BẢN TIN HÔM NAY

Thực hiện Công văn số 5607/BGDĐT-GDNNGDTX ngày 15/9/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025; Công văn số 4050/GDĐT-GDTX-GDMN-CTHSSV ngày 23/9/2025 của Sở GDĐT về việc tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025.Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ năm học của đơn vị .Trường THPT Đặng Huy Trứ xây dựng kế hoạch Hưởng ứng tuần lễ học tập suốt đời năm 2025. Đây là hoạt động thường niên có ý nghĩa thiết thực, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên, học sinh và cộng đồng về vai trò của việc học tập suốt đời trong xây dựng xã hội học tập, góp phần phát triển quê hương Nam Thái Ninh ngày càng văn minh, tiến bộ. Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025 mang chủ đề: “Học để phát triển bản thân, làm chủ tri thức và công nghệ, góp phần xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng”. Chủ đề này nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học, học tập suốt đời gắn với việc chủ động làm chủ tri thức và công nghệ. Trong thời đại công nghệ số, tri thức nhân loại thay đổi từng ngày. Việc học không chỉ diễn ra trong lớp học mà còn ở mọi nơi: qua sách báo, internet, thư viện, các lớp học cộng đồng, hay từ chính những trải nghiệm thực tế trong cuộc sống. Học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người dân. Người lớn học để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, trẻ em học để phát triển toàn diện, người cao tuổi học để sống vui, sống khỏe. Mỗi người học một cách, học ở mọi nơi, mọi lúc - miễn là có khát vọng vươn lên.

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

LIÊN KẾT WEBSITE

SÁCH ĐIỆN TỬ- SGV, SGK

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 14

    SÁCH NÓI

    https://sachnoi.cc/truyen-ngan/truyen-noi-nghin-le-mot-dem-antoine-galland/

    Menu chức năng 15

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7219497009296_5f0ee82ecf936cff10f74cf311b01a0c.jpg Z7219496993044_cee7b7dec674834140fe3f089d1d759e.jpg ANH_LIEN_THONG.PNG Anh_6.jpg Anh_4.jpg Anh_3.jpg Anh_2.jpg Anh_1.jpg Anh_10.jpg Anh_8.jpg Anh_7.jpg Anh_6.jpg Anh_6.jpg Anh_5.jpg Anh_3.jpg Anh_1.jpg 146701loi_gioi_thieu_NhasachMienphicom.mp3

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH THAM KHẢO

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Thức tỉnh mục đích sống

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Tôn Nữ Uyên Phương
    Ngày gửi: 09h:59' 27-04-2025
    Dung lượng: 913.6 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    LỜI GIỚI THIỆU
    Chương 1
    SỰ NỞ HOA CỦA TÂM THỨC NHÂN LOẠI
    Chương 2
    BẢN NGÃ: TÌNH TRẠNG HIỆN THỜI CỦA NHÂN LOẠI
    Chương 3
    CỐT LÕI CỦA BẢN NGÃ
    Chương 4
    VAI TUỒNG VÀ TÍNH NHIỀU MẶT CỦA BẢN NGÃ
    Chương 5
    KHỐI KHỔ ĐAU SÂU NẶNG
    Chương 6
    VƯỢT THOÁT
    Chương 7
    TÌM LẠI BẢN CHẤT CHÂN THỰC CỦA MÌNH
    Chương 8
    KHÁM PHÁ KHÔNG GIAN BÊN TRONG
    Chương 9
    MỤC ĐÍCH BÊN TRONG CỦA ĐỜI BẠN
    Chương 10
    MỘT THẾ GIỚI MỚI

    THỨC TỈNH MỤC ĐÍCH SỐNG

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage :
    https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach

    LỜI GIỚI THIỆU
    Tôi rất hân hoan khi hoàn tất phần chú thích và hiệu đính tác phẩm xuất sắc “Thức Tỉnh Mục
    Đích Sống” này của ông Eckhart Tolle. Công khó phiên dịch trọn tác phẩm là công sức của anh
    Đỗ Tâm Tuy và trên hết là những đóng góp lớn lao của các anh, chị ở First News – Trí Việt để
    giúp cho ra đời tác phẩm xuất sắc nhất của Eckhart Tolle này.
    Mười năm trước, với tất cả những thành công trong công việc, đời sống cá nhân và gia đình,
    tôi vẫn cảm thấy thiếu thốn một cái gì. Cảm giác bất ổn này đã làm cho tôi quay quắt, vật vã.
    Nhiều lần tôi đã gào lên:
    “Không lẽ cuộc đời khốn khó này chỉ có bấy nhiêu thôi?”
    Lúc đó, tôi không ý thức rằng sở dĩ những cảm giác rối rắm ấy hiện điện là vì bản thân tôi,
    trong chiều sâu, tôi không biết mình muốn cái gì. Tôi khổ sở vì không cảm thấy thỏa mãn với
    những gì mình đang có. Có lúc tôi tự hỏi:
    “Tôi thực sự là ai?”
    “Tại sao tôi có mặt trong cuộc đời này?”
    Trong thời gian ấy, tôi lại bắt dầu gặp phải những khó khăn trong công việc, trong gia đình và
    trong đời sống hôn nhân,... mà tôi phải chịu bó tay, chẳng giải quyết được gì. Từ đó tôi dấn thân
    vào con đường tâm linh. Điều tôi mong lúc dấy chỉ là học được một cái gì đó để tự giúp cho mình
    bớt khổ, biết cách nhận điện cũng như khắc phục những tiêu cực và khiếm khuyết đầy dẫy ở
    trong mình.
    Tôi thiết nghĩ chẳng có gì sai khi con người nỗ lực đi tìm hạnh phúc cho riêng mình. Nhưng tôi
    cho rằng chúng ta khó có thể thực sự cảm thấy hạnh phúc hoặc thỏa mãn sâu xa qua những
    chuyện thường nhật: làm việc, giải trí, ăn, ngủ và làm tình, vì có một mục đích sâu xa hơn trong
    đời sống, có một chiều không gian tâm linh sâu lắng hơn vượt lên trên những ưu tư, lo lắng hạn
    hẹp của cá nhân mà ta chưa tiếp xúc được. Riêng tôi, cảm giác bất ổn này chỉ thực sự lắng dịu lại
    khi tôi bắt dầu dối điện với nỗi cô đơn lớn trong mình.
    Trong mỗi người chúng ta, có một lỗ hổng lớn của tâm cảm bơ vơ, không thể lấp đầy. Nhưng
    nếu ta dám đặt những câu hỏi lớn, dối điện và nhìn sâu vào những cảm xúc tiêu cực đó theo
    những gì mà Eckhart Tolle đã hướng dẫn ở đây, thì ta sẽ vượt qua tâm cảm bơ vơ, niềm cô độc
    ấy.

