ ràng mà chỉ là một cảm giác
mơ hồ, khó nắm bắt; nó được tạo thành từ những nỗi đau trần
trụi và từ niềm hạnh phúc không thể diễn tả nổi. Nó là cảm
giác về một kỳ vọng lớn, rằng cuộc sống của một người là
quan trọng, rằng những thành tựu lớn lao có thể nằm trong khả
năng, và rằng những điều vĩ đại còn nằm phía trước.
Bản chất của con người – và của bất cứ sinh vật nào – không
phải là đầu hàng, hoặc phỉ nhổ và nguyền rủa sự tồn tại của
mình; điều ấy thực ra đòi hỏi cả một quá trình suy đồi mà tốc
độ của nó tùy thuộc mỗi người. Một vài người đầu hàng vào
lần đầu tiên tiếp xúc với áp lực; một vài người mặc nhiên đầu
hàng; một số khác đi xuống từ từ và cứ thế mất dần ngọn lửa
mà chính họ cũng không hề nhận ra nó đã tàn lụi như thế nào.
Sau đó, tất cả biến mất trong cái đầm lầy khổng lồ gồm những
người già cỗi, những người rao giảng rằng trưởng ...
 