    Tôi rất vui vì thực hiện được công trình có nhiều thử thách nhưng đầy hứng thú: đó là biên dịch
    và giới thiệu đến các bạn một tác phẩm tâm linh giá trị như cuốn “Thức Tỉnh Mục Đích Sống”
    này của Eckhart Tolle.
    Diện Mục Nguyễn Văn Hạnh*

    Chương 1
    SỰ NỞ HOA CỦA TÂM THỨC NHÂN LOẠI
    HỒI TƯỞNG
    Địa cầu, cách đây 114 triệu năm, một buổi sáng kia, sau khi mặt trời vừa hé dạng, bỗng nhiên
    có một bông hoa duy nhất xuất hiện lần đầu tiên trên hành tinh này; những cánh hoa hé nở,
    đón chào những tia nắng sớm. Đây quả là một sự kiện quan trọng trong quá trình tiến hóa của
    thực vật, mở đầu cho một thời kỳ chuyển hóa đời sống của những loài cỏ cây vốn đã xuất hiện
    trên trái đất từ hàng triệu năm trước. Đóa hoa đầu tiên đó hẳn đã không tồn tại được lâu, vì có
    lẽ đây chỉ là hiện tượng đơn lẻ hiếm hoi và có lẽ vì giai đoạn ấy chưa phải là thời kỳ thuận lợi
    cho các loài hoa nở rộ. Tuy nhiên, đến một ngày nào đó, bước chuyển hướng quyết định ấy hẳn
    cũng phải đến, và nếu có ai đó có mặt vào giờ phút đó để chứng kiến, hẳn họ đã nhìn thấy một
    sự bùng vỡ của hương hoa và sắc màu lan tràn khắp hành tinh.
    Mãi về sau này, những sinh thể mong manh đầy hương sắc mà ta gọi là hoa ấy đã đóng một
    vai trò trọng yếu trong quá trình tiến hóa về mặt nhận thức ở một loài khác: ở con người. Thực
    vậy, con người ngày càng cảm thấy bị hấp dẫn và thu hút trước hấp lực của những cánh hoa.
    Khi nhận thức của con người càng trở nên tinh tế hơn, rất có thể bông hoa là thứ đầu tiên mà
    họ đem lòng quý trọng, mặc dù hoa không phục vụ cho một mục đích thực tiễn nào của họ, tức
    là không liên quan gì đến chuyện sinh kế, sống còn. Nhưng đóa hoa đã là nguồn cảm hứng cho
    biết bao nhiêu nghệ sĩ, thi nhân và các nhà huyền học1. Chúa Jesus đã khuyên chúng ta nên để
    thì giờ chiêm nghiệm về hoa và học cách sống như một bông hoa2. Tương truyền rằng Đức Phật
    cũng đã có một bài thuyết pháp trong im lặng, trong đó Ngài cầm một bông hoa trên tay và
    ngắm nhìn đóa hoa ấy trong yên lặng. Một lát sau, một trong những tỳ-kheo có mặt hôm đó là
    Ngài Ma-Ha Ca-Diếp (Mahakasyapa) đã nở trên môi một nụ cười. Có thể ngài Ma-Ha Ca-Diếp là
    người dệ tử duy nhất hôm ấy hiểu được ngụ ý của bài pháp vô ngôn3 của Đức Phật. Tương
    truyền rằng, nụ cười đó (tức là sự trao truyền Tâm ấn giác ngộ) đã được Đức Phật và chư Tổ
    truyền qua 28 dời liên tiếp và sau này đã trở thành nguồn gốc của Thiền Tông.
    Khi ta nhìn ngắm vẻ đẹp của một bông hoa, bông hoa ấy có thể dánh thức, dù chỉ trong
    thoáng chốc, cảm nhận về cái đẹp ở trong ta, phần hiện hữu sâu xa nhất, và cũng là bản chất
    thực của chính mình. Giây phút đầu tiên khi cảm nhận cái đẹp là một biến cố có ý nghĩa nhất
    trong quá trình tiến hóa về nhận thức của loài người. Khi đó ta cũng cảm nhận được tình yêu

    và sự im lắng ở nội tâm mình. Dù ta không nhận thức được hết tầm quan trọng của biến cố đó,
    hoa vẫn là một biểu tượng, qua hình tướng4, những gì thiêng liêng, cao quý nhất5, dù phần cao
    quý ấy thực chất là cái không có hình tướng6. So với những loài cây cỏ đã có mặt trước đó thì
    hoa có vẻ mong manh, chóng tàn hơn. Nhưng hoa đã trở thành sứ giả từ một cõi khác, như là
    một chiếc cầu nối liền thế giới của hình hài vật chất với thế giới vô hình. Hoa không chỉ cho ta
    mùi hương thanh khiết và êm dịu, mà hoa còn mang lại mùi hương của cõi thiêng liêng. Nếu ta
    có thể dùng từ “tỉnh thức” với nghĩa rộng thì ta có thể ví rằng hoa là sự tỉnh thức của loài cỏ
    cây.
    Có thể nói là bất cứ dạng vật chất nào ở bất kỳ hình thức nào – như khoáng chất, thực vật,
    động vật, con người... – đều đang đi qua quá trình “tỉnh thức”. Tuy nhiên, để dạng vật chất ấy
    thực sự dạt đến trạng thái tỉnh thức là một điều rất hiếm khi xảy ra vì đó không hẳn là một tiến
    bộ thông thường trong quá trình tiến hóa mà còn là sự gián đoạn trong quá trình phát triển
    bình thường, và là một bước nhảy vọt lên một cấp độ hoàn toàn khác của Hiện Hữu,mà quan
    trọng hơn hết là một sự giảm bớt về mức độ nặng nề và dày đặc của vật chất.
    Còn gì nặng hơn và khó xuyên thủng hơn là một tảng dá, vật thể dày đặc nhất trong các vật
    thể, thế mà một vài loại dá, khi trải qua một quá trình thay đổi cấu trúc phân tử lại trở thành
    pha lê, một tinh thể trong suốt mà ánh sáng có thể xuyên qua dễ dàng. Vài loại khoáng chất,
    dưới áp suất và nhiệt độ cực cao lại biến thành kim cương, trong khi vài loại khoáng chất khác
    lại trở thành dá quý.
    Hầu hết các loài bò sát vẫn chưa biến đổi nhiều từ hàng triệu năm qua. Trong khi một số loài
    khác thì lại mọc cánh, có lông vũ và hóa thành chim, từ đó vượt lên khỏi lực hấp dẫn của trái
    đất đã từng níu chân chúng từ bấy lâu nay. Hóa thành chim chẳng phải để đi hay trườn mình
    trên mặt đất một cách thành thạo hơn, mà thực ra là để hoàn toàn vượt thoát khỏi chuyện phải
    đi hay trườn.
    Từ thời xa xưa, hoa, pha lê, dá quý và những loài chim chóc đã mang một ý nghĩa đặc biệt
    nào đó trong tâm thức của loài người. Cũng như tất cả các thể sống khác, chúng cũng chỉ là sự
    thể hiện có tính chất tạm thời của Nhất Thể7, của Tâm8 luôn tiềm ẩn ở phía sau. Chính những
    phẩm chất mong manh của hoa giải thích tại sao chúng mang một ý nghĩa đặc biệt và là lý do
    tại sao con người lại tìm thấy sự tương đồng và sức thu hút ở hoa.
    Khi ta có một mức độ Có Mặt, im lắng và sự chú tâm tỉnh táo ở bên trong thì ta mới có thể
    cảm nhận được bản chất siêu nhiên của sự sống, cái thần thái và linh hồn trong mỗi tạo vật,
    mỗi thể sống, và ta bỗng nhận ra rằng bản chất siêu nhiên trong mỗi tạo vật cũng đã chứa sẵn
    trong mỗi con người, khiến ta cảm thấy yêu quý tạo vật như yêu quý chính mình. Cho đến khi

    nhận thức được điều này, đang số chúng ta chỉ nhìn ra được những hình hài cạn cợt ở bên
    ngoài mà không thấy được bản chất thần thánh ở bên trong, cũng như ta không nhận thức
    được bản chất siêu nhiên của chính mình, nên ta thường tự đồng nhất mình với hình hài vật
    chất và những trạng thái tâm lý khổ đau của mình9.
    Đôi lúc, một người dù có rất ít hoặc không có khả năng Hiện Diện nào cả cũng có thể nhìn
    thấy ở một bông hoa, một hòn dá quý, một tinh thể pha lê hay ở một con chim một điều gì đó
    nằm đằng sau những hình hài vật chất ấy, dù anh ta không biết rằng đó chính là cái đã tạo nên
    sức hút và làm cho mình cảm thấy có mối liên hệ nào đó với những vật thể ấy. So với các thể
    sống khác thì một bông hoa có bản chất mong manh hơn và do đó hoa ít che khuất cái tinh túy
    ở bên trong của chính nó hơn là những sinh thể sống khác. (Ngoại trừ các sinh vật còn sơ sinh,
    như một em bé, con chó con, hoặc một con cừu non... vì chúng mong manh, dễ bị tổn thương vì
    chưa phát triển hết tính dông đặc của vật chất). Ở đó, ta vẫn còn thấy vẻ ngây thơ, cái đẹp và vẻ
    dịu dàng như không thuộc về thế giới này. Chúng làm mềm lòng ngay cả những con người vô
    cảm.
    Cho nên khi nào bạn đang tỉnh táo và nhìn ngắm một bông hoa, một tinh thể pha lê hay một
    con chim mà đầu óc bạn không bận rộn muốn gọi tên những vật ấy, thì những vật đó sẽ mở ra
    một cánh cửa dưa bạn vào cõi Vô Tướng. Có một sự khai mở ở bên trong, dù rất bé, để đưa bạn
    đi vào cõi tâm linh. Điều này giải thích tại sao ba vật thể đã “giác ngộ” này đóng một vai trò rất
    quan trọng trong quá trình phát triển tâm thức của con người từ thuở xa xưa; đó cũng là lý do
    tại sao dài sen là biểu tượng của Phật giáo, còn chim bồ câu trắng tượng trưng cho Đức Chúa
    Thánh Thần (Holy Spirit) trong dạo Cơ dốc. Chính ba vật quý này đã và đang tạo cơ sở cho một
    sự chuyển hướng sâu sắc trong tâm thức của hành tinh, sự chuyển hướng này nhất định sẽ xảy
    ra với tâm thức của loài người. Đây là quá trình tỉnh thức tâm linh mà chúng ta đang bắt đầu
    chứng kiến.
    MỤC ĐÍCH CỦA CUỐN SÁCH NÀY
    Nhân loại đã thật sự sẵn sàng cho một quá trình chuyển biến nhận thức, một quá trình nở
    hoa sâu sắc và triệt để của tâm thức đến độ, so với quá trình này thì việc cây cỏ nở hoa 114
    triệu năm trước đây, dầu cho đẹp đến mấy thì dấy cũng chỉ là một sự phản ánh nhạt nhòa? Liệu
    con người có thể từ bỏ tầng tầng lớp lớp những cách nghĩ bị bó buộc cũ và trở nên giống như
    những tinh thể pha lê trong suốt để ánh sáng nhận thức xuyên qua dễ dàng? Liệu con người có
    thể thoát ra khỏi trường hấp dẫn của chủ nghĩa vật chất, thoát ra khỏi tình trạng tự đồng nhất
    mình với hình tướng10?
    Khả năng chuyển hóa này cũng là thông điệp chính của những giáo lý sâu sắc để khai thị cho

    con người. Những người phát đi thông điệp này – như Đức Phật, Chúa Jesus và nhiều người
    khác – là những bông hoa đầu tiên của nhân loại. Họ là những vị thầy tiên phong, rất hiếm hoi
    và quý giá vô ngần. Tuy vậy, một sự chuyển hóa rộng khắp chưa thể xảy ra vào thời đó được,
    nên thông điệp của họ thường bị hiểu sai và bị bóp méo đi rất nhiều. Ngoại trừ ở một số ít
    người, tâm thức của con người thời ấy nói chung chưa được chuyển hóa nhiều.
    Bây giờ thì nhân loại đã sẵn sàng để chuyển hóa chưa? Tại sao lúc này mới thực là thời cơ?
    Bạn có thể làm gì để thúc dẩy quá trình chuyển hóa nội tại này? Đặc điểm của nhận thức cũ đầy
    tính bản ngã là gì và dâu là dấu hiệu của một tâm thức mới đang trỗi dậy? Những câu hỏi này
    và một số câu hỏi khác sẽ được đề cập đến trong cuốn sách này. Quan trọng hơn, cuốn sách
    cũng chính là một công cụ có tính chuyển hóa xuất phát từ một nhận thức mới đang trỗi dậy.
    Những ý tưởng và khái niệm ở đây tuy quan trọng, nhưng đó cũng chỉ là thứ yếu. Chúng như
    những tấm bảng chỉ dường giúp bạn đi đến trạng thái tỉnh thức. Trong lúc dọc cuốn sách này,
    một sự chuyển hóa sẽ xảy ra trong bạn.
    Mục đích chính của cuốn sách không phải là để cung cấp thêm thông tin hay những niềm tin
    mù quáng cho trí năng của bạn, hay cố thuyết phục bạn về một điều gì, mà nó mang đến cho
    bạn một sự chuyển hóa trong nhận thức, tức là thức tỉnh bạn ra khỏi những dòng suy nghĩ
    miên man ở trong đầu. Nếu được như vậy thì bạn sẽ không chỉ thấy cuốn sách là “thú vị”. Vì
    thú vị có nghĩa là bạn còn đứng ở bên ngoài, tìm vui với những ý nghĩ, và khái niệm ở trong đầu
    bạn để tư duy rằng mình đồng ý hay không nên đồng ý với cuốn sách. Vì cuốn sách này được
    viết cho bạn, do đó cuốn sách hoặc rất vô nghĩa đối với bạn, hoặc nó làm cho nhận thức của
    bạn có sự thay đổi lớn. Tuy nhiên cuốn sách này chỉ có thể thức tỉnh những người đã sẵn sàng
    để tỉnh thức. Mà không phải ai cũng sẵn sàng để tỉnh thức. Tuy nhiên, khi có một người vừa
    tỉnh thức thì biến cố này sẽ tạo nên một quán tính trong tâm thức của tập thể, giúp cho sự tỉnh
    thức xảy ra dễ dàng hơn ở những người khác. Nếu trong lúc này bạn chưa rõ tỉnh thức có nghĩa
    là gì, thì bạn cũng không cần bận tâm nhiều về nghĩa của từ ấy, hãy cứ tiếp tục dọc và khi nào
    trong bạn có sự tỉnh thức, thì bạn sẽ hiểu “tỉnh thức” có nghĩa là gì. Quá trình tỉnh thức một khi
    đã bắt đầu ở trong bạn rồi thì không thể dảo ngược lại; và để cho quá trình này được bắt đầu,
    bạn chỉ cần trải qua trạng thái tỉnh thức - dù chỉ trong một thoáng chốc. Đối với một số người
    thì một thoáng chốc của trạng thái tỉnh thức đó sẽ xảy đến khi họ dọc cuốn sách này. Còn đối
    với những người khác thì cuốn sách sẽ giúp cho họ nhận ra rằng quá trình tỉnh thức đã xảy ra ở
    trong họ rồi, nhưng bây giờ họ mới nhận ra. Ở một số người thì quá trình tỉnh thức chỉ xảy ra
    khi họ gặp phải những mất mát hay khổ đau lớn. Trong khi ở những người khác, là khi họ tiếp
    xúc với những bậc thầy hay những giáo lý về tâm linh, hay do dọc cuốn “Sức Mạnh của Hiện
    Tại” hay những cuốn sách có giá trị tâm linh sống động khác. Hoặc có thể là sự tổng hợp của tất

    cả những điều ấy. Tuy nhiên, một khi sự tỉnh thức đã bắt đầu ở trong bạn thì cuốn sách này sẽ
    giúp cho bạn dẩy nhanh và gia tăng cường độ tỉnh thức.
    Điều căn bản nhất của quá trình tỉnh thức là:
    Nhận ra sự mê mờ đang tồn tại ở trong bạn,
    Nhận điện bản ngã11 của bạn khi nó đang nói, đang nghĩ, đang làm một việc nào đó,
    Nhận ra thói quen suy tư đầy tính băng hoại trong tâm thức của tập thể đang thẩm thấu vào
    mọi khía cạnh của đời sống, kéo dài thêm tình trạng chưa thức tỉnh.
    Đó là lý do tôi viết cuốn sách này: để nêu lên những khía cạnh chính của bản ngã và cách bản
    ngã hoạt động trong bạn cũng như trong tâm thức tập thể. Điều này có ý nghĩa quan trọng, vì
    hai lý do chính. Trước hết, nếu bạn không nhận ra được những cơ cấu hoạt động của bản ngã,
    bạn sẽ không nhận điện được nó, và sẽ nhầm lẫn mà liên tục tự đồng nhất mình với bản ngã,
    tức là vô tình bạn để cho bản ngã chế ngự lấy bạn, mạo danh là bạn. Thứ hai, tự thân việc nhận
    điện bản ngã ở trong bạn chính là một trong những phương cách giúp cho sự tỉnh thức ở trong
    bạn được diễn ra. Khi bạn nhận ra sự mê lầm của mình, thì cái làm cho sự nhận biết ấy có thể
    diễn ra chính là thứ nhận thức mới đang trỗi dậy, đó cũng chính là tỉnh thức. Tuy nhiên, ta
    không nên có thái độ đấu tranh, hay kình chống với bản ngã cũng như ta không thể dấu tranh
    chống lại bóng tối, hay chống lại sự mê mờ.Điều mà ta cần làm là mang ánh sáng của nhận
    thức vào những nơi tối tăm này. Và bạn chính là ánh sáng đó.
    SỰ BĂNG HOẠI BẨM SINH Ở TRONG TA
    Nếu nghiên cứu kỹ về các tôn giáo và các trường phái tâm linh cổ xưa, ta thấy rằng dù cho
    bên ngoài có nhiều điểm khác biệt, nhưng hầu hết đều thống nhất ở hai điểm mấu chốt. Mỗi
    tôn giáo có cách dùng những ngôn từ tuy khác nhau nhưng tất thảy đều hướng đến một chân lý
    căn bản rằng trạng thái tâm lý “bình thường” ở hầu hết mọi người đều chứa dựng một yếu tố
    mạnh mẽ của một cái gì đó mà ta có thể gọi là sự tha hóa hay thậm chí có thể gọi là sự điên
    loạn. Một số điều răn dạy căn bản trong dạo Hindu ở Ấn Độ thậm chí đã xem sự băng hoại này
    là một dạng của căn bệnh tâm thần tập thể. Họ gọi đó là “Maya”, ảo tưởng, hoặc tấm màn của
    mê lầm, vô minh. Ramana Maharshi12, một trong những nhà hiền triết Ấn Độ vĩ đại nhất đã
    từng thẳng thắn tuyên bố: “Trầm luân là khi bạn cả tin vào một ý nghĩ”13.
    Phật giáo thì đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để nêu ra vấn đề này. Đức Phật cho là
    tâm trí con người thường tự tạo ra nỗi khổ đau bất hạnh triền miên mà Ngài gọi là dukkha
    (khổ dế). Ngài xem đó là tính chất đặc trưng trong thân phận của con người và cho rằng dù ở
    dâu hay làm gì, cuối cùng rồi ta cũng phải đối điện với khổ đau, vì sớm muộn gì rồi khổ đau

    cũng thể hiện ra trong mọi tình huống.
    Còn dạo Cơ dốc thì cho rằng trạng thái tâm lý bình thường của đang số con người là một
    trạng thái “tội lỗi nguyên thủy” – original sin. Tuy nhiên, trong kinh Tân Ước, viết bằng tiếng
    Hy Lạp cổ, chữ “sin” chỉ có nghĩa là “đi sai mục tiêu”, như một người bắn cung đã nhắm sai mục
    tiêu, nên “sin” có thể hiểu là “sai lầm” hay “không đi đúng con dường” của một kiếp người. Điều
    này có nghĩa là ta đã sống mù quáng, thiếu khôn ngoan, do đó phải gánh chịu khổ đau và gây
    khổ đau cho kẻ khác. Như vậy thì “sin” cũng hàm ý về sự tha hóa, vô minh cố hữu14 trong thân
    phận con người.
    Những thành tựu của loài người quả là rất lớn lao và không ai có thể chối cãi được. Chúng ta
    đã sáng tạo nên những tuyệt tác về âm nhạc, văn học, hội họa, kiến trúc và điêu khắc. Gần đây
    khoa học và kỹ thuật hiện đại đã mang lại những thay đổi tận gốc rễ cách chúng ta sinh hoạt,
    cho phép ta tạo ra những thứ mà cách đây chừng 200 năm hẳn người ta đã cho là những phép
    màu. Không sai, trí năng của con người rất thông minh. Tuy nhiên chính sự thông minh này đã
    bị ô nhiễm bởi sự điên loạn. Chính khoa học và kỹ thuật đã phóng đại thêm ảnh hưởng của khả
    năng hủy điệt – biểu hiện qua sự băng hoại trong cách suy nghĩ của con người trên hành tinh
    này – cho các thể sống và ngay cả cho chính con người. Điều đó giải thích tại sao thế kỷ 20 là
    lúc mà ta có thể nhận thấy rõ nhất sự tha hóa đó, như một sự mất trí có tính tập thể. Quả thực
    sự băng hoại này đang gia tăng tốc độ và cường độ.
    Chỉ cần xem tin tức hằng ngày trên truyền hình là ta có thể thấy cơn điên thật sự chưa lắng
    xuống và nó còn đang tiếp diễn ở thế kỷ 21. Một khía cạnh khác của sự tha hóa tập thể do cách
    suy nghĩ sai lầm của con người là ở chỗ nhân loại đã và đang tiếp tục gây ra những tàn phá chưa
    từng có đối với các sinh vật khác và trên chính hành tinh mà chúng ta đang sống. Những cánh
    rừng, nơi cung cấp dưỡng khí đang bị hủy hoại cùng các loài động thực vật ở đó; các loài thú bị
    giam hãm và sống khốn khổ trong các nông trại; sự ô nhiễm của sông ngòi, đại dương và bầu
    khí quyển. Do lòng tham, do không nhận thức được mối liên quan giữa mình với vũ trụ nên con
    người cứ đeo đuổi những hành vi, mà nếu không kiểm soát được, sẽ dẫn đến sự điệt vong của
    chính chúng ta.
    Phần lớn lịch sử loài người là lịch sử của sự điên cuồng, biểu hiện ngay trong tâm điểm của
    nó là thân phận con người. Nếu lịch sử loài người được biểu hiện qua bệnh sử của một cá nhân
    thì bệnh lý là: chứng mê lầm kinh niên, xu hướng bệnh hoạn dẫn đến chuyện giết người hay
    hành động một cách tàn bạo chống lại những gì họ cho là “kẻ thù” – do sự mê mờ của họ đã
    được phóng chiếu ra bên ngoài. Đó là một sự mất trí, xen vào đó chỉ vài giây ngắn ngủi là có sự
    tỉnh táo, sáng suốt.

    Nỗi sợ hãi, lòng tham và khát vọng quyền lực là động lực tâm lý nằm phía sau của không chỉ
    các cuộc chiến tranh và bạo lực giữa các nước, các bộ tộc, các tôn giáo, các ý thức hệ mà còn là
    nguyên nhân của những xung đột không ngừng trong các quan hệ cá nhân. Chúng tạo nên sự
    méo mó trong cách bạn nghĩ về người khác và về chính mình. Những động lực tâm lý đó làm
    cho bạn có khuynh hướng suy diễn sai lầm về mọi tình huống, dẫn đến những hành động rất
    sai lạc, cốt chỉ để giúp bạn thoát khỏi cảm giác sợ hãi thường trực và tiếp tay cho nhu yếu
    muốn tích lũy của cải ở trong bạn. Nhưng nhu yếu tích lũy của cải này là một cái hố không dáy
    mà bạn không bao giờ có thể lấp đầy hay thỏa mãn được.
    Điều quan trọng mà bạn cần nhận ra là nỗi sợ hãi thường trực, lòng tham lam và khát vọng
    tranh giành quyền lực ở trong bạn không phải là sự tha hóa mà chúng ta đang đề cập ở đây, vì
    những thứ này chỉ là hệ quả được tạo ra từ sự tha hóa – đó là sự mê mờ sâu đậm trong tâm
    thức mê lầm của tập thể, được tiềm ẩn trong cách nghĩ của mỗi con người15. Nhiều tôn giáo đã
    khuyên chúng ta nên từ bỏ lòng ham muốn và sợ hãi. Nhưng những lời khuyên ấy thường
    không mấy thành công vì chúng chưa dụng được đến gốc rễ của sự băng hoại. Nỗi sợ hãi, lòng
    tham và khát vọng tranh giành quyền lực chưa phải là nguyên nhân cơ bản gây ra vấn đề. Vì
    nếu không có sự chuyển hóa tận gốc trong chính tâm thức bạn về cách bạn nhìn dời sống16 thì
    những cố gắng như để trở thành một người tốt hơn chung quy cũng chỉ là một mong muốn bất
    thành, dù đây có vẻ như là một điều cao thượng, hay dáng làm. Dù bạn có trở thành một người
    tốt thì đây cũng chỉ là một phần của cùng một sự tha hóa, một trạng thái tự tôn rất tinh vi, vì
    lòng ham muốn có nhiều hơn chỉ để củng cố thêm cho cá nhân mình. Bạn chỉ có thể trở thành
    tốt hơn bằng cách nhận ra sự tinh khiết, những gì cao thượng đã có sẵn ở trong mình và làm
    cho những phẩm chất thánh thiện ấy được biểu lộ ra. Điều này chỉ xảy ra khi bạn có sự chuyển
    hóa cơ bản trong nhận thức của mình17.
    SỰ TRỖI DẬY CỦA NHẬN THỨC MỚI
    Hầu hết các tôn giáo và các trường phái duy linh cổ xưa đều cho rằng trong trạng thái “bình
    thường” trí năng của ta thường mang sẵn một sự mê mờ bẩm sinh. Tuy nhiên sự mê mờ ấy là
    cái mà ta có thể vượt qua, đó là khả năng chuyển hóa sâu sắc những mê mờ này trong tâm thức
    của con người. Ấn Độ giáo gọi đó là tỉnh thức, Chúa Jesus gọi là sự cứu rỗi, còn Phật giáo thì gọi
    là giải thoát.
    Thành tựu vĩ đại nhất của nhân loại không phải là các tác phẩm nghệ thuật hay các công
    trình khoa học hay công nghệ mà là nhận ra tính tha hóa, sự điên rồ trong chính bản thân mình.
    Một vài người đã nhận ra được điều này và Đức Thích Ca, sống ở Ấn Độ cách đây gần 2.600
    năm, có lẽ là người đầu tiên hoàn toàn nhận thức được điều này. Sau này người ta tôn ngài là

    Phật (Buddha). Buddha có nghĩa là Bậc tỉnh thức. Cùng thời gian đó, ở Trung Hoa có một bậc
    thầy giác ngộ khác là Lão Tử. Những lời giáo huấn thâm thúy và sâu sắc nhất của Ngài đã được
    ghi chép lại trong cuốn Đạo Đức Kinh.
    Dĩ nhiên nếu ta nhận ra sự mất trí trong ta thì đó cũng là khởi đầu của quá trình tỉnh thức,
    chữa lành và vượt thoát. Do đó trên hành tinh này đã khởi đầu cho một chiều nhận thức mới,
    một quá trình nở hoa trong tâm thức của nhân loại. Những vị thầy ấy đã dạy chúng ta về những
    lầm lạc, khổ đau và mê mờ. Họ chỉ ra hậu quả của cách sống vô minh, cách suy nghĩ và hành
    động lầm lạc của con người thời đó và những thống khổ họ đã tạo ra cho nhau. Những bậc thầy
    thời ấy cũng chỉ ra khả năng tỉnh thức từ cách sống lầm lạc cũ mà mọi người đều cho là rất
    “bình thường”. Họ đã vạch ra một con dường tâm linh để chúng ta có thể đi theo.
    Thế nhưng thế gian lúc đó chưa sẵn sàng để nghe những lời dạy đó và vào thời điểm đó, quá
    trình tỉnh thức cũng chỉ mới ở giai đoạn ban đầu. Kết quả là những người thời đó và ngay cả
    sau này thường hiểu họ một cách sai lạc. Sau bao nhiêu thế kỷ, càng có nhiều thứ được thêm
    vào để phản ảnh những suy diễn lệch lạc đó, mà những thứ này chẳng ăn nhập gì với những lời
    dạy lúc ban đầu. Những lời dạy – để chỉ cho ta một con dường thoát ra khỏi sự tha hóa của trí
    năng18, khỏi tính chất điên rồ của tập thể – đã bị xuyên tạc và trở thành một bộ phận của cơn
    mất trí.
    Vì thế tôn giáo phần nhiều có tính chất chia rẽ hơn là hòa hợp. Thay vì mang lại nhận thức về
    tính Nhất Thể căn bản của mọi loài, để chấm dứt bạo động và oán thù, thì họ lại gây thêm oán
    thù và bạo động, gây thêm chia rẽ giữa các dân tộc cũng như giữa các tôn giáo và ngay cả trong
    cùng một tôn giáo. Chúng trở thành các hệ tư tưởng, hệ dức tin để người ta đồng nhất với họ,
    hoặc dùng nó để củng cố cảm nhận sai lầm về bản ngã. Vì vậy người ta cho rằng mình luôn
    “đúng” và những người khác là “sai”. Con người đã sáng tạo ra hình ảnh của “Thượng Đế” qua
    trí óc tưởng tượng hạn hẹp của chính mình. Một biểu tượng không-thể-diễn-bày đã bị quy
    thành một vị thần linh mà ta phải tin và tôn thờ.
    Cho dù đã có biết bao nhiêu hành vi điên rồ nhân danh tôn giáo thì ở gốc rễ của những lời
    giảng này vẫn là ánh sáng của chân lý, đã chiếu qua tầng tầng lớp lớp những hiểu lầm và sự bóp
    méo. Để cảm nhận được nguồn ánh sáng này, ta phải chứng nghiệm được ánh sáng chân lý ấy
    trong chính mình. Và lịch sử lúc nào cũng có một số người đã chứng nghiệm được sự chuyển
    hóa trong nhận thức và nhận điện được trong mình những gì mà tất cả tôn giáo đều nói đến.
    Để mô tả cái chân lý không-thể- diễn-bày đó, họ đã dùng các khái niệm của chính tôn giáo
    mình. Qua các vị đó, các trường phái hay các trào lưu phát triển ngay trong chính nội bộ của
    các tôn giáo lớn và đây không những là một sự phục sinh, mà trong vài trường hợp, còn làm

    sáng tỏ hơn những chân lý trong các lời răn dạy cổ xưa. Hầu hết các trường phái này đều có
    tính chất phản kháng. Họ bác bỏ, dả phá tầng tầng lớp lớp những khái niệm chết cứng và các cơ
    chế đã củng cố những tư tưởng sai lạc, và vì vậy mà các hàng giáo phẩm đều nhìn họ với cặp
    mắt nghi ngờ và thù nghịch. Khác với các tôn giáo chính thống, những giáo lý của họ nhấn
    mạnh đến sự tỉnh thức và những chuyển hóa tự thân. Chính qua những trường phái hay trào
    lưu âm thầm này mà các tôn giáo lớn có thêm sức mạnh chuyển hóa, bắt nguồn từ những lời
    răn dạy cổ xưa, dù trong hầu hết các trường hợp, có rất ít người tiếp cận được những giáo lý
    chân chính này. Do đó, số lượng người tiếp thu chưa bao giờ đủ lớn để tạo nên một tác động có
    ý nghĩa lên sự mê mờ sâu đậm của tập thể. Trong khi đó, qua thời gian, một số trường phái đã
    không còn hữu ích nữa vì đã trở nên quá hình thức và đi theo những giáo điều quá cứng nhắc.
    TÂM LINH VÀ TÔN GIÁO
    Vậy thì vai trò của các tôn giáo chính thống trong việc hình thành ý thức mới là gì? Nhiều
    người đã nhận thức được sự khác biệt giữa tâm linh và tôn giáo. Họ đã nhận thấy rằng có được
    một hệ tín ngưỡng – tập hợp của những tư tưởng mà ta xem là tuyệt đối đúng – sẽ không làm
    cho bạn có nhiều chất tâm linh hơn người khác, dù đó là tín ngưỡng gì. Thật ra thì khi bạn càng
    khép mình vào một hệ tư tưởng, vào một tôn giáo thì bạn càng tách rời với chiều không gian
    tâm linh ở trong bạn. Chúng ta thường dễ bị vướng mắc vào cạm bẫy này khi cho rằng chân lý
    chỉ là suy tư, nhất là khi bạn hoàn toàn tự đồng nhất mình với những suy tư ở trong đầu mình,
    hoặc thích tuyên bố rằng “tôi đã nắm được chân lý” khi không ý thức được rằng mình chỉ đang
    bảo vệ cho một hình ảnh của cá nhân mình. Họ không nhận ra những giới hạn của suy tư19.
    Dưới con mắt họ thì nếu bạn không tin theo hoặc suy nghĩ giống hệt như họ thì phần sai đã
    nằm về phía bạn và trong quá khứ, cách đây không lâu, họ hẳn sẽ giết bạn mà chẳng thấy có gì
    sai trái cả. Ngay cả trong thời đại này, vẫn còn rất nhiều người suy nghĩ và hành xử như thế.
    Một chiều hướng tâm linh mới, tức là sự cải biến nhận thức, đang phát triển trên một quy mô
    rộng lớn, nằm ngoài cơ cấu của những tôn giáo đã được thể chế hóa hiện nay. Ngay trong các
    tôn giáo bị lý luận và suy tư chi phối thì vẫn có những nhóm thiên về tâm linh mặc dù hệ thống
    thứ bậc đã được thể chế hóa luôn cảm thấy bị đe dọa bởi những nhóm này và luôn tìm cách
    trấn áp. Như vậy, sự khai mở ra một chiều tâm linh có quy mô rộng lớn, thoát ra khỏi những cơ
    chế tôn giáo là một phát triển hoàn toàn mới. Điều này trước đây có thể là điều không tưởng
    tượng được, đặc biệt ở phương Tây, nơi trí năng chi phối nhiều nhất, nơi mà giáo hội Cơ dốc có
    uy quyền rất lớn đối với các trào lưu tâm linh. Ví dụ, bạn không thể tự dưng đứng lên nói
    chuyện về một đề tài tâm linh mà không có sự thỏa thuận trước với nhà thờ. Họ sẽ làm cho bạn
    im ngay. Còn giờ đây thì đã có những dấu hiệu thay đổi lớn ngay trong các nhà thờ và các tôn

    giáo. Đây là điều làm chúng ta rất ấm lòng và cảm thấy tri ân mặc dù đó mới chỉ là chút dấu
    hiệu cởi mở ban đầu.
    Phần thì do những giáo huấn phát sinh bên ngoài các tôn giáo hiện thời, phần thì do sự xâm
    nhập của những giáo huấn cổ từ phương Đông, ngày càng có nhiều tín dồ các tôn giáo truyền
    thống ở Tây phương cởi bỏ được thái độ tự đồng nhất mình với hình tướng, với những giáo
    điều và những hệ tín ngưỡng khắt khe và khám phá ra được chiều sâu nguyên thủy trong chính
    truyền thống tâm linh của họ cũng như trong chính họ. Họ nhận ra rằng sự “giác ngộ về tâm
    linh” của họ chẳng liên quan gì đến những điều họ cần phải tin mà liên quan lớn đến cách sống
    của họ. Ngược lại, mức độ chín chắn về tâm linh của bạn sẽ hướng dẫn cách bạn hành xử và
    giao tiếp với người khác.
    Những ai không thể vượt qua những hình thức bên ngoài của truyền thống tâm linh của
    mình thì họ ngày càng lún sâu vào các tín điều, tức là lún sâu vào thói quen suy tư. Giờ đây
    chúng ta đang chứng kiến không những một sự thâm nhập chưa từng thấy của một tâm thức
    mới mà còn là sự cố thủ và chống trả của bản ngã, tức là thứ tâm thức cũ ở trong ta. Một số tôn
    giáo sẽ mở rộng cửa để chào đón nhận thức mới này, một số khác thì sẽ khép kín để củng cố
    thêm vị thế suy tư của mình20 và trở thành một bộ phận của những cơ cấu chống đối còn sót lại,
    qua đó bản ngã có tính tập thể sẽ tự bảo vệ cho nó, chống lại những gì có vẻ đe dọa cho bản ngã
    của tập thể ấy. Có những giáo phái tín ngưỡng về căn bản chỉ là những thực thể đầy tính chấp
    ngã, tự đồng nhất mình một cách cứng nhắc với những vị thế, quan điểm trong cách suy tư của
    họ, không cho phép những cách suy nghĩ mới đi vào.
    Nhưng trước sau gì thì bản ngã cũ ở trong ta rồi cùng sẽ tự phân rã và tất cả những cơ chế đã
    được thiết lập vững chắc, cho dù đó là các cơ chế tôn giáo, tổ chức… cũng sẽ tự phân rã từ bên
    trong, dù hiện tại những nền móng ấy có vững chắc đến dâu.
    SỰ CẤP BÁCH CỦA VIỆC CHUYỂN HÓA TÂM THỨC
    Khi gặp sự khủng hoảng đến tận gốc, khi những lề thói xưa cũ trong cách giao tiếp với nhau
    và với thiên nhiên không còn tác dụng, khi mà sự tồn vo...
     
    Gửi ý kiến